MỞ ĐẦU
Bài viết sau đây không phải là nhận-định hoặc phê-bình toàn bộ tác-phẩm Ai của Đặng Thơ Thơ, mà dựa vào một vài ý đến từ Ai.
A. THỂ-VĂN CỦA AI
Ai là một tác-phẩm rất sáng-tạo, về hình-thức cũng như nội-dung, cứ xem phân-đoạn thì biết.
A-1. Nhận-định trong Ai [2023] rất gần với Khả-thể [2014]; cho nên tôi không nghĩ Ai là tiểu-thuyết. Xin nói rõ hơn như sau:
A-2. Khả-thể là tuỳ-bút [essay writing]. Tuỳ-bút vốn có cỗi nguồn từ Michel de Montaigne [Essays, 1580]. Có thể Đặng Thơ Thơ không để ý đến nhà văn nổi-tiếng người Pháp này. Nếu so với essays của Montaigne như “On the Power of Imagination” hoặc “Use Makes Perfect” thì Ai của Đặng Thơ Thơ phá cách. Nhưng, tác-phẩm Ai không hẳn là tuỳ-bút cũng không hẳn là tiểu-thuyết.
A-3. Vấn-đề trong Ai liên quan tới ngôn-ngữ, không trong truyền-thống ngữ-học cũng không trong truyền-thống triết-học.
A-4. Heidegger có nhận-xét thế này: “Ngôn-ngữ là cái nhà của hữu-thế “being”. Vì “being” không viết hoa cho nên “hữu-thể” ở đây là “người”. “Being” viết hoa là Hữu-thể sâu nhất không có bến-bờ. Being này là nguồn mạch cao nhất hay essence [không tên] (xin đọc Idea [Ideen] của Husserl). Tóm lại Being bao trùm không-gian và thời-gian, (xin đọc Sein und Zeit của Heidegger). Chữ không-gian ở đây có nghĩa là vô-tận theo nghĩa Logos còn thời-gian ở đây là điểm trong hiện-tại hay Epoch.
B. TRÙNG-ÂM DỊ NGỮ
Đi tìm cái gọi là Ai, bắt đầu là cách phát-âm của Ai và I. Trong tác-phẩm của Đặng Thơ Thơ, AI và I khác nhau như sau:
B-1. Phát-âm chữ “Ai” trong tiếng Việt và chữ “I” trong tiếng Anh.
B-2. “Ai” tiếng Việt, mở miệng, lưỡi hơi cong lên.
B-3. “I” tiếng Anh, mở miệng nhỏ, lưỡi để yên.
B-4. “Ai” trong tiếng Việt có dạng cho một cách hỏi về tha-nhân, [other], ví-dụ: “Ai?” như “Ai đó?”
B-5. “I” trong tiếng Anh là chủ-từ, số ít, subject, có nghĩa là “Tôi” trong tiếng Việt.
B-6. “Ai” trong số 5 chỉ “cái Tôi trong ý-nghĩa về “tha-nhân” [other Ego] hay “cái Tôi suy-tư” trong cộng-đồng. Đây là tư-tưởng trong Hiện-tượng Luận của Husserl khi Husserl làm sáng tỏ “cái Tôi tư-duy” của Descartes.
B-7. “I” trong số 5 là cái Tôi Tư-duy trong tư-tưởng của Descartes, “Cogito ergo Sum”.
B-8. Như vậy, phát đoạn-luận “Tôi tư-duy nên tôi biết tôi hiện-hữu” không phải chỉ cho Tôi [I] mà chính là “tôi” trong mỗi Tha-nhân [Ai]. Vì ai cũng có cái “Tôi tư-duy” nên tôi cũng biết Ai suy-tư cho nên tôi biết người khác hiện-hữu như tôi [I]
* * *
C. NGÔN-NGỮ VÀ DÂN-TỘC
Nội-dung cuốn Ai của Thơ-Thơ gồm những tiêu-đề có vẻ liên quan đến nhau, nhưng có những phần xoay quanh một chủ-đề xa hơn. Ví dụ, câu hỏi: Ai [tiếng Việt] và I [tiếng Anh] là Tôi [I]. Phát âm lên chúng như nhau. Nhưng vì Ai và I nằm trong hai ngôn-ngữ khác nhau cho nên chúng rất khác nhau, theo cách nhìn vào sự-vật [nature/dựa trên kinh-nghiệm] cũng như dựa trên nhận-thức [epystemology]. Cho nên, định-nghĩa và cách dùng âm-thanh để mô-tả ý chính là tiếng nói riêng của mỗi dân-tộc, trải-nghiệm trong không-gian và thời-gian, trong những nhóm người ở mỗi miền, trong địa-dư, trong văn-hoá và trong lịch-sử.
