Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Hội Họa, Nghệ Thuật, Nghiên Cứu, Tạo hình, Triết Học Email bài này

BIỆN-CHỨNG KHƯỚC-TỪ THE DIALECTICS OF NEGATION

01 Lý-thuyết Biện-chứng Khước-từ của triết-gia tân Mác-xít Theodor W. Adorno trùng với tên tranh của tôi nhưng rất khác nhau. Adorno không chấp nhận bất kỳ trường-phái tư-tưởng nào khác hơn là Xã-hội Chủ-nghĩa. Riêng tôi, tôi không chấp nhận ảnh-hưởng bút-pháp hội-hoạ cổ cũng như kim. Hơn nữa, tôi cũng không chấp nhận bản-sắc của chính tôi, dù nằm trong hiện tại. Có hai lý-do: a) Bản-sắc nào cũng tự-nhận là độc-đáo, có khi hơn tất cả. b) Tôi muốn tìm bản-sắc mới thì tôi không thể nào ôm bản-sắc cũ, ngay cả bản-sắc cũ chỉ mới có vài tiếng trước đây trong hiện-tại.

There is a sharp distinction between The Dialectics of Negation, the title of my painting and The Dialectics of Negation, the socialist theory of Theodor W. Adorno. While the neo-Marxist philosopher rejects all schools of thought, my painting rejects all historical sovereigns, classical as well as contemporary. This helps me realize that my own identity in the past of the present may become a trap negatively affecting my creativity. In fact I do not reject my identity; I only avoid it and so I am able to move on, hopefully to discover my new identity.

02 Theo Adorno, mọi việc làm phải phụng-sự xã-hội. Bởi thế mọi tư-tuởng chỉ là ngôn-từ không cụ-thể cho tiến-bộ của xã-hội, ví-dụ chủ nghĩa Lãng-mạn và Hiện-sinh. Tuy ông có lý nhưng ông quên một điều là ý-thức hệ nào cũng có khe hở quật lại chính ý-thức hệ, ở đây là Xã-hội Chủ-nghĩa và nhất là ở những cơ-chế vô-chính-phủ và Xã-hội Chủ-nghĩa độc-tài.

Adorno’s theory. For him, true works ought to being practical for social progress. Therefore, rhetorical and speculative activities are mere products of thought including that of Romanticism and Existentialism. While he is right on some critical points he should be conscious of the backfire of all ideologies, socially and politically because there might have loopholes for abuse, such as anarchy and dictatorship.

03 Chúng ta cũng nên biết Xã-hội Chủ-nghĩa và Khoa Xã-hội Học khác nhau. Adorno, khi bàn về lý-tưởng Xã-hội Chủ-nghĩa đã không hề nói đến phương-pháp thi-hành nhằm giải-quyết những vấn-đề cụ-thể trong xã-hội, Các nhà khoa-học về xã-hội, tuy cũng không thể giải-quết vấn-đề xã-hội, nhưng phân-tích có chứng-liệu rõ ràng, từ đó chúng ta sửa sai và tìm lối đi mới.

In reality, Socialism and Sociology are at odds to each other. Adorno’s standpoint speaks for ideology that is grossly absent of practical plans and works for specific problems in society whereas, social scientists gather evidences hinting to probable solutions.

04 Tuy Adorno rất đúng khi ông thấy vấn-đề ngôn-ngữ nhàm trong Triết-học thì chính ngôn-từ của ông cũng có vấn-đề nhàm là chúng ta không hề thấy phương-pháp ứng-dụng nào hữu-hiệu của ông trong xã-hội để tiến về cứu-cánh.

Indeed, although Adorno’s attack of the rhetorical practice in the history of philosophy is sound, his own words overwhelmingly command giving no room for his socialist practicum leading to an end.

05 Ông bàn về ý-thức và những thứ kiến-thức đáng ngờ cũng như ông cảnh-giác xã-hội chủ-nghĩa khi đã nắm quyền cai-trị lại phản cách-mạng và vi-phạm nhân-quyền để được tồn-tại muôn năm, kể cả độc quyền bán nước. Dẫu sao ông đã xuất-sắc nhìn ra, ngay trong thời đại của ông, xét theo Biện-chứng Khước-từ, khi ác-mộng chúng ta thấy ngày nay chưa hiện ra ở chân-trời lúc đó.

He talks about consciousness and doubting knowledge and warns us against possible anti-revolution of some socialist state after gaining power. But he fails to expose crucial mistakes committed by socialist totalitarian state that betrays the socialist ideal, violating human rights for the party’s ambition of ruling society infinitively. However, to be fair, Adorno had keenly foreseen the dialectics of negation of such social violation in his time when nightmares were yet not seen on horizon.

05 Xin xem (đọc) tấm-tranh Biện-chứng Khước-từ (2020) của tôi. Từ trái sang phải là những mảnh thực-tại kể từ biền-cố 11 tháng 9, 2001. Biến-cố ấy không chỉ phá tan hai tháp Trung-tâm Thương-mại quốc-tế mà còn nêu lên câu hỏi về sự-thật sau biến-cố ấy, cũng như thử xem sức-mạnh của đế-quốc.

My work The Dialectics of Negation apart, viewed from left to right represents slices of actual reality, after the catastrophic event of September 11, 2001 that did not only befall the World Trade Center financial buildings but that also questioned the truth behind that sudden attack as well as that tested the might of the ruling empire.

the dialectics of negation

Nguyễn Quỳnh, The Dialectics of Negation, 2020, oil on canvas.

06 Những vệt mầu ở góc phía trên bên trái tấm tranh tiêu biểu cho ánh-sáng rực-rỡ miền Tây Hoa-kỳ, mở ra bầu trời mênh-mông của mîền Tây khác hẳn vơi không khí mát lạnh và giai-cấp thượng-lưu ở phía Đông. Tiếp theo là phó-bản tấm tranh Mahoning (1956) của Frank Kline, tiêu-biểu cho trường-phái Biểu-hiện Trừu-tượng New York. Ngộ thay trong hiện-tượng Graffiti thì bút-pháp này ảnh-hưởng đến thế-hệ sau biến-cố nhân-quyền ở Hoa-kỳ, thích hợp với nhóm “nghệ-sĩ” da-mầu. Trong khi ấy nhóm “nghệ-sĩ” gốc Mỹ-châu La-tinh, phải nói rõ là người Mỹ gốc Mễ, thường gọi tắt là “Hispanic” để tránh đụng tới Mỹ-châu La-tanh, lại cóp chép hình-ảnh Chuột Mickey. Thời-kỳ naỳ Graffiti còn ở New York City, và chưa phải là phong-trào nghệ-thuật.

The powerful colors on the upper left corner of my painting signify the glorious spectrum of the West Coast in contrast to the cold and genteel climate of the East Coast. It is followed by the turning of a single page showing Kline’s Mahoning, 1956, one of the legendary tokens of the School of New York, or Abstract Expressionism; ironically inspiring the social unrest emotion of the time, the graffiti. The public outcry generally saw graffiti an act of vandalism, either following a distant abstract art form preferable by the color artists or Mickey Mouse images mimicked by the Hispanic ones.

image

Unknown Artist, Untitled, photo taken 2014, Downtown, El Paso, TX

08 Theo hiểu biết sơ lược của tôi, Graffiti chỉ thực sự trở thành nghệ-thuật khoảng sau thập-niên 90, ở Tây-Nam Hoa-Kỳ, trong những khu kinh-tế thấp của di-dân nói tiếng Tây Ban