Trang chính » 50 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2025), Biên Khảo, Nhận Định, Tham luận, Tư Liệu, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Vượt Di Sản, Vượt Ký Ức: Thuyết Trình Ngày 30 tháng 4 về Văn Học Miền Nam và Văn Học Hải Ngoại

Giáo sư John D. Phan của đại học Columbia đã đưa ra ba câu hỏi dưới đây cho mọi diễn giả tham dự bàn tròn “50-30: Beyond Legacy, Beyond Memory — South Vietnamese Literature from the Fall Into the Future” (50-30: Vượt Di Sản, Vượt Ký Ức — Văn Học Miền Nam Việt Nam Từ Ngày Mất Nước Đến Tương Lai,” vào ngày 30 tháng 4 tại Đại học Columbia, Nữu Ước. Ba câu hỏi cũng đề cập đến lời phát biểu (qua video thu trước buổi hội luận) của nhà văn Nhã Ca và Phan Nhật Nam, do hai vị này không thể tham dự.


Bàn tròn được diễn ra từ 12:45 trưa đến 2:15 chiều, với sự tham dự của các Giáo sư Olga Dror (Texas A&M ), học giả độc lập Trinh My Luu (University of Oregon), Giáo sư Nu-Anh Tran (University of Connecticut), và dịch giả/nhà phê bình Đinh Từ Bích Thuý, qua sự điều hợp của Giáo sư John D. Phan (Columbia University.) Bài dưới đây là bản dịch Việt ngữ từ bài thuyết trình Anh ngữ của Đinh Từ Bích Thúy.

 

 

1. Quý bạn định nghĩa “văn hóa, bản sắc” của Văn học miền Nam Việt Nam” ra sao, khi nền văn học này được phát triển trong thời chiến, đồng thời ý nghĩa / ảnh hưởng của trong 50 năm qua kể từ khi chiến tranh kết thúc? Nền văn học này có mang nhiều định nghĩa khác nhau đối với các thế hệ hoặc tầng lớp khác nhau trong cộng đồng hay không, và nếu có, những khác biệt đó là gì? Nói cách khác, có nhiều “nền văn học miền Nam” hay không, và nếu có, chúng là gì? Trong “các” nền văn học này, bao nhiêu được coi là ký ức, và bao nhiêu là vượt ra ngoài ký ức?

Vâng, tôi nghĩ chắc chắn có nhiều định nghĩa / định kiến về nền văn học miền Nam. Nhà phê bình Võ Phiến, người đã hoàn thành bộ Văn học Miền Nam đồ sộ gồm bảy tập (từ năm 1986 đến khoảng năm 1995, với một quyển tổng quan và các quyển khác, về nhiều thể loại khác nhau (tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, hồi ký, tuỳ bút, thi ca), đã than thở rằng có lẽ cũng vì văn học miền Nam Việt Nam đề cao tinh thần dân chủ và đa diện, các nhà văn và nhà thơ của nền văn học này đã không quan tâm đến việc đồng tâm chống lại chủ nghĩa Cộng sản — điều mà các nhà văn miền Bắc dường như nhất trí thực hiện vì đó là nhiệm vụ của họ theo khuynh hướng là nghệ thuật không thể tách rời ra khỏi đường lối chính trị của nhà nước. Thay vào đó, theo quan điểm của Võ Phiến, các nhà văn miền Nam, do được tự do, nên không chịu “đi thực tế” như những nhà văn ở ngoài Bắc. Theo ông, các tác phẩm của miền Nam, trừ bút ký, các thiên phóng sự của những nhà văn quân đội, dường như quan tâm hơn đến việc thoát ly thực tại qua cách hành văn đỏm dáng và tự mãn, phần nhiều với bối cảnh thành thị, đồng thời các tác phẩm này cũng bị “ấu trĩ hóa” qua cách chú tâm vào chuyện thu hút các độc giả trẻ tuổi. Ông dẫn chứng Nhã Ca và các nữ văn sĩ khác vào cuối thập niên 60-70 đã khai thác sự nổi loạn của giới trẻ, đặc biệt là cảm xúc của những phụ nữ khao khát sự thay đổi vì họ bị giam hãm bởi truyền thống Nho giáo và những cư xử bất công, những kỳ thị về giới tính trong xã hội miền Nam thời đó.