C-1. Những điều ở trên xin viết lại thế này: I và Ai, hay “tôi’ và “ai”.
C-2.Diễn theo kiểu tiếng Việt, “Tôi là Ai?” Trả lời “Ai là Tôi.”
C-3. Nếu thế, nhận-thức của Descartes, “Tôi suy-tư cho nên tôi biết tôi hiện-hữu” chưa đủ, vì thiếu yếu-tố không-gian, thời-gian trong vấn-đề suy-tư của tôi.
C-4. Tôi [I] không thể tách rời những ý-nghĩ trên ra khỏi suy-tư về con người, điểm quan-trọng trong các thuyết bàn về Nhân-bản [Humanism].
C-5. Humanism hay Nhân-bản Luận là suy-tư gay gắt nhất của Heidegger. Trong cuốn Besinnung [Mindfulness]. Ông có bài thơ bàn về Ý-thức [Epystemology] như sau:
Hiểu vấn-đề rồi thì vứt nó đi hay cất nó đi,
Để nhảy từ cao
vào cõi thẳm sâu của ký-ức (1)
Tức là nhảy vào một chốn hoang-vu (2)
Nên nhớ
trước mặt mình là “Ai đó”?
Ai đó có phải là người?
Cứ nói thẳng
“Cái gì đó”?
Và hỏi thẳng Hữu-thể [being/Being] là gì?
(2) Chữ hoang-vu ở đây có nghĩa là cõi sâu-thẳm không có bến bờ [Being]. Heidegger dùng chữ Abgrund để chỉ ý-niệm này. Cho nên chữ Being [Hữu-thể] viết hoa là ý-niệm khát khao như trường-hợp bàn về vũ-trụ trong ý-nghĩa siêu-hình nhưng không thể chứng-minh.
D. MISE-EN-ABÎME [Tìm về cỗi-nguồn]
Trong tiếng Pháp chữ Abîme có nghĩa là “uyên-nguyên”, “cỗi-nguồn” hay Abyss trong tiếng Anh hoặc Abgrund trong tiếng Đức.
I I I I I I I I
0 1 2 3 4 5 6 7
3. Tôi tạm dùng số từ 0 đến 7… để trình bày ý của tôi về cường độ của I. từ sơ khai [1] lớn lên đến số 7… Số 7 không phải là độ ý-thức tận-cùng hay cao nhất.
4. “Chủ-âm tái-hiện” hay “I” trong tác-phẩm Ai tiếp-tục lớn lên. Đọc I theo tiếng Anh chúng ta có thể hiểu ‘ý-thức” về tôi “tiếp-tục lớn lên” hay “sáng-tỏ”. Nếu không nhìn vào chữ viết mà chỉ đọc lên thì I trong tiếng Việt sẽ là Ai. Đọc theo tiếng Việt “I” là “Tôi”, cũng như “I” trong tiếng Anh, Tôi là Chủ-Từ còn Ai là Túc-từ trong tiếng Việt
5. Nếu hiểu theo cái biết về tha-nhân thì Ai, trong tiếng Việt là chủ-tự, như “Ai đó?”
6. Tác-phẩm Ai là một câu hỏi nhưng tên tác-phẩm Ai không ghi dấu hỏi [?] sau chữ Ai. Như vậy “Ai” trong tiếng Việt có thể là tôi “I” trong tiếng Anh. Do đó chủ-âm I không có dấu hỏi.
7. Trên thực-tế, trong tiếng Việt, chữ Ai đọc lên hay viết ra đều bao hàm câu hỏi [?]. Có lẽ vì thế Đặng Thơ Thơ không cần dấu hỏi. Hoặc Đặng Thơ Thơ có ý khác?
8. Nếu một người đứng trước gương soi thấy mình, thì dù người đó biết hình mình trong gương là ảo, người đó vẫn nghĩ rằng: Nếu không phải là “ta” thì là “ai”. Trong trường-hợp này “Ai” không phải là tha-nhân.
9. Một phụ-nữ khi mang thai ý-thức rằng: “Ta sẽ là mẹ”. Rồi sau khi hạ-sinh đứa bé, phụ-nữ ấy nói: “Ta là mẹ”. Câu trước, “Mẹ” là một ý-niệm [concept]. Câu sau “Mẹ” là lẽ tự-nhiên [nature]. Ý-niệm không phải là sự-thực. Tuy tự-nhiên theo bản-năng và suy-tư theo trực-giác [3] coi đó là lẽ tự-nhiên nhưng trong thực-tế hay trong đời sống thì sự-thực về mỗi người mẹ lại khác nhau. Chỉ có một điều không chối cãi được “Mẹ vẫn là Mẹ”.
