Trang chính » Biên Khảo, Điện Ảnh, Giới thiệu nghệ sĩ, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định Email bài này

Hai Ta Ngoài Thế Gian[1]: Điểm Phim Chiến Tranh Lạnh của Pawel Pawlikowski

Cold War Polish cover

Phim Chiến Tranh Lạnh (Cold War) của đạo diễn Ba Lan Pawel Pawlikowski, do Amazon Studios phổ biến,[2] diễn tả súc tích những bất khả trong cuộc tình sóng gió giữa nhạc sĩ Wictor (Tomasz Kot) và nghệ sĩ Zula (Joanna Kulig) qua khía cạnh chính trị, xã hội và giới tính. Cuộc tình xuyên biên giới của cặp tình nhân kéo dài 15 năm, từ 1949 cho đến năm 1964, với những chia ly và hội ngộ xảy ra trong nội địa Ba Lan cũng như những quốc gia như Pháp, Đức, và Yugoslavia.

Wictor in Cold War
Wictor (Tomasz Kot)

Tuy chủ nghĩa Cộng sản là bối cảnh lịch sử của phim, sự bất bình đẳng hiện hữu trong những liên hệ xã hội và quyền lực, không kể ở Ba Lan hay một quốc gia tự do như Pháp, là nguyên nhân mà Wictor và Zula không thể nào hạnh phúc. Khi phim bắt đầu vào cuối thập niên 40 sau Đệ Nhị Thế Chiến, Wictor và nữ cán bộ đồng nghiệp Irena (Agata Kulesza) du hành đến những làng xã hẻo lánh để nghiên cứu và thu thập truyền thống âm nhạc và các điệu vũ dân gian của Ba Lan. Viên chức chính phủ, Kaczmarek (Borys Szyc), người tháp tùng phái đoàn nghiên cứu của Wiktor và Irena, cũng giúp Wictor và Irena trong việc thành lập và huấn luyện một ca vũ đoàn, Mazurek, nơi mọi vũ công, ca sĩ và nhạc sĩ hiến mình cho “cuộc đấu tranh dũng cảm và cao quý của Ba Lan.” Nhưng điều mâu thuẫn là điều kiện gia nhập vũ đoàn ca nhạc, theo lời kêu gọi của Kaczmarek, “hoàn toàn không rộng mở cho mọi thanh thiếu niên yêu nước,” mà chỉ cho một thiểu số được coi là có triển vọng được tuyển chọn. (Kaczmarek là một nhân vật dường như không biết mình đạo đức giả, theo Đảng Cộng sản nhưng lại có một cái nhìn hạ cố về truyền thống nghệ thuật dân gian, coi đó là một truyền thống “hoang sơ và man dã.”)

Cách thức tuyển chọn của phe quyền lực cũng biểu tượng cho sự bất bình đẳng và gian trá đầu tiên trong cuộc tình của Wictor và Zula, cũng là một chỉ trích về chính sách nước đôi của Cộng sản Ba Lan. Zula, với mái tóc vàng óng và sắc đẹp nổi bật giữa đám gái quê mùa, tuy bị mang án treo vì tội gây thương tích cho người bố có tật sách nhiễu tình dục, được Wictor và Kaczmarek tuyển chọn vào ca vũ đoàn. Wictor nói với Irena chàng chọn Zula vì “cảm nhận được nhiệt huyết nghệ thuật của thí sinh,” cho dù chàng biết Zula không có nhiều kinh nghiệm múa hoặc có một giọng hát trong và khỏe như một vài thí sinh khác. Kaczmarek cho phép Zula vào ca vũ đoàn và hứa sẽ xóa án treo của Zula với điều kiện là nàng phải theo dõi và tường trình các sinh hoạt của Wictor với cấp trên.