Chính nhận định của Võ Phiến cũng có thể bị coi là “có vấn đề,” do đã đương nhiên bày tỏ một cái nhìn phụ hệ đã tạo xúc tác cho sự nổi loạn của phụ nữ:

“Nổi tiếng,” đó không phải là một khao khát của phụ nữ ngày xưa. Thời thế đổi thay, địa vị mới của phụ nữ không khỏi ảnh hưởng đến tính tình, phong cách, nết na của họ. Vả lại hầu hết tiểu thuyết gia thuộc nam phái, họ nhìn về phía nữ giới với con mắt trìu mến; sau này có nhiều nữ tiểu thuyết gia, đàn bà nhìn nhau cách khác.[i]

Thật ra Võ Phiến cũng không dung tha các nhà văn nam giới theo Tây học. Ông chỉ trích chuyện họ chạy theo chủ nghĩa hiện sinh của Pháp nhưng lại không đưa ra giải pháp cụ thể nào cho các cuộc khủng hoảng chính trị xã hội của miền Nam.

Cho dù các nhà văn của Việt Nam Cộng hòa đã không cổ võ hết lòng cho cuộc chiến chống Cộng, nhận xét của Võ Phiến có phần chủ quan, hẹp hòi, và lấp lửng, có lẽ chỉ phản ảnh những năm cuối cùng trước khi miền Nam sụp đổ, khi văn học miền Nam Việt Nam, không kể một số sách ngoại lệ, có vẻ thiên nhiều về nhu cầu giải trí cho giới trẻ hoặc thương mại. Đối với tôi, văn học miền Nam là một truyền thống đã bắt rễ ngay từ buổi đầu của nền Đệ nhất Cộng hòa, đặc điểm của nó là sự kết hợp sâu sắc và tự tin giữa các thể loại, những khai phá táo bạo, tiên phong, biểu tượng qua tiểu thuyết Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, một trong những nhà văn và nhà thơ tài ba và tiêu biểu nhất của miền Nam Việt Nam.

Bếp Lửa được xuất bản lần đầu vào năm 1955, và trong đó nhà văn 20 tuổi đã đặt câu hỏi về ý niệm gia đình và cộng đồng – rằng một cộng đồng thực sự cần dựa trên sự tin cẩn, tôn trọng, bình đẳng về tình dục, cảm xúc, và trí tuệ, nhưng không nhất thiết phải dựa trên huyết thống, lề thói cũ, chính trị, hoặc tôn giáo. Tiểu thuyết của Thanh Tâm Tuyền vẫn mang tính cách mạng vì nó vượt lên trên ý thức hệ bằng cách xem vai trò của một cá nhân sáng tạo là một quá trình tự do cốt yếu. Mặc dù các nhà nhà văn của Việt nam Cộng hoà không được thực hành quyền tự do ngôn luận vô giới hạn, họ có cơ hội phát biểu những quan điểm chính trị đối lập, hoặc được đồng nghiệp vận động để không bị giam hãm dài lâu như trường hợp nhà văn Cộng sản nằm vùng Vũ Hạnh; hoặc “dung hoà’ hơn là khuynh hướng của Bình Nguyên Lộc, ủng hộ sự hiện hữu hoà bình của cả hai thể chế Bắc, Nam qua tác phẩm Khi Từ Thức Về Trần.

Truyền thống văn học miền Nam cũng phong phú về dịch thuật. Trong hơn hai mươi năm, từ 1954 đến 1975, nền văn học này đã phổ biến nhiều dự án dịch thuật từ các tiểu thuyết của Hermann Hesse, Albert Camus, André Gide, Jean-Paul Sartre, Yukio Mishima, Yasunari Kawabata, v.v.

Tôi nghĩ “ký ức” về văn học miền Nam Việt Nam, do bản chất của nó là một truyền thống bị phân tán và vẫn còn bị đàn áp ở Việt Nam – không thể tách rời điều được coi là “vượt ra ngoài ký ức” – sự phân tán của ký ức và mọi điều vượt khỏi tầm ký ức vốn đã hòa quyện vào nhau. Mặc dù có nhiều di tích, tang chứng trong cộng đồng hải ngoại để tạo thành một ký ức tập thể về văn học miền Nam, chẳng hạn như các sách báo, tài liệu, được lưu giữ tại các kho lưu trữ đại học như Đại học Cornell, Đại học Texas Tech, Thư viện Quốc hội, cũng có rất nhiều tài liệu thuộc loại “vượt ra ngoài ký ức,” như các tác phẩm xuất bản trong tiếng Việt và những ngôn ngữ khác, hiện tồn tại song song với ký ức được ghi lại. Ngay cả lịch sử truyền miệng của người tị nạn được ghi lại và lưu trữ tại Đại học Irvine ở Nam California cũng thuộc loại “vượt ra ngoài ký ức” vì nó phản ảnh những kinh nghiệm cá nhân và đặc thù của người tị nạn.