Như trên, tôi đã nhắc tới cụm từ MISE-EN-ABÎME, là cách diễn-tả tìm về nguyên-thuỷ. Bởi thế theo lối trình bày này chúng ta tạm xác-định vấn-đề hiểu biết của chúng ta về đối-tượng [consciousness] chỉ là giả-thiết [supposition]. Theo lý-thuyết tương-đối hay tương-ứng của Einstein, thì vũ-trụ nằm trong định-luật tương xứng. Nhưng thuyết Lưỡng-tử hay Quantum cho biết “vạn-vật ảnh hưởng nhau” cho nên chúng không còn nguyên vẹn. Đây là ví-dụ: khoa Vật-lý không gian không thể tính ra lực của Photon và Boson khi chúng va chạm nhau [theo Sojeph Aziz và Richard How [University of London] / Journal Nature, Nov. 26-2025]
Như vậy, Mise-en-Abîme chỉ là một gợi ý hay là một mơ-ước chứ không phải là một bảo-đảm tìm ra nguyên-thuỷ tức là Being hay Abgrund
Cách trình-bày “I” của Đặng Thơ Thơ xem ra hợp với quan-niệm Siêu-nhân của Nietzsche, tức là ý-thức về cái Tôi [I] tiếp tục vươn lên. Trên thực-tế, cái Tôi trong thế-gian con người không độc-lập. Tôi là “I”, ego, nằm trong thế-lực nhân-sinh, tức là vũ-trụ của con người. Xét theo tính xã-hội, quan-niệm hiện-hữu về người không thể ra ngoài vấn-đề Kinh-tế. Các nước Cộng-sản đã thấy thuyết của Marx không cho họ miếng ăn cho nên họ thèm mâm cơm Tư-bản. Tầu là một ví-dụ hùng hồn. Và Tầu đang thành-công rất đáng nể.
Các hậu-quả Kinh-tế cho thấy những con số dựa vào thực-tế chứ không dựa trên toán-học. Ví dụ gần đây nhất như sau, trong khi bảng A cho thấy quần-chúng hồ hởi [có hy vọng],
Trong khi
A. Consumer sentiment Index up: 30% more depressed
then
B. Current Economic Index slid to 30% depression
(A có nghĩa là giá sinh-hoạt lên quần chúng không vui. Thị-trường kinh-tế lên quần chúng cũng không vui. Bởi vì quấn-chúng thấy cả hai trường hợp đều không có lợi cho họ. Tóm lại: quần-chúng lo cho chính họ chứ thị-trường và hoạt-động kinh-tế không giúp họ tốt hơn.
Kinh-Tế xuống 30%
Quần-chúng thấy tấm ngân-phiếu tiền-lương của họ mang về trông có vẻ nhiều hơn [bigger check] nhưng vật-giá vẫn lên cao. Làm sao ra khỏi ưu-tư [depression] [Tài-liệu lấy từ Bloomberg, Dec. 19-2025] so với tháng 12-2024. Đó cũng chính là định-luật Quantum.
Tóm lại, đường biểu-diễn Mise-en-Abîme chỉ là giấc mơ, không những chỉ thiếu giả-thiết [suppositions] mà còn không có chuyện nó là con đường vun vút đi tìm ý-thức [consciousness] hay về Hữu-thể [Being]. Trong khi ấy con-đường vươn tới Siêu-nhân chỉ là sức-mạnh tiến lên để đập tan Hư-vô đang phong toả Âu-châu trong thế-kỷ 19 và ngay trước đó kể từ thời Trung-cổ.
Vậy thì tác-phẩm Ai là một câu hỏi lớn về ý-thức [consciousness] xoay quanh hai chữ Ai và I hay ngược lại.; I và Ai.
E. HEIDEGGER VÀ VẤN-ĐỀ NGÔN-NGỮ
Ngôn-ngữ là cái nhà của hữu-thể [being]. Ở đây có nghĩa là con người. Trước khi thành hữu-thể [being]. Theo triết-học của Heidegger, hữu-thể còn nằm trong điều-kiện cách [Da-sein] bởi thế Heidegger viết “Da-sein/be-ing” , tức chưa phải là hữu-thể, để phân biệt với “Dasein” hay “being”, tức đã trở thành hữu-thể.
