Trang chính » Chuyên Đề, , Ngày 30 tháng Tư, Project Diaspora, Sáng Tác Email bài này

Giáng Sinh Hè Quý Sửu

 

LTS: Trước đây bài viết có tựa là “Giáng Sinh 1973,” chính ra là bản dịch của tác giả từ nguyên bản Anh ngữ “Christmas Vacation in July,” xuất hiện lần đầu trên Da Màu ngày 25-12-2007, nhưng sau đó vô tình bị xóa khỏi kho lưu trữ khi khối bài vở được chuyển qua giao diện (template) hiện nay. Một bản khác, cô đọng hơn, với tựa “Về Một Năm Sửu, 1973,” xuất hiện trên Số Xuân Việt Báo Tháng Giêng 2009. Bản Việt ngữ dưới đây vừa được tác giả tu sửa, thêm các chi tiết, hình ảnh mới, và đặt lại tựa.

 

auChalet-Dalat Jul. 1973

Tấm ảnh đã ngả màu: 5 đứa bé mặc quần áo tươm tất đứng trước chalet gỗ trong một vườn thông Đà Lạt. Lật ra phía sau, có chữ viết của mẹ tôi: Jul. 1973.

Đó là mùa hè tôi lên 11 tuổi, hai tháng sau khi đỗ ưu hạng vào Trưng Vương. Lúc đó bố tôi vẫn còn trong thời gian đi trốn mật vụ vì những bài bố viết trên báo. Mẹ dẵn tôi đi thăm bố, nói bố sẽ mừng nếu biết tôi thi đỗ. Nhờ có sự trợ giúp ngấm ngầm của một Mạnh Thường Quân được chế độ tin cậy, bố tôi lúc đó sống ẩn dật … công khai (và tiếp tục viết báo) trong khách sạn Catinat, ở một căn lầu bên trên phòng trà Đêm Màu Hồng. Khi được tôi báo tin, bố xoa đầu hỏi tôi, “Thế con muốn bố mẹ thưởng con cái gì nào?”

Hotel Catinat - Phòng trà Đêm Màu Hồng
Hotel Catinat/Phòng trà Đêm Màu Hồng,
36 Nguyễn Huệ và 69 Tự Do (1972)

Thật sự tôi không muốn gì cả, ngoài chuyện muốn gia đình trở lại nếp sống cũ, trước những tháng ngày bố tôi phải đi trốn. Mẹ tôi, ngay cả mãi về sau, khi chúng tôi đã lớn khôn, nghĩ rằng bà đã cáng đáng thành công trong quãng thời gian bố tôi vắng mặt—vì trong quãng thời gian này chúng tôi không hề bị thiếu thốn điều gì trong cuộc sống hàng ngày. Chúng tôi vẫn đi học, vẫn được ăn mặc sạch sẽ, theo sát thời trang thập niên 70 (mẹ tôi vẫn sắm quần áo cho chúng tôi ở boutique Au printemps trên đường Gia Long, hay Lily trên đường Lê Thánh Tôn gần tòa Đô Chính), nhà chúng tôi vẫn có người giúp việc, mẹ tôi vẫn lái xe đi dạy học vào buổi chiều. Nhưng là đứa con đầu, tôi thấy cuộc sống đã từ từ rạn nứt. Để tránh chuyện hàng xóm soi mói, mẹ tôi giúp tôi dựng một huyền thoại về bố, “Hễ ai hỏi, con cứ nói bố đi công tác ở Cao Miên, cũng phải vài tháng mới về.”

