Bài thuộc thể loại: Lịch Sử
THANH VIỆT NGHỊ HÒA – CHƯƠNG II: CÔNG NHẬN TÂY SƠN
Ngô Thì Nhậm thay mặt vua Quang Trung đã trả lời rất đanh thép về lịch sử và nguyên do [từ chối] việc cống người vàng nên Phúc Khang An đã bí mật đề nghị một biện pháp trung gian là cử người thay mặt vua sang Trung Hoa. Vua Quang Trung thuận theo ý đó và thông báo rằng sẽ đưa một nhân vật tuy thay mặt nhưng cũng như chính mình ….
THANH VIỆT NGHỊ HÒA- TIẾN TRÌNH NHÀ THANH CÔNG NHẬN TRIỀU ĐẠI QUANG TRUNG- Chương I: Từ Căng Thẳng Đến Hòa Hoãn- PHẦN 2: ĐÀM PHÁN SƠ KHỞI
Về phía Trung Hoa, các quan lại địa phương cũng biết rằng mục tiêu của những trao đổi này không phải để xem ai đúng ai sai mà làm thế nào cho quan điểm hai bên có thể dung hoà, đấu dịu để không xúc phạm đến sự tự tôn của vua Thanh. Việc tranh cãi và lý luận đó kéo dài khá lâu đúng như Vũ Huy Tấn đã phải than là ông lên xuống gõ cửa Nam Quan đến bảy lần thì việc mới xong.
THANH VIỆT NGHỊ HÒA- TIẾN TRÌNH NHÀ THANH CÔNG NHẬN TRIỀU ĐẠI QUANG TRUNG- Chương I: Từ Căng Thẳng đến Hòa Hoãn- phần 1:TRƯỚC KHI ĐÀM PHÁN
Ngày 24 tháng Giêng năm Kỷ Dậu [Càn Long 54], nhận được tin bại trận, vua Càn Long lập tức giáng chỉ điều động Phúc Khang An từ Mân-Triết (Phúc Kiến) sang làm tổng đốc Lưỡng Quảng thay Tôn Sĩ Nghị. Tuy nhiên chính Thanh triều cũng e ngại nếu An Nam phản ứng giống như Miến Điện – không chịu thần phục, giam cầm tù binh và tấn công biên giới – thì sẽ trở thành một vấn đề lớn.
THANH VIỆT NGHỊ HÒA TIẾN TRÌNH NHÀ THANH CÔNG NHẬN TRIỀU ĐẠI QUANG TRUNG – phần mở đầu
Trung Hoa dưới triều Thanh Càn Long là một quốc gia lớn, có kỷ cương lề lối nên nhất nhất đều theo qui định trong điển lệ, vừa là khung hình luật pháp để nương theo, vừa là thứ tự làm mẫu mực cho đời sau tuân thủ.
Trên hình thức, nhà Thanh cố tình phô trương “sức mạnh nước lớn” để chứng tỏ với dân chúng, với lân bang rằng An Nam đã thần phục trong “một cuộc chiến mà không cần động binh”. Sức mạnh bề ngoài có tính “phùng xoè” được thi triển rất lớp lang, bài bản nhưng bên trong có thể ngược lại với những gì người ta nhìn thấy.
Đã Tới Lúc Nước Mỹ Xét Lại Cách Dạy về Chiến Tranh Việt Nam
[Một cựu quân nhân miền Nam Việt Nam] cho tôi biết rằng kinh nghiệm bản thân cho thấy các người trong giới khoa bảng Hoa Kỳ không tôn trọng ông, vì họ nghĩ rằng ông đã chọn nhầm chiến tuyến trong trận chiến. Như vậy tội của ông ta chỉ là nuôi hy vọng đem dân chủ vào xứ sở của mình, và tin tưởng vào Hoa Kỳ.
Lê Quýnh (phần 5)
Riêng với Lê Quýnh, thái độ chính trị của ông đúng hay sai còn tùy vào nhận định và quan điểm của từng người. Tuy nhiên, dù ở phía nào, đã là người Việt Nam chúng ta không thể không cảm phục ông về sự bất khuất nhất định không chịu cắt tóc, đổi áo theo người Thanh…
Lê Quýnh – phần 4
Ðến năm Giáp Tí (Gia Long thứ 3, 1804) khi nhà Tây Sơn đã diệt vong, được sự đồng ý của nhà Nguyễn, Thanh triều mới cho các vong thần mang quan tài vua Lê, thái hậu và nguyên tử (con trai vua Lê chết ở bên Tàu) trở về nước. Quốc Sử Di Biên chép rằng:
… Tháng Tám [năm Giáp Tí] Trường Phái Hầu của nhà Lê cũ Doãn Hựu [黎允佑][2] đem hài cốt vua Lê từ nước Thanh trở về. Khi trước, vua tôi họ Lê ở bên nước Thanh từ năm Tân Hợi [1791] thì đã thất tán chỉ còn vài chục người.