Zula portrait
Zula (Joanna Kulig)

Không lâu sau khi ca vũ đoàn Mazurek được thành lập, dự án duy trì di tích văn hóa dân gian của Wictor và Irena bị nhà nước Cộng sản biến thành dụng cụ đặc chế cho sứ mệnh “cải cách ruộng đất, xây dựng hòa bình thế giới và ngăn ngừa những đe dọa chống lại sứ mệnh.” Tuy Irena phản đối chính sách tuyên truyền của nhà nước, nói rằng truyền thống nghệ thuật ca nhạc dân gian của Ba Lan không hề có chuyện tôn thờ các lãnh tụ Cộng sản như Stalin hay Lenin, Wictor chấp nhận vai trò tuyên truyền của nghệ thuật, và được ủy nhiệm chức nhạc sư cho ban giao hưởng âm nhạc của ca vũ đoàn Mazurek.

Ca vũ đoàn Mazurek được đón nhận và hoan nghênh ở nhiều nơi trong nội địa Ba Lan cũng như ở những quốc gia Cộng sản. Zula trở thành một nghệ sĩ được chú ý và hâm mộ. Cuộc tình của Wictor và Zula được diễn ra trong không gian chật hẹp của những chặng nghỉ, hoặc ở giữa thiên nhiên thơ mộng của những cánh đồng quê, hồ nước. Thay vì phim màu, đạo diễn Pawlikowski dùng phim đen trắng làm môi trường kể truyện. Những hình ảnh đen trắng, sắc sảo, đẹp và linh động như nhung, ít sắc xám, biểu tượng cho những tương phản cao độ giữa chân thực và chính trị, hiện thực và hệ tư tưởng, tình yêu và xã hội. Phim đen trắng cũng làm người xem cảm nhận được khía cạnh lịch sử và tâm lý của phim, đồng thời là homage của Pawlikowski dành cho những phim đen trắng nổi tiếng trong thập niên 1950 của các đạo diễn như Robert Bresson, Vittorio de Sica, và Roberto Rossellini. Dùng tỉ lệ khung hình (aspect ratio) 4:3, làm cho hình ảnh có khung gần như vuông, với các nhân vật ở phần dưới khung hình, nhiều khoảng trống ở phía trên, hoặc hai bên lề khung, Pawlikowski làm cho mắt người xem phải chú trọng vào nhân vật, đồng thời cảm nhận được sự nhỏ nhoi của nhân vật trước bối cảnh thời thế.

Cuối cùng Zula cũng tiết lộ với Wictor rằng “tuy nàng sẽ yêu chàng cho đến chết,” từ lâu nàng đã bị bắt phải trình báo về chàng cho Kaczmarek. Zula trấn an với người tình rằng những trình báo của nàng đều “vô hại” để giúp nàng được trắng án và không bị mất việc, nhưng không bao giờ có tính cách phản bội. Lúc đầu Wictor nổi giận, nhưng sau đó rủ Zula theo chàng sang một nước tự do để sinh sống.

Vào năm 1951, khi ca vũ đoàn Mazurek dừng chân ở Berlin, lúc đó vẫn là một thành phố mở (bức tường Berlin được xây vào năm 1961), Wictor dặn Zula đến điểm hẹn sau giờ ca nhạc rồi cả hai sẽ trốn sang Tây Âu, nhưng đến phút chót Zula không xuất hiện. Wictor một mình sang Paris, và trở thành một nhạc sĩ jazz trong một phòng trà gần Montmartre.

Cold War Stills
Zula và Wictor qua những thời điểm của cuộc tình 15 năm

Vào năm 1954, Zula gặp lại Wictor ở Paris trong một chuyến sang Pháp trình diễn. Vì sợ bị theo dõi, Zula chỉ kịp gặp để nói với Wictor rằng nàng đã thất hẹn ba năm trước vì sợ rằng cuộc tình của họ khó có thể tồn tại ở một thế giới mới. Zula về Ba Lan và ít lâu sau kết hôn với một nhà thầu Ý, rồi được chính thức rời Ba Lan theo chồng sang Ý. Vào năm 1957, Zula bỏ chồng và sang Paris sống với Wictor.

