Trang chính » Phê Bình, Quan Điểm, Tham luận, Thơ Email bài này

Thi Ca Như Cơm Ăn, Bánh Mì: Một Phản Biện về Bàn Tròn Thi Ca

 

BREAD POETRY

 

Tôi tin rằng thế gian tuyệt đẹp, và thi ca, như bánh mì, được tạo ra cho mọi người.”
– Roque Dalton (Roque Antonio Garcia), nhà thơ El Salvador (1935-1975)

 

Tôi nghĩ thi ca, như dịch thuật, trên hết là một nghệ thuật thực hành, vì cả hai đều chú trọng đến khía cạnh ngôn ngữ, thay vì dựa trên lý thuyết. Những thảo luận về lý thuyết, trường phái thi ca, như những thảo luận về lý thuyết liên hệ đến dịch thuật, đọc rất chán và nói cho cùng là một thảo luận đầy tính cách elitist và hàn lâm, không khác gì “thảm trạng thi ca” mà nhà văn Trần Vũ đã cảnh giác trên Bàn Tròn.

Tôi không biết nhiều về tình trạng thi ca ở Âu châu nhưng về tình trạng thi ca Hoa kỳ (hoặc Anh ngữ) thì tôi tuyệt đối không bi quan. Như kịch nghệ, thơ Hoa kỳ là một môi trường vô cùng phong phú, nhiều sáng tạo, thử nghiệm, quan điểm, có khả năng gây nhiều tác động và ảnh hưởng, nếu độc giả đọc và hiểu Anh ngữ, vì kinh nghiệm đọc thơ trực tiếp trong Anh ngữ giúp nhiều về khía cạnh sáng tác. Thơ Hoa kỳ dịch sang Việt ngữ có thể tạo được phần nào mô hình cho thực hành, nhưng khả năng của dịch giả và/hoặc phẩm chất của bản dịch chưa được bảo đảm, vì trong chúng ta chưa có đủ những dịch giả với kiến thức ngôn ngữ và văn chương bình đẳng ở cả hai ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ chuyển tải.

Dù sao, những nỗ lực dịch thuật thơ Mỹ sang tiếng Việt, hoặc giới thiệu thơ Việt sang tiếng Anh—như cách Hải Đăng Phan dịch hai bài thơ của Nguyễn Quốc Chánh (“ở đâu tao không biết, nhưng ở đây phải khác,” và “Dân tộc đương thời”); Kaitlin Rees dịch bài thơ xuôi “Con tàu” của Nhã Thuyên; Kelly Morse và Nga Hiền Nguyễn dịch hai bài thơ của Lý Đợi (“Hãy đọc kĩ hướng dẫn sử dụng trước khi làm nhà thơ” và “Bọn mày tưởng tao là ai”?) cũng đã tác động những trao đổi và nhận thức quý báu, thiết thực hơn những thảo luận sa-lông về trường phái, phong trào này nọ. Thảo luận đại cương về khuynh hướng, kỹ thuật, v.v. buộc thi ca phải lệ thuộc vào bối cảnh thời đại, ảo giác về sự đột phá của hình thức, nhưng không giúp một nhà thơ làm thơ hay hơn, tình cảm hơn, cũng không ảnh hưởng đến cách đọc, dịch, cảm nhận thơ của quần chúng. Tóm lại, thảo luận về khuynh hướng, trường phái, kỹ thuật, vẫn chưa hẳn là một thảo luận liên hệ trực tiếp đến khía cạnh thực hành, hay phê bình–là hồn của văn chương, tác phẩm–mà vẫn chỉ là một hành trình xem thắng cảnh ngồi xe buýt của tourists.