Tôi cũng nghĩ có sự chồng chéo, lan nhoà giữa ký ức và những điều “vượt ra ngoài ký ức” vì đơn giản là chúng ta không có đủ phương tiện để chứng minh điều nào hoàn toàn “thật” và điều nào đã bị pha trộn vì cảm tính, hay những yếu tố khác đã “biên tập” lại ký ức nguyên thuỷ. Cộng đồng văn học hải ngoại không phải là một cộng đồng thuần nhất hay nguyên khối mà là nhiều cộng đồng tách rời, rải rác trên khắp thế giới. Thông tin tràn lan trên internet về các nhà văn của miền Nam không phải lúc nào cũng chính xác, và cũng có chuyện ngộ nhận, hiểu sai, nhớ sai, qua những thiên kiến ý thức hệ, hoặc ý đồ cá nhân. Các học giả, hoặc những nhà văn miền Nam còn sống sót, cũng vô tình hoặc cố tình tái tạo, thêu dệt, vẽ lại quá khứ trong nỗ lực khôi phục lịch sử văn học miền Nam. Nhưng tôi nghĩ điều cốt yếu ở đây không phải là tìm kiếm một sự thật tuyệt đối về văn học miền Nam, mà là để nhấn mạnh tính chủ quan và phức tạp của nó, điều này phản ảnh một khuynh hướng mang tính cách trải nghiệm, không ngừng phát triển, liên quan trực tiếp đến nỗ lực đạt đến một kiến thức đa diện và phức tạp về đời sống văn hoá của người tị nạn.

2. Quý bạn phản ứng như thế nào trước những nhận xét của Phan Nhật Nam về vai trò của “sự thật” trong văn học so với ảnh hưởng của chính trị, hoặc các yếu tố liên hệ đến chính trị? Mong quý bạn cho biết vai trò của sự thật trong bối cảnh văn học miền Nam, đặc biệt là trong năm mươi năm qua, là ra sao? Bạn nghĩ gì về ảnh hưởng của sự đàn áp, tù đày trong truyền thống văn chương này so với quan điểm về sự phát triển rực rỡ của văn học và văn hóa miền Nam như Nhã Ca đã mô tả?

Phan Nhật Nam thảo luận về trách nhiệm của nhà văn với tư cách là chứng nhân lịch sử. Do đó ông chỉ trích các nhà văn Bắc Việt đã cường điệu hóa chủ nghĩa anh hùng của các chiến sĩ Cộng sản bằng cách bóp méo sự thật và ngay cả chân lý nghệ thuật. Cụ thể, Phan Nhật Nam lên án chuyện các nhà văn Bắc Việt Nam trình bày những chi tiết lịch sử sai lệch hoặc mất cân bằng, và từ ánh nhìn nghệ thuật cũng làm mất đi sự đa diện của các nhân vật trong tiểu thuyết tuyên truyền của họ, biến các nhân vật này thành những khuôn mẫu dẹp lép như các-tông. Nói cách khác, tôi hiểu ý của Phan Nhật Nam, rằng khi nghệ thuật được sử dụng chỉ để phục vụ ý thức hệ, thì nghệ thuật sẽ bị tước mất nét nhân bản ngay ở cả những nhân vật mà chúng ta tôn vinh là anh hùng. Sự sùng bái chủ nghĩa anh hùng làm rẻ rúng nhân cách của con người, làm chai sạn cảm xúc, bình thường hóa bạo lực, do đó một nhà văn chấp nhận sự chính trị hóa trong văn học cũng có nguy cơ từ bỏ sự độc lập của chính mình.

Nhưng không có “sự thật” nào tuyệt đối trong văn học, bởi chính bản chất của văn học là cho chúng ta một không gian sáng tạo đa nguyên và vô giới hạn để khai phá và thử nghiệm. Mỗi nhà văn phải tự định nghĩa “sự thật” cho mình, và đi theo sự thật này. Tôi định nghĩa sự thật trong văn chương là khả năng phá giới và dung hoà, hoặc sự can đảm và tận lực trong cách phân tích những ý tưởng đối lập. Văn học miền Nam phức tạp và đa diện vì nó phản ảnh cùng lúc sự đau khổ và tù đày của các nghệ sĩ bên “thua trận” trong thời kỳ hậu chiến, và tinh thần kiên trì vượt thời gian, vượt địa lý, vượt ý thức hệ. Tóm lại, tôi không thấy có sự mâu thuẫn giữa lời phát biểu của Phan Nhật Nam với quan điểm của Nhã Ca.