Khái niệm “chân thật” (authenticity) về bản sắc văn hóa của nghệ sĩ di dân được khai phá trong thời gian đôi tình nhân chung sống ở Paris. So với các nhân vật phụ nữ như Irena và Zula, Wictor là một nhân vật dễ thích nghi ở khía cạnh nghệ thuật và xã hội nhưng (và do đó?) thụ động ở mặt chính trị. Tuy Wictor, lúc phim mở đầu, muốn nghiên cứu truyền thống âm nhạc dân gian, ta không thấy Wictor diễn bày những suy tư về văn hóa hay cội nguồn. Khi còn ở trong nước, Wictor chấp nhận chính sách tuyên truyền của Cộng sản, để dự án nghệ thuật của mình và đồng nghiệp bị áp chế nhưng không lên tiếng. Sau khi sang Pháp, chàng là một nhạc sĩ Ba Lan, chơi nhạc jazz của Mỹ trong một phòng trà Pháp, và sáng tác nhạc đệm cho một công ty điện ảnh Ý. Có lẽ sự thích nghi nghệ thuật của Wictor hiện hữu chính ở sở trường âm nhạc của chàng, vì âm nhạc là một ngôn ngữ hoàn cầu, vượt ra ngoài mọi biên giới?

Nếu Zula không sang Pháp để hội ngộ với Wictor, có lẽ Wictor đã có thể hội nhập vào xã hội Tây Âu, vì bối cảnh “đời nhẹ (nhưng kham được)” xem ra thích hợp với chàng. Nhưng đối với Zula, xã hội tự do của Tây Âu cũng có những áp lực mà cuối cùng nàng không thể chấp nhận. Tại Paris, Zula được Wictor giới thiệu với bạn bè của chàng như một femme fatale “đã giết bố mình và kết hôn với một ông hoàng Ý.” Khi Zula phản đối cách bị Wictor hư cấu hóa như một huyền thoại, chàng đáp rằng “nhập gia thì phải tùy tục. Tụi Pháp ở đây thường mê các “pham” thích làm loạn. Do vậy em sẽ dễ nổi tiếng.” Zula bị Wictor ép hát ca từ Pháp cho một tình ca tủ của nàng, mặc dù nàng đã kịch lịch chê bản dịch tiếng Pháp (của một thi sĩ/bồ cũ của Wictor) là diêm dúa và tẻ nhạt. Phản ứng của Zula liên hệ đến sự xung đột giữa ngôn ngữ quyền lực và ngôn ngữ cá nhân. Có lẽ trong vai trò ca sĩ, Zula là một diễn viên và dịch giả, do đó ngôn ngữ, khác với âm nhạc, vẫn bị áp chế bởi văn hóa, xã hội và chính trị?


Zula hát bài “Hai Trái Tim, Bốn Con Mắt” tiếng Ba Lan ở một phòng trà Paris, trước khi bị “ép” hát ca từ Pháp

Ngôn ngữ cũng định nghĩa bản sắc. Ở một môi trường xa lạ, tuy môi trường đó có thể tự do, nếu một nghệ sĩ không có khả năng ngôn ngữ, sẽ cảm thấy như bị mất chính mình, hoặc bị biến hóa thành một con người khác, bị áp chế bởi cách nhìn của văn hóa hay thị trường dòng chính.

Trong một cuộc phỏng vấn, Pawlikowski cũng đề cập đến vai trò của quyền lực/thị trường/hệ tư tưởng, bất kể tại một nước tự do hay Cộng sản, trong cách nghệ thuật được diễn tả. Nếu Zula tự tin hơn về tài năng truyền cảm của mình, biết đâu nàng đã hát trong tiếng Ba Lan mà không bị Wictor áp chế? Pawlikowski, trong những năm gần đây, đã làm những phim đen trắng không theo thị hiếu thương mại, một phần vì ông muốn làm phim cho chính mình, một phần vì ông đã có đủ uy tín trong giới điện ảnh để không bị áp lực làm một phim theo xu hướng của những nhà đầu tư:

Nhiều người nói với tôi rằng sẽ kiếm được bộn bạc nếu tôi làm phim Anh ngữ với các diễn viên nói tiếng Anh, và tôi phải quyết định là tôi có nên chịu áp lực của thị trường hay cứ tiếp tục làm phim đen trắng nói tiếng Ba Lan. Dĩ nhiên, nếu bạn là một nghệ sĩ lưu vong, bạn không có nhiều sự chọn lựa. Trong trường hợp đó thị trường địa phương quyết định.[3]

Pawlikowski đã chọn Paris làm nơi Wictor và Zula bị những thử thách lớn nhất trong tình yêu, do “Paris là một thành phố tư sản có văn hóa cao, đầy thành kiến và kín mít. Ở đó ai cũng cho là mình đã thấy và biết hết mọi sự việc …. Cho nên Wictor cay cú, bị đầy mặc cảm ở Paris. Một chỗ mà ai cũng khinh khỉnh. Những sa-lông trí thức làm chàng ngộp thở. Một cực hình.”[4] Ở Paris, không phải ở Warsaw, Zula đã mất hết mọi kính trọng và cảm phục mà nàng trước đây đã dành cho Wictor, vì lúc này nàng thấy rõ Wictor là kẻ xu nịnh theo thời, coi quan điểm của giới sa-lông Tây phù phiếm là có giá trị hơn những ý tưởng của nàng.

Tuy không thể chung sống trong yêu quý và hòa thuận, khi xa nhau cặp tình nhân lại thấy thấm thía sự ràng buộc tưởng như tiền kiếp của họ. Wictor – không bao giờ tế nhị – thường nhắc về Zula là “người đàn bà của đời tôi” ngay trong lúc nằm cạnh một tình nhân khác. Tình yêu cùng những hy sinh của Wictor và Zula khi họ không gần nhau đượm màu sắc tôn giáo: đối tượng trong tình yêu trở thành thần thánh, thay thế mọi lý tưởng chính trị và xã hội. Trong khía cạnh này, tình yêu của Wictor và Zula làm người xem nghĩ đến bài thơ “Love Among The Ruins” (“Tình Yêu Giữa Những Đổ Nát”) của nhà thơ Anh Robert Browning:

Ôi trái tim! Ôi máu giá đông, ôi máu bừng bừng!
Quà của đất (trả về đất)
Bao nhiêu thế kỷ điên cuồng, âm vang và tội lỗi,
Chôn hết đi,
Mọi khải hoàn vinh quang – tất cả!
Chỉ có tình yêu là trên hết.


O heart! oh blood that freezes, blood that burns!
Earth’s returns
For whole centuries of folly, noise and sin!
Shut them in,
With their triumphs and their glories and the rest!
Love is best.

Tình yêu của Wictor and Zula cũng làm ta nghĩ đến Truyện Kiều của Nguyễn Du. Như Thuý Kiều, Zula cũng trải qua 15 năm lận đận. Nhưng khái niệm trở về nhà trong Chiến Tranh Lạnh không có một đoạn kết hậu từ khía cạnh phong kiến như cảnh Thuý Kiều đoàn tụ với Kim Trọng và Thuý Vân. Cách trở về nhà của Wictor và Zula cũng không giống Ulysses trong trường ca của Homer, mà mang màu sắc tuyệt đối và siêu hình, gần hơn với thảm kịch của Shakespeare.

Ta có thể bàn luận rất nhiều về phim Chiến Tranh Lạnh, tuy đây là một phim cô đọng (chỉ dài 89 phút), gần với thơ nhiều hơn là phim. Ta cũng có thể xem Chiến Tranh Lạnh như hồi ký của đạo diễn, tiểu tự sự trong đại tự sự. Pawlikowski, sinh năm 1957 tại Warsaw dưới thời Cộng sản, dựa Chiến Tranh Lạnh trên chính cuộc hôn nhân với bốn thập kỷ thăng trầm của bố mẹ ông, bắt đầu ở Ba Lan, diễn ra ở Anh, và kết thúc ở Đức, dài gần bằng thời kỳ Chiến Tranh Lạnh (1945-1989).