Hiện nay, thơ thiên nhiên của Mary Oliver, thơ sonnet, thơ vần, theo cấu trúc cổ điển nhưng với nội dung hiện đại của Hannah Sullivan, Arthur Sze, John Ashbery, Elizabeth Bishop, và Dylan Thomas, thơ “chơi chữ” của Victoria Chang, Hoa Nguyen và Jane Miller, thơ “viết lại” lịch sử điện ảnh Hoa kỳ về vai trò phụ nữ Mỹ gốc Á Châu của Sally Wen Mao, thơ tự sự về tâm trạng của người tị nạn đồng tính và lai Mỹ của Ocean Vuong, thơ mô tả những hà khắc li ti và âm ỷ (microaggressions) mà chế độ phụ hệ vẫn gây ra của Sharon Olds, thơ ghi lại những hậu quả xuyên thế hệ của sự lưu vong, kỳ thị giới tính, chủng tộc, và những bạo động lịch sử của Diane Khoi Nguyen, Natasha Trethewey, Ntozake Shange, và Li-Young Li, thơ mong đợi một viễn ảnh mới cho Châu Mỹ của Elizabeth Alexander, Juan Felipe Herrera, Tracy K. Smith và Richard Blanco—đây là những bài thơ được đọc, phân tích, thảo luận, mô phỏng, trong rất nhiều lớp học về văn chương Hoa kỳ ở trình độ trung học, đại học, trong những khoá dạy viết văn, làm thơ, trên những blogs về thi ca và văn chương của những “fans” tài tử, trong những đối thoại hàng ngày mà tôi có dịp trao đổi với barista ở quán cà phê, nhân viên thư viện, tiệm sách, trạm metro, trên xe buýt. Những đối thoại về cách sáng tác thơ, dịch thơ, những dị biệt trong ngôn ngữ, văn hóa, giữa Anh ngữ và những ngôn ngữ khác–mà tôi đã tham dự hoặc chứng kiến—phản ảnh đời sống đa diện ở vùng Bắc Mỹ. Khi tôi nói chuyện về thơ với ai đó, chúng tôi thường bàn về những tình cảm hoặc ký ức mà một bài thơ tác động, như “năm cách chỉ đường đến nhà tôi” (Five Directions to My House”) của Juan Felipe Herrera, hoặc nghi thức “trở thành đàn ông” (“Rite of Passage”) rất thản nhiên và kinh khủng mà Sharon Olds kể lại, khi nghe thấy thằng con bảy tuổi của bà nói với các bạn cùng lớp trong bữa tiệc sinh nhật là giờ chúng nó đã đủ lớn để “dễ dàng giết một đứa bé hai tuổi”!

Thi ca chỉ bị khai tử khi nó bị đối xử như lý thuyết, trường phái, cơ chế, máy móc, như cách trưng diện lả lướt quanh đường phố chỉ để loè người khác, hoặc chỉ là một hình thức sâu xa dỏm (fake deep) như cách “nghệ sĩ” Banksy vẽ tường với thông điệp du kích làm ra vẻ có tính cách chính trị nhưng thật ra hời hợt, ấu trĩ, sau ấn tượng ban đầu.

Thơ đúng nghĩa luôn luôn sống động, như cơm ăn, bánh mì, hơi thở, hộ chiếu hữu cơ của tình cảm và tư tưởng. Hãy thảo luận về thơ như ta kể chuyện về một cá nhân, một người bạn thân, thay vì một tổng thể, hay hình ảnh lập lòe nhưng vô cảm của Time Square ngoài cửa sổ xe buýt.

Trân trọng,

Đinh Từ Bích Thúy

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Hãy thảo luận về thơ như ta kể chuyện về một cá nhân, một người bạn thân, thay vì một tổng thể … (ĐTBT)

    Nhận định rất hay. Ngẫu nhiên tôi cũng có quan niệm tương tự như vậy về thơ. Tôi yêu thơ, nhạc chứ làm thơ thì tài tử.

    Vậy, thơ có thể dùng để tổng kết hoặc phản … biện được không ? Tôi thấy hiện nay có nhiều người VN hay làm như vậy. Tổng kết và phản biện cái gì đó bằng thơ.

    Chắc có lẽ cũng được thôi. Thơ bất quá cũng là hình thức “ghi lại” bằng ngôn từ. Làm thơ có người là lính có người là dân bụi đời có người là dân tị nạn, có người là phụ nữ tranh đấu v.v… vậy thì tại sao không có thể đúc kết về lính, về bụi đời về người tị nạn, về phong trào tranh đấu không được chứ (?)

    Riêng tôi, tôi lại e là không nên. Có lần tôi đã nêu ý kiến ở một nơi khác, là: nếu dùng thơ để “phản biện” (theo nghĩa lý luận để phản bác) nó sẽ chẳng được gì bao nhiêu. Muốn phản biện thì nên viết hình thức khác rõ ràng chi li đầy đủ hơn. Là công nương thì không nên hạ mình vào chợ chỉ để mua chai nước mắm.

    Even with insects
    some can sing
    some can’t
    (Hài cú Kobayashi Issa, bản tiếng Anh)

    Đêm buông tấm lưới diệu huyền
    Dạ hoan tấu khúc reo vang
    Có những côn trùng không hát

    Nếu nhà photographer chụp lại ảnh con đóm firefly trong đêm với đường nét và màu sắc trác tuyệt, thì nhà thơ chỉ “ghi lại” mối tâm tình cảm xúc. Nó dường như muốn nói cái gì đó khác với hình ảnh, màu sắc và âm thanh của nhà photographer.

    https://www.nwf.org/Home/Magazines/National-Wildlife/2017/June-July/Conservation/Firefly-Decline

  • Nguyễn Viện viết:

    Cám ơn chị Đinh Từ Bích Thúy, một phản biện thật hay, nó có ích và gợi cảm hứng với tôi nhiều hơn.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)