Tôi không hiểu khi người ta “đi công tác” thì người ta sẽ làm gì. Trong những phim ngoại quốc tôi đã được xem vào thời bấy giờ ở Sàigòn, những người đàn ông “đi công tác” là những gián điệp mặc áo trench, đeo kính râm và xách cặp táp, thường có những sứ mệnh bí hiểm. Trong mọi trường hợp, họ dùng cặp táp để chứa bom hoặc những tài liệu tối mật. Trong khoảng thời gian này tôi cũng hay nghe người lớn nói chữ “làm áp phe.” Trong trí óc tôi hồi đó, “đi công tác” và “làm áp phe” hình như có liên hệ với nhau, nhưng chữ “làm áp phe” thường ám chỉ đàn bà nhiều hơn đàn ông, như lời mấy bà hàng xóm nói về bà Tư sau nhà, “con mụ đó nó làm áp phe giỏi thật, kiếm được bộn tiền buôn đồ Mỹ lậu.”

Tôi cũng chỉ có một ý niệm rất mù mờ về Cao Miên. Cao Miên, hay thậm chí những địa danh của Việt Nam như Hà nội, Huế, Nha Trang, Đà nẵng, là những địa danh rất trừu tượng đối với tôi lúc đó. Sinh ra và lớn lên ở Sàigòn trong thời chiến, mỗi mùa hè, cùng với gia đình, tôi chỉ được đi nghỉ hè ở Vũng Tàu. Có một năm, lúc bố chưa phải đi trốn, xe lái qua Long Thành thì bỗng dưng cả nhà, từ người lớn đến mấy đứa bé, bị ho lên sặc sụa gần như ngộp thở, nước mũi nước mắt chảy ra ràn rụa. Bố tôi điềm đạm nói, “Thôi rồi, phải đi nhanh ra khỏi chỗ này. Đứa nào nó vừa thả trái lựu đạn cay, chắc lại vừa đụng độ gì đây.” Bố tôi quay kính xe, tăng tốc độ, chuyển hướng xe, từ con đường đất đỏ vòng ra đuờng cái. Mãi một lúc sau tụi trẻ chúng tôi mới hoàn hồn, nhưng trong xe về sau không ai nhắc lại chuyện bị trúng lựu đạn cay. Như mọi âm thanh làm rung chuyển nhà cửa mà tôi thường nghe thấy trong đêm (và phản ứng bằng cách tự lăn mình xuống gầm giường), như hầm trú cát, như hàng rào kẽm gai giăng xung quanh cổng nhà, lựu đạn cay cũng chỉ là một phần của đời sống trong thời chiến.

Ngay những lúc bố tôi có ở nhà, ông đã có một cuộc đời riêng rẽ ra khỏi cuộc đời của chúng tôi. Bố tôi là người thức khuya hơn hết mọi người trong nhà, và nhiều lúc ngả mình vào giấc ngủ tai tôi còn văng vẳng nghe tiếng lạch cạch từ máy chữ Olivetti của bố tôi ở phòng bên cạnh. Một đêm, tôi giật mình thức dậy vì nghe tiếng người lớn—bố mẹ tôi—đang cố giải quyết một điều gì—cuộc đối thoại có phần sôi nổi trong đêm, át đi âm thanh o o thông thường của những con ve mùa hè. Mẹ tôi nói:

-Em không hiểu những nhà văn, nhà báo, nghề nghiệp như vậy, làm người thân dính líu…. Em nghĩ tốt nhất những người viết đừng có gia đình thì hơn.

Tôi không nhớ bố tôi đã nói gì với mẹ lúc đó. Mấy chục năm sau, bố tôi có một lúc nói rằng không có nghề nào làm ông cảm thấy được thực sự sống như nghề làm báo trong thập niên 60-70 ở Sàigòn, “mỗi ngày là mỗi một biến chuyển khác, không ngày nào giống ngày nào, và khi bố thức dậy, bố không biết cuối ngày sẽ xảy ra như thế nào.” Bố tôi cũng nói là nếu đuợc tạo dựng lại quá khứ, “bố cũng sẽ không thay đổi một chuyện gì.”