Lê Quýnh (phần 3)
Thấy việc chia họ ra để dụ dỗ không đi đến đâu nên nhà Thanh lại sai giam ở ngục phía bắc, bốn người ở chung một nơi. Xét theo tình hình, thời điểm này lễ Bát Tuần Khánh Thọ đã hoàn tất, phái đoàn Quang Trung đã rời khỏi kinh đô và một số người trong nhóm tòng vong tình nguyện trở về…
Lê Quýnh (Phần 2)
Thực tế, những biến chuyển trong cách giải thích chính sách của nhà Thanh mới chính là nguyên nhân khiến nhóm nhà Lê bị tống giam hay đày đi Tân Cương, Nhiệt Hà. Bám víu sau cùng của họ là gặp vua Lê để cùng nhau mưu đồ khôi phục thì cũng tan ra mây khói…
Lê Quýnh
Trong số người lưu lạc nơi đất khách, có những người tuy không tự nguyện lưu vong nhưng ở trong thế không quay trở về được, cũng có những người bị người Thanh đánh lừa vời qua rồi cưỡng bách bắt ở lại, tiêu biểu là bọn Lê Quýnh.
Sử Việt thời thổ tả (V)
Ngày nay người ta vượt qua những mù mờ của lịch sử, những bất tương hợp của quá khứ với các chứng cứ rối rắm để ghép nối tục thờ cúng tổ tiên với truyền thống Hùng Vương bằng cách viện dẫn đến tính chất “sáng tạo truyền thống” của người cầm quyền.
SỬ VIỆT THỜI THỔ TẢ (IV): CHUYỆN GIA PHẢ, TÔNG PHẢ HỌ HÀNG NHÀ TA
Các “chuyên gia” viết gia phả phồn tạp đến mức có lúc thấy loáng thoáng ở những quảng cáo trên báo chí, sau đó lại lẳng lặng biến mất cùng nhịp với phong trào viết lịch sử Ðảng bộ Cộng sản xuống tận cấp xã phường, rầm rộ đến những năm 1990, chứng tỏ có sự liên hệ, tuy là không đồng đẳng, giữa hai phong trào. Các tay thợ viết gia phả đôi khi chỉ là những “sử gia” của phường xã,
Đọc lại Machiavelli
Đề tặng Lorenzo de Médici, kẻ vừa nắm quyền ở Florence nhờ Tây Ban Nha trợ giúp, Quân Vương là một loại khảo cứu lý thuyết kèm cẩm nang hành động, vừa đào sâu bản chất của quyền lực vừa trình bày các chủ quyền chính trị khác nhau với kế sách chiếm đoạt chúng.
Sử Việt thời thổ tả – Phần III
Lịch sử thường được coi đáng tin cậy nhất là khi ghi nhận vào lúc, và thời nó xảy ra. Mức độ nhận định thì tuỳ thuộc vào kiến thức thời đại chuyển tiếp vào người ghi chép. Thế mà không phải ai cũng đủ khả năng đi vào những ngóc ngách chuyên biệt của các diễn tiến. Bởi vậy cho nên cách giải mã lịch sử…
Sử Việt thời thổ tả – Phần II
Cái lợi thế ta/địch lớn lắm dù đôi khi cứ tưởng chỉ là của những “chuyện nhỏ”. Cung Tích Biền muốn lưu giữ các phần viết tiểu thuyết của mình từ các trang báo hàng ngày trước 1975 cũng không được. Về phần Huy Ðức thì không phải chỉ thoải mái đọc Sài Gòn Giải Phóng mà còn tận mắt ghi chép…
SỬ VIỆT THỜI THỔ TẢ – Phần I
Có điều tệ hơn, trong khi bàn về Cao Lỗ, ngày nay người ta còn xác quyết rằng chuyện Trọng Thuỷ Mị Nương là có thật để nói đến “bài học lịch sử” về sự mất cảnh giác dẫn đến tình trạng mất nước. Chuyện nỏ thần “bắn một phát giết 300 người, xuyên qua hơn chục người”, giết hàng vạn người…
50 năm sau biến cố 1 tháng 11, 1963: Xét lại nguyên nhân và hậu quả (Phần 2)
Sau cuộc đảo chính 1 tháng 11, 1963, phe chủ chiến Mỹ và phe chủ chiến Cộng Sản Bắc Việt đã gặp nhau ở một điểm: Cả hai bên đều muốn Mỹ trực tiếp tham chiến ở VN; Mỹ muốn sớm chiến thắng bằng quân sự, Bắc Việt muốn Nam VN mất chính nghĩa để cũng sớm chiến thắng bằng quân sự.
50 năm sau biến cố 1 tháng 11, 1963: Xét lại nguyên nhân và hậu quả (Phần 1)
[L]oạt bài được mệnh danh “bút ký lịch sử” kéo dài nhiều tháng, mang tựa đề “Làm thế nào để giết một tổng thống,” sau khi chấm dứt, đã được xuất bản thành sách ở Sài Gòn. Tôi là người đặt tựa cho loạt ký sự này.