Trong Ai của Đặng Thơ Thơ, ở những trang từ 25 tới 29 có chuyện một cậu bé ý-thức về tiếng nói. Đúng ra đây là vấn-đề nói tiếng Việt trong xã-hội mà gia-đình cậu bé thuộc nhóm Việt di-dân. Chuyện này chỉ là một trong số những hiện-tượng khác nhau tuỳ vào hoàn cảnh khác nhau.
Ngôn-ngữ chính là một hệ sinh-thái ngay từ lúc ban đầu của một nhóm người. Nhưng dưới áp-lực về kinh-tế, chính-trị và văn-hoá từ bên ngoài xâm-nhập thì ngôn-ngữ ban đầu sẽ trở thành một câu hỏi lớn liên-quan tới lý sinh-tồn. Nếu không nói là có lúc “nguy vong”. Tiếng nói của nhóm người “lưu-vong” hay ngoài nước và tiếng nói của nhóm người “trong nước” tuy có điểm cùng chung cỗi-nguồn nhưng đã khác nhau. Tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ-châu La-tinh cũng như tiếng Pháp ở ở Canada, và tiếng Anh ở Mỹ là những ví dụ điển-hình. Con người mặc nhiên phải chấp-nhận những áp-lực của chính-tri, kinh-tế và văn-hoá trong những môi-trường khác nhau, nói chung là vấn-đề tạo ra lịch-sử [historical epoch].
Nhận xét của Heidegger cho rằng ngôn-ngữ là cái nhà của hữu-thể [being] tức là con người hay một dân-tộc. Như vậy tại sao có người lại đề-nghi bỏ cái nhà đó đi? Đề nghị như thế có nghĩa là “bỏ dân-tộc đó đi?” Bỏ nhà đi thì dân-tộc đó phải lưu-vong. Đầu thế-kỷ 20 trở vê trước giới văn-học Việt-Nam thường có câu: “Nôm na là cha mách qué”, nghĩa là chữ Việt không có giá-trị. Nói như thế hay nghĩ như thế chẳng khác nào bảo người Việt không phải là con người?
Nếu một người Việt đứng trước gương chợt hỏi “Ai?” rồi cũng chợt biết ngay mình là “Ai”, có nghĩa là “Tôi” không cần phải dịch cái “Tôi” sang tiếng Anh “I”. Như vậy người đó không cần “chuyển từ ngôn-ngữ này sang ngôn-ngữ khác theo cách phát-âm để biết phát âm “I” gần với phát-âm “Ai”. Lối “chơi chữ” như thế chỉ hiểu được giữa những người Việt trong cộng-đồng Việt ở Hoa-Kỳ. Tuy nhiên, cuốn sách của Đặng Thơ Thơ không bàn về ngữ-nghĩa học [semantics] mà liên-quan tới ngôn ngữ Việt trong hoàn-cảnh sống của người Việt trong đó những vấn-đề như xã-hội, văn-hoá và ngôn-ngữ có tác-động đến suy-nghĩ của một cá-nhân. Tuy nhiên để hiểu rõ hơn về những hoàn-cảnh sống này chúng ta cần một công-trình nghiên-cứu khác.
F. MỘT ĐIỂM TỰ-NHIÊN TRONG NGÔN-NGỮ VỀ Ý-THỨC
Trong tác-phẩm Ai của Đặng Thơ Thơ, ở trang 29 cậu bé nói: “… nghe tiếng Việt thì con là con. [chữ con in nghiêng là chủ ý nhấn mạnh của tác-giả bài này]. Trong trường hợp này nếu cậu bé nói thêm: “Con thích dùng chữ ‘con’ vì trong tiếng Việt con là con mẹ. Trong khi ấy trong tiếng Anh chữ ‘I’ không chỉ rõ con là con mẹ, nếu con chỉ nói ‘I love you’”. Rõ ràng trong tiếng Anh cần chỉ định đối tượng: “Mom! I love you.” Trong khi đó tiếng Việt rất rõ ràng: “Con yêu mẹ!” Hiển nhiên người Anh/Mỹ không hiểu sai vì “ngôn” [speech] của họ đã trở thành tập-quán. Họ nói tiếng Anh chứ họ không nói tiếng Việt. Do lẽ đó dùng ngoại-ngữ ít nhiều là “dịch”, đặc biệt ở những trường-hợp khi dùng cấu-trúc phức-tạp hay dùng “phrasal verbs”, ví-dụ: to snap up buying a property.