3.  Để kết thúc, và hướng về tương lai, quý bạn cảm thấy trách nhiệm của văn học, đặc biệt qua dịch thuật, trong việc bảo tồn, truyền tải và/hoặc nuôi dưỡng văn hóa miền Nam trên thế giới ngày nay, và cho các thế hệ mai sau là gì?

Nhà văn Canada gốc Việt Vinh Nguyễn, trong tác phẩm Lived Refuge so sánh trải nghiệm tị nạn như một ảnh hưởng trường kỳ trên cơ thể và thâm tâm người tị nạn – chúng ta không ngừng là người tị nạn cho dù sau khi đã được một quốc gia cho phép nhập cư, thậm chí sau khi chúng ta trở thành công dân của quốc gia này, bởi vì cơ thể chúng ta vẫn còn đang sống với hậu quả của quá khứ và đồng thời cũng phản ứng lại những hậu quả này qua nhiều cách, như cách chúng ta ghi nhận những chuyển biến của thể xác và tinh thần qua văn học và nghệ thuật. Walter Benjamin có kể một ẩn dụ về chuyện thiên thần lịch sử bị cơn bão thời thế đẩy tốc vào tương lai trong khi khuôn mặt thiên thần vẫn quay ngược về phía những mảnh vỡ và chấn thương của quá khứ, trạng thái này cũng giống như hoàn cảnh người tị nạn. Tương tự như ẩn dụ của Walter Benjamin là hình ảnh tượng thần La Mã Janus có hai mặt mà tôi nghĩ là hiện thân của văn học hải ngoại (có thể được coi là một phần nối dài của văn học miền Nam), với một mặt quay về quá khứ và mặt kia hướng đến tương lai. Janus cũng là biểu tượng của bắt đầu và kết thúc, của các lối vào, của những cánh cổng mở rộng.

Lived Refuge_thumb[5]

Một cách để bảo tồn nền văn học này (có nhiều nhà văn vẫn chọn viết và xuất bản bằng tiếng Việt mặc dù biết rằng đây là một chuyện khó khăn, không lãi xuất, trong một xã hội Tây phương), là qua các nỗ lực dịch thuật, phê bình, xuất bản, và giảng dạy nền văn học này ở cấp đại học. Người ta thậm chí có thể hy vọng rằng trong tương lai văn học miền Nam, cũng như văn học Việt hải ngoại, sẽ được chính thức công nhận và phổ biến rộng rãi ở Việt Nam mà không bị kiểm duyệt. Hiện nay, ít nhất là ở ngoài nước, văn học Việt Nam qua các tác phẩm dịch thuật không phân biệt giữa văn học miền Nam, văn học của những nhà văn độc lập hay đối lập vẫn đang sinh sống ở Việt Nam, hoặc văn học của những nhà văn gốc Việt xuyên quốc gia và đa ngôn ngữ.

Hiện tại chúng ta có Major Books, một nhà xuất bản của các người trẻ gốc Việt có trụ sở tại Anh quốc, chuyên xuất bản những tiểu thuyết Việt Nam gần đây được dịch sang Anh ngữ, của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Ngọc Tư, và mới nhất là bản dịch Truyện Kiểu của Nguyễn Bình, theo thể thơ “ngũ cú bình trắc” (iambic pentameter) thông dụng thời thi hào Shakespeare. Tilted Axis Press, một nhà xuất bản khác ở Anh do Deborah Smith — dịch giả của khôi nguyên Nobel Văn chương Han Kang – là sáng lập viên, cũng xuất bản các tác phẩm của các nhà văn Âu châu gốc Việt như Thuận.

Tại Hoa Kỳ, chúng ta có DVAN (Diasporic Vietnamese Artists Network– Mạng lưới nghệ sĩ Việt nam hải ngoại), do nhà văn/giáo sư Việt Thanh Nguyễn và Isabelle Pelaud thành lập, cùng các cố vấn/biên tập viên dịch thuật bao gồm các nhà văn Monique Truong, Nguyễn Phan Quế Mai, dịch giả Võ Hương Quỳnh, và tôi, cùng nhiều người khác. DVAN đã xuất bản các tác phẩm của các nhà văn trong cộng đồng hải ngoại cùng các nhà văn nổi tiếng của Việt Nam, với một cái nhìn bao quát về văn học dịch thuật trong cách đề cao sự đa diện văn hóa và chính trị của văn học Việt Nam.