CON ĐƯỜNG BÌNH THƯỜNG CỦA CÁC ĐỒNG TIỀN “AN NAM”
Tiền còn mang dạng truyền thống khác, không phải chỉ là vật trung gian để trao đổi mà còn là vật chứng nhận quyền uy …. Các tay nổi dậy, muốn chứng tỏ sự hiện diện của họ … đều cũng đúc những đồng tiền mà vì tính phù du của những cuộc nổi dậy đã gây khó khăn đoán định cho người sau.
Bài Sử Khác Cho Việt Nam–Chương XX (Kết)
Vậy là bắt đầu của dân tộc Việt không có rồng Lạc, tiên Âu gì hết. Sống ở thời đại văn minh thì hãy nhìn sự vật ở mức độ bình thường dù rằng cứ tưởng đó là tầm thường. Để khỏi sống bằng ảo tưởng, hoang tưởng, khỏi phải lừa mình, dối người, gồng xác lên gân che giấu mặc cảm tự ti lâu dài…
Bài Sử Khác Cho Việt Nam–Chương XIX
Thời bình dẫn theo sự hưởng thụ có ngay trước mắt mà ước vọng lí tưởng còn quá xa vời nên phải có những toan tính lắt léo, tuy không đủ lấy thúng úp voi nhưng cũng ghìm giữ được sự thật một thời gian, hay có thể ghìm giữ lâu dài khi cố không buông bỏ quyền lực.
Bài Sử Khác Cho Việt Nam – Chương XVIII
Ngày (đúng ra là đêm) 9-3-1945 được ghi trong lịch sử là thời điểm quân đội Nhật Bản lật đổ toàn bộ chính quyền thuộc địa ở Đông Dương do người Pháp xây dựng trong hơn 80 năm. Tất nhiên là vì quân Nhật đã đóng ở Đông Dương từ 1940, đã đặt nhiều cơ sở thâm nhập, tạo dựng nhiều tầng lớp thân thuộc…
Ẩn dụ / Qua dòng lịch sử (phần 2)
Ở các nhà văn, nhà thơ, ẩn dụ là phương tiện duy nhất để diễn đạt những gì tinh tế nhất, sâu lắng nhất và sáng tạo nhất. Ẩn dụ, rốt cuộc, là sử dụng chữ để nói đến những phi-chữ, là dùng cái hữu hạn để chế tạo ra cái vô hạn.
Ẩn dụ / qua dòng lịch sử (phần 1)
Platon (424 – 348 trước Tây lịch), triết gia hàng đầu của thời Cổ Đại Hy Lạp, là người kịch liệt bài xích ẩn dụ. Ông chủ trương một thứ ngôn ngữ “có sao nói vậy”.[2] Triết lý là đi tìm chân lý, mà chân lý thì không thể mang tính chất hư cấu, hoang đường và do đó, sai lầm, như trong tu từ học và thơ.
việt nam khai quốc: chiến tranh với Nam Chiếu (chương 6, phần 4)
Cuộc chiến tranh Nam Chiếu cho thấy hai luồng văn hoá đối nghịch ở Việt Nam vào thế kỷ 9. Luồng văn hoá Đường-Việt ở Giao Châu nặng phần Phật Giáo và tùy thuộc vào nhà Đường để duy trì trật tự, và một luồng văn hoá chống Đường tại các khu vực có văn hoá Mường-Việt.
việt nam khai quốc: sự đối đầu (chương 6, phần 3)
Phong trào chống nhà Đường vẫn phát triển mạnh mẽ dưới lớp vỏ của một cuộc sống bề ngoài có vẻ ổn định… [và được] lãnh đạo bởi các gia đình quân nhân và những quan chức bất mãn đã đặt hy vọng ngày càng lớn vào Nam Chiếu để cân bằng sức ép của nhà Đường.
THỦ TƯỚNG HUN SEN VỚI THẢM HỌA MÔI SINH LỚN NHẤT KHI “TRÁI TIM BIỂN HỒ” NGƯNG ĐẬP
Chuỗi đập Vân Nam sẽ gây ra những tác hại vô lường nơi hạ lưu, gây rối loạn toàn hệ sinh thái con sông Mekong xa xuống tới Biển Hồ, nó như một chuông báo tử cho ngư nghiệp và nguồn cá vốn là thực phẩm của ngót 70 triệu cư dân sống ven sông.
việt nam khai quốc: dương thanh và vô ngôn thông (chương 6, phần 2)
Nhiều trí thức Việt Nam trong số [thấm nhuần Hán học] vẫn quyến luyến với nền văn hoá bản địa từ thuở chữ Hán chưa được du nhập. Một số… đã bầy tỏ sự quyến luyến này bằng việc cố gắng diễn đạt các câu ca dao tục ngữ bản địa bằng chữ “Nôm” [hoặc] qua những nỗ lực chống lại tầng lớp cai trị nhà Đường.

Bình Luận mới