pawel-pawlikowski.
Đạo diễn Pawel Pawlikowski

Bố mẹ ông yêu nhau nhưng khó sống gần nhau, vì những khác biệt cá nhân của họ cũng thành kịch liệt hơn khi họ trở thành những con người lưu vong. Những khác biệt của bố mẹ đạo diễn cũng có thể biểu tượng cho những xung đột vĩ mô ở khía cạnh xã hội và lịch sử. Bố ông, y sĩ, không phải nhạc sĩ, nhưng như Wictor, là người đàn ông truyền thống, hiếu sắc, kỳ thị phụ nữ, có khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới. Mẹ ông, khác với xuất thân lao động của Zula, thích mạo hiểm và đã từ bỏ cuộc sống thượng lưu của gia đình để trở thành một vũ công ballet. Pawlikowski chia sẻ, “Khi bố mẹ tôi qua đời,  tôi bị chới với trong sự trống vắng lớn lao, như bị tước mất quê cha đất mẹ.”[5] Bố mẹ ông đã có một thiên tình sử, chính là cội nguồn của mọi câu chuyện trong đời ông, giúp ông tạo nên một sự nghiệp nghệ thuật. Nhưng đời sống của họ, với những đối nghịch tư duy và tình cảm, không phải là một bài thơ mà là một cuộc chiến tranh tiêu hao, gây vô số thiệt hại ngoài dự kiến. Pawlikowski nhận xét:
 
Cầu trời đừng ban cho ai một chuyện tình như vậy. Ai cũng muốn có một tình yêu bình dị. Ở một nơi ổn định. Cùng trong một quốc gia, chỉ mong vậy .[6]

Oái oăm thay, bố mẹ của Pawlikowski chỉ thực sự cảm thấy gần nhau khi họ bị chế ngự bởi những quy tắc của thế gian: biên giới địa lý, chính quyền và xã hội hà khắc, tuổi già và bệnh tật, trước khi cả hai cùng vượt qua biên giới cuối cùng.



Chú thích
:

[1] Theo câu “Nhất định, chúng ta ở ngoài thế gian” (“Décidément, nous sommes hors du monde”) của Rimbaud, trong “Nuit de l’Enfer,” A Saison en l’Enfer.

[2] Phim Chiến Tranh Lạnh có thể xem miễn phí qua đăng ký Amazon Prime. Hiện nay ranh giới giữa các xưởng phim Hollywood và các công ty thương mại, truyền thông streaming–như Amazon và Netflix–không còn rõ rệt. Amazon và Netflix đã tài trợ nhiều phim xuất sắc được giải Oscar và/hoặc các giải thưởng quốc tế, như Manchester By The Sea (Amazon – 2016); Roma (Netflix – 2018).

[3] https://www.slantmagazine.com/film/interview-pawel-pawlikowski-on-the-making-of-cold-war/ (Dec. 19, 2018) (“People say to me that I would make a lot of money if I made films in English with English-speaking stars, and I think, ‘Do I succumb to that kind of pressure or do I stick to black-and-white Polish films?’ Of course, if you’re an exile, you don’t have an alternative. Then you go with whatever works locally.”) Các đoạn dịch sang Việt ngữ trong bài là của Đinh Từ Bích Thuý.

[4] https://www.vox.com/2018/12/21/18144549/pawel-pawlikowski-interview-cold-war (“Vox Interview,” Dec. 21, 2018) (“I chose for [Wictor and Zula] to live in Paris in the movie, because Paris is the most hermetically bourgeois, educated environment. Everybody’s seen everything, read everything …. So Wictor is really pissed off in Paris. It’s so superior. These salons are just suffocating. It’s torture.”

[5] In “Cold War,” Pawel Pawlikowski Tells His Parents’ Love Story (New Yorker, 12/22/2018) (“When his parents died, in 1989, just before the end of the Cold War, Pawlikowski felt a huge absence in his life, the absence of a ‘fatherland and motherland,’ as he described it.”)

[6] Vox Interview (“God forbids you have such a love story. You’d rather have just a normal relationship. In this stable place. In one country, ideally”).

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)