Bố mẹ tôi định nghĩa hiện thực bằng hai cái nhìn khác biệt. Mẹ đáp lại những bấp bênh của đời sống bằng cách gây dựng trật tự triệt để trong đời sống hàng ngày của chúng tôi. Bố tôi, ngược lại, có lẽ đã coi hỗn loạn như một phần của nghề nghiệp và của đời sống cá nhân. Có lẽ ông thực tế hơn mẹ tôi, hay nói một cách khác, ông có một cái nhìn “Thiền” hơn mẹ tôi. Ngay cuộc sống của gia đình chúng tôi, bắt đầu từ thập niên 70, với sự vắng mặt của bố tôi, với những biến chuyển thời thế, đã mang nhiều màu sắc siêu thực. Ở đại học, tôi viết một truyện ngắn về những tông đồ bỏ vợ con, nhà cửa, vườn nho, nghề đánh cá, để đi theo Chúa, rồi gặp khổ nạn, thậm chí còn bị tử vì đạo, trong việc truyền bá lời Chúa đến tứ xứ. Bây giờ nghĩ lại, tôi ngờ ngợ mình đã lãng mạn hóa về bố, về những con người đã trót yêu những chuyện hão huyền, về những con người vật vờ mãi mãi ở giữa hai ranh giới ảo thực, về những con người lưu vong, như câu thơ của Jacques Prévert về Hamlet, “thường hiện hữu ở những nơi mà họ không hẳn hiện hữu” (être ne pas être.)

Sau ngày thăm bố ở khách sạn Catinat, mẹ tôi nói hè năm đó thay vì đi Vũng Tàu gia đình chúng tôi sẽ đi Đà Lạt nghỉ mát. Mẹ nói chuyến đi chơi này cũng là phần thưởng bố mẹ tôi mừng tôi thi đậu vào Đệ Thất.

Ký ức tôi về chuyến nghỉ hè Đà Lạt năm 1973, không hiểu tại sao, trong nhiều năm sau, biến chuyến đi chơi nghỉ hè này thành một kỷ niệm Giáng Sinh. Có lẽ vì khí hậu mát lạnh của Đà Lạt của mùa hè năm đó, có lẽ vì trong những hình chụp chúng tôi mặc những áo có màu đỏ của Giáng Sinh, có lẽ vì những bữa cơm ngon có sắc thái mùa lạnh, như canh cải cúc nấu với giò sống, thịt đông nấu với nấm hương, dưa cải chua, gà nấu rượu vang, và những trái lê ngọt, những quả dâu màu hồng hồng, những trái mận màu xanh ngọc, rừng thông xanh, những quả thông màu nâu thẫm rơi la liệt trong vườn thông, những thác nước, những thung lũng đượm màu vàng của buổi chiều mà lần đầu trong đời tôi được nhìn thấy, đã biến mùa hè 73 của tôi thành mùa đông. Nói cách khác, Mùa hè 73 ở Đà lạt trở thành mùa đông vì nó không giống như mùa hè nào khác trong đời tôi trước đó. Lần đầu tiên trong đời chị em tôi được du lịch khoảng 300 kí-lô mét ra khỏi Sàigòn về phía Bắc. Khái niệm “mùa đông” đối với tôi lúc đó là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ, đối nghịch với khung hiện thực mà tôi đã quen thuộc.

Đó cũng là chuyến du hành cuối cùng của gia đình tôi ở Việt Nam.

Trong ảnh chụp, theo sự “đạo diễn” của mẹ, chúng tôi mặc quần áo đẹp, đứng nghiêm chỉnh trước chalet. Tấm hình đượm hơi hướm Âu Châu. Đây là tang chứng của dĩ vãng thơ mộng. Nhưng một tấm ảnh, như ký ức không chính xác, cũng chỉ biểu lộ một phần sự thật.