G. VẤN-ĐỀ Ý-THỨC VỀ UYÊN-NGUYÊN
A > 0 < B
Biểu-đồ A cho thấy một ý-thức tiến về Uyên-nguyên 0. Biểu-đồ B cho thấy cùng ý-thức đó nhưng trở lại Uyên-nguyên 0. Trên thực-tế vận-hành của ý-thức A và B đều có lên có xuống. Bởi vì Nhận-định hoặc ý-thức chẳng qua chỉ là hiện-tượng vì sự-thực [the real] không chắc “như đinh đóng cột” cho nên những khám phá mới sẽ cho thấy tìm-hiểu không phải là nhận-định đúng [Being]. Cái gọi là “đúng” chỉ là hiện-tượng ở kia [Dasein]. Ngay cả hiện-tượng khi có mặt [Dasein] khác với hiện-tượng chưa hoàn-toàn có mặt [Da-sein].
Trong AI của Đặng Thơ Thơ ý cậu bé là: “trong tình mẹ con dùng tiếng Việt với nhau rất tự-nhiên trong văn-hoá, linh-hồn và yêu thương” nhất là khi “con nói với mẹ”. Bởi vì hai tiếng Mẹ và Con có đời sống ngay từ lúc phát âm ban đầu mà không cần định nghĩa. Hai âm Mẹ và Con tiếp tục trong văn-hoá và trong xã-hội, chứ không phải là chuyện “chuyển ngữ”. Tuy nhiên, hai âm này sẽ mai một nếu mẹ con sống trong xã-hội và trong văn-hoá khác, hoàn toàn xa cách cội-nguồn lâu đến độ cả mẹ lẫn con không còn “ý-thức vong-thân” [déraciné/uprooting].
Vong-thân hay mất cội nguồn do bị áp-lực về kinh-tế hay chính-trị là chuyện đáng buồn của một vài dân-tộc, ví dụ họ phải tình nguyện bỏ xứ như đã được bàn đến trong AI của Đặng Thơ Thơ. Từ chuyện lưu-vong vì cơm áo cho đến chuyện tha-hoá về ngôn-ngữ.
Trước khi ngừng bút, tác-giả xin nêu lên một điểm rất đặc biệt ở đây về ngôn-ngữ. Trong tiếng Việt cách xưng hô không phải chỉ giản-dị qua âm-vận. Tiếng Việt đơn âm nên trong mỗi âm ngôi-thứ về con người và sự vật được diễn-tả tự-nhiên theo hình dạng, theo không-gian và thời-gian cũng như theo lẽ gần xa, trên dưới trong tình bạn, tình gia-tộc… Người Việt nhìn nhau theo huyết-thống rất chặt chẽ trong cách dùng ngôn-ngữ.
Một cô nữ-sinh Tầu nghe cách xưng hô, thứ bậc của người Việt đã tủm tỉm lắc đầu nhận-định “Rõ quá như thế còn làm ăn gì nữa!” Ý cô muốn nói: nghe qua cách xưng hô của đôi thanh-niên nam nữ Việt ngoài đường người Việt ai cũng biết liên-hệ/quan-hệ của hai người. Họ là bạn, là họ hàng hay họ là người yêu của nhau.
Một cô gái Việt nói với bạn trai rất thân của cô, nhưng chưa phải là bồ, như thế này: “Anh chưa phải là ý trung-nhân của em anh không được xưng hô với em như thế.” Một cô Việt khác nói thẳng thế này: “Ô hay, sao anh lại gọi tôi là em và xưng anh với tôi! Quan hệ của tôi và anh chỉ là tình bạn mà thôi!”
Hai ví dụ trên cũng nhắc cho chúng ta thấy lối dùng chữ trong hai miền Nam Bắc ở Việtnam có chỗ khác nhau, chưa kể đến khi người Việt xa quê hương lâu quá như bị lưu-đầy, mất cả ngôn-ngữ, tới độ vong-thân như những ví-dụ trong Ai của Đặng Thơ Thơ.
Dĩ-nhiên bài viết này không có kết luận vì Ai của Đặng Thơ Thơ rất súc-tích, [xúc-tích/ succinct] miên man và đầy gợi ý. Tác-giả mong rằng bài viết của tác-giả về Triết-học của Derrida, VĂN-PHẠM LUẬN VÀ THUYẾT KHAI-MỞ CẤU-TRÚC CỦA JACQUES DERRIDA trên Da-Màu sẽ hé mở và giải-thích phần nào ý trong bài này của tác-giả.
Nguyễn Quỳnh
2025