Hiện nay, tôi cũng đã được người nhà của Thanh Tâm Tuyền chính thức cho phép dịch Bếp Lửa sang tiếng Anh. Thanh Tâm Tuyền, như đã đề cập trước đó, là một nhà thơ và nhà văn miền Nam, một trong những ngôi sao sáng của Việt Nam Cộng Hoà. Tên thật của ông là Dư Văn Tâm; ông đã bị chính quyền Cộng sản giam giữ bảy năm, từ 1975 tới năm 1982 vì là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ông định cư tại Minnesota, và qua đời ở tiểu bang này vào năm 2006.

Vì thời gian giới hạn, chúng ta chỉ có vỏn vẹn một tiếng rưỡi để trình bày về một đề tài quá rộng lớn và phức tạp, nên trên đây chỉ là một vài trường hợp về nỗ lực của chúng tôi trong việc dịch thuật và bảo tồn văn học miền Nam. Tôi không đi quá xa để quả quyết rằng những trường hợp này đại diện cho nỗ lực hòa giải, hay biểu hiện “thế lực mềm” (soft power) của văn hoá “mong hàn gắn những đau thương” vì những cụm từ này đã bị giới chính trị và thương mại lạm dụng hoá, trong khi chuyện kiểm duyệt vẫn xảy ra ở trong nước, nhưng hiện trạng xoá nhoà, hỗn hợp dần dần những ranh giới địa lý, thể loại, những quên lãng và tái tạo của ký ức tập thể hải ngoại, là một quá trình tự nhiên của tiến hóa lịch sử. Là một người viết thông thạo cả hai ngôn ngữ Việt, Anh ở thế hệ 1.5, sinh hoạt tích cực cho văn học, tôi không nghĩ văn chương Việt hải ngoại và/hoặc văn chương miền Nam hiện lâm vào tình trạng tuyệt chủng. Truyền thống văn học Việt Nam hải ngoại, dù ở điểm mốc 50 năm, vẫn còn đang hình thành và phát triển.

___________________

[i] Võ Phiến, Văn Học Miền Nam Tổng Quan (Văn Nghệ, California: 2000), 343.

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

1 Bình luận

  • Long Nguyen says:

    Memory, ký ức, kỷ niệm

    記 憶: ký ức, ghi nhớ, to remember
    紀 念: kỷ niệm, tưởng nhớ, to commemorate

    Mỗi nhà văn phải tự định nghĩa “sự thật” cho mình, và đi theo sự thật này.(Đinh Từ Bích Thúy).

    Một nhận định hay.

    Ký ức là bộ nhớ và khả năng nhớ lại của trí não con người (và ngày nay thêm của chiếc máy computer). Theo tôi, người viết là người xử dụng bộ nhớ ấy vào việc viết. Người có bộ nhớ càng nhiều dữ kiện thì sự viết của hắn càng phong phú súc tích. Vấn đề là nhớ gì và viết gì. Người viết sử chỉ cần nhớ không sai lịch đại, địa danh và nhân vật.

    Trong lĩnh vực sáng tác văn chương thì ngoài vô số dữ liệu trong kho ký ức, bộ nhớ, nhà văn cũng vô cùng cần đến những kỷ niệm. Kỷ niệm mới làm cho người ta bồi hồi xao xuyến. Kỷ niệm khơi gợi lại khoảnh khắc buồn vui. kỷ niệm là kinh nghiệm từng trải. Chính kỷ niệm sẽ gợi hứng cho con người viết. Và hắn sẽ viết hay hơn.

    Nhưng mà, người viết sáng tác có thể viết vượt ký ức, vượt di sản, hay không? Chắc là được. Bằng cớ là tiểu thuyết thể loại văn chương thần kỳ giả tưởng, fantasy literature, như Tây Du Ký, Harry Potter; hoặc tiểu thuyết kiểu tái dựng quá khứ lịch sử của Patrick Modiano, bằng nghệ thuật của ký ức, hoàn cảnh tâm lý con người trong thời nước Pháp bị Đức chiếm đóng.

    Ai cũng cho rằng chân thật là cốt tính của tình yêu đôi lứa. Wislawa Szymborska thì cho rằng “true love” không quan trọng bằng niềm tin (vào điều gì đó) trong cuộc sống. Theo tôi, bà đã viết vượt qua ký ức vượt qua di sản. Bà là nhà thơ tìm thấy “sự thật” cho chính mình.

    “Let the people who never find true love
    keep saying that there’s no such thing.

    Their faith will make it easier for them to live and die.”

    Hãy để cho những ai chưa từng tìm thấy mối tình thiệt
    tiếp tục nói rằng chả có cái vụ đó bao giờ.

    Niềm tin sẽ khiến con người sống đời và tạ thế dễ dàng hơn.

    https://readalittlepoetry.com/2011/07/23/true-love-by-wislawa-szymborska/

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)