Vài tiếng đồng hồ trước khi bố tôi bấm máy chụp ảnh, chúng tôi đã thức dậy trong căn chalet, cáu kỉnh và ngứa điên người vì bị bọ rận trong chăn quấy nhiễu. Căn chalet mang vẻ thần tiên của một con thú bờm xờm và hiền hòa, thật ra là biểu tượng của ác mộng: lâu ngày không có người săn sóc và chắc ít được ai thuê mướn nên đầy mạng nhện ở những khung cửa, bên trong thì tối tăm, ẩm thấp, giường chiếu lâu ngày không được giặt giũ, có mùi chua chua ngây ngấy và lúc nhúc đầy chấy bọ mà mắt thường không nhìn thấy. Khốn nỗi, bị bọ cắn nhưng chúng tôi cũng không dám đi tắm cho hết ngứa vì đường điện trong nhà không hiểu sao đã nhập vào đường nước, mỗi lần tắm rửa, hay ngay cả những lúc dùng toilet, thì luôn bị điện giật. Bố tôi khuyên mấy chị em tôi:

-Thôi, tụi con chạy ra ngoài vườn đi, sáng còn lạnh, không khí lạnh sẽ làm cho hết ngứa.

Bố tôi không hề than phiền với chủ nhà, hay đề nghị dọn qua chỗ ở khác tiện nghi, sạch sẽ hơn, mà chỉ có một lời khuyên giản dị, “Ra ngoài vườn, sẽ hết ngứa.” Không còn cách nào khác, chúng tôi cũng theo bố ra vườn. (Về sau, khi đã lớn, tôi mới nhận ra điều bố không phàn nàn với chủ nhà là … khả nghi. Mẹ lầm bầm, “Phàn nàn kêu la với ai bây giờ, “nó” mà biết ra tông tích thì dễ gì “nó” để mình ung dung!”)

Có lẽ cái hay của tuổi thơ là tinh thần cởi mở, bình dị. Chạy tung tăng trong vườn thông, một lúc sau chúng tôi hết ngứa. Vào nhà, chúng tôi diện quần áo, rồi lại ra vườn để bố chụp ảnh kỷ niệm (với mẹ đứng đạo diễn sau lưng bố).

xxx

Sau gần 50 năm ở Hoa Kỳ, chị em chúng tôi nhiều người đã có gia đình riêng, và cũng không còn sống gần bố mẹ tôi. Những năm gần đây chúng tôi thường bàn về một chuyến đi chơi lý tưởng với “đại gia đình” vào dịp cuối năm. Như thường lệ, những đề nghị vô cùng thơ mộng được đưa ra, nhưng cuối cùng thì mọi người lại quay về Virginia để sum họp với bố mẹ tôi. Mỗi người trong chúng tôi, trong cách hình dung một chuyến nghỉ hè lý tưởng với người thân, chưa thể đồng tâm về một địa danh nghỉ mát nào vì khái niệm của mỗi chúng tôi về một quá khứ đẹp, cũng như về một chuyến du hành đáng ghi nhớ trong đời, thường có nhiều dị biệt.

The-Hotel-Eden-Cornell-Joseph-c.-1945
Joseph Cornell, Không đề (Hotel Eden), 1945

Tôi nghĩ đến những “hộp ký ức” (memory box) của họa sĩ Hoa Kỳ Joseph Cornell. Cornell không lập gia đình, suốt đời sống bên cạnh bà mẹ trong một căn nhà nhỏ trên con đường Không Tưởng (Utopian Parkway) ở Nữu Ước. Ông tái chế những vật dụng trong đời sống, đồ chơi phế thải, ghép dựng với những hình chụp, rồi trưng bày trong nhiều hộp nhỏ, có nắp kính để nhìn vào. Những cái hộp của Cornell như những thế giới vi mô, nó thu gọn, gần như áp chế hiện thực, và đồng thời biến đổi những tang vật của hiện thực thành ẩn dụ cho những giấc mơ, những thèm muốn thầm kín. Tôi nghĩ ký ức con người, và cách mỗi cá nhân định nghĩa “hiện thực” của riêng mình cũng tương tự như những cái hộp của Cornell.

Mùa hè Quý Sửu 1973 mà tôi đã nhớ lầm thành mùa Đông – cũng là lần đầu tiên trong đời tôi nhận diện được sự mơ hồ của hiện thực. Tôi không nghĩ chuyến đi Đà Lạt năm tôi 11 tuổi là một chuyến du hành lý tưởng của gia đình, nhưng nó là điềm báo trước và cũng thay đổi tôi mãi mãi về sau—thế giới hạn hẹp của tôi, căn nhà đường Cao Đạt gần Chợ Lớn, không khí oi bức của thành phố Sàigòn, cảm giác hồi hộp thường xuyên về đời sống, bỗng dưng như được giải tỏa trong chuyến du hành này: tôi nhận thức được một quãng trời, khí hậu, và hoàn cảnh khác—không hẳn là hoàn hảo—nhưng cũng có những nét diễm ảo khó quên. Tôi lờ mờ hiểu đây là “nhân sinh quan” của tôi về những chuyến du hành về sau trong đời—những chuyến du hành ngẫu nhiên như bị ép buộc phải biến hóa và tái tạo. Cảnh ngộ tha hương, nếu không hẳn là một tai nạn, thì cũng bắt nguồn từ một chuyến du hành bất đắc dĩ—tính chất bất đắc dĩ tự nó mang nhiều may mắn và ngậm ngùi. Tôi nghĩ đến bài thơ “Hành trình của Ba Vua” (“Journey of the Magi) của T.S. Eliot:

Tất cả đã xưa rồi, tôi còn nhớ,
Tôi vẫn sẽ lên đường, nếu được gọi, nhưng sẽ ghi nhớ
Ghi nhớ
điều khó hiểu: chúng tôi được dẫn dắt suốt chặng đường để nhìn
thấy Sự Sống hay Cái Chết? Chúng tôi đã thấy Sự Sống, chắc chắn rồi,
Chúng tôi có đủ tang chứng và không nghi ngờ. Tôi đã thấy Sự Sống và Cái Chết,
Nhưng tưởng chúng đối nghịch: Sự Sống này
Khắc nghiệt và cay đắng cho chúng tôi, như Cái Chết, cái chết của chúng tôi.
Trở về quê quán, giang sơn này,
Chẳng còn gì thơ thới trong đời sống hàng ngày,
với bọn người xa lạ ôm khư những tượng thần
Tôi mong được cái chết thứ hai.
[1]

Tôi nghĩ đến bài thơ Ba Vua của T. S. Eliot trong khoảnh khắc trước khi đứa con gái đầu lòng ra đời. Nỗi kinh hoàng và cơn đau tưởng như xé ruột là ký ức sống động nhất về ngày sinh của con bé, nhưng tôi nào nghĩ tới sự đau đớn hay hiểm nghèo trong những ngày tháng êm đềm trước khi con bé chào đời. Thay vào đó, niềm hy vọng vô bờ đã giúp tôi bước tới tương lai, tới bậc thềm của hứa hẹn. Bố mẹ tôi đã nghĩ gì khi tổ chức chuyến đi Đà Lạt vào mùa hè năm 1973? Tôi nghĩ lúc đó cả gia đình tôi đã hy vọng. Hy vọng làm khuây khỏa nỗi sợ của tôi về tuổi thơ sắp kết thúc, hy vọng lấn át mọi lo lắng về sự an toàn của bố tôi, hy vọng đè nén những u uất của mẹ tôi. Chúng tôi đã dám hy vọng rằng một chuyến đi sẽ thay đổi mọi hiện thực.


Đinh Từ Bích Thúy
Oakton, Virginia
Dec. 2007- May 2024

 


[1] T.S, Eliot, “Journey of the Magi,” từ The Complete Poems and Plays 1909-1950 (Harcourt, Brace & World: New York, 1971). Đinh Từ Bích Thúy dịch trích đoạn trong bài từ nguyên bản Anh ngữ:

All this was a long time ago, I remember,
And I would do it again, but set down
This set down
This: were we led all that way for
Birth or Death? There was a Birth, certainly,
We had evidence and no doubt, I had seen birth and death,
But has thought they were different; this Birth was
Hard and bitter agony for us, like Death, our death.
We returned to our places, these Kingdoms,
But no longer at ease here, in the old dispensation
With an alien people clutching their gods.
I should be glad of another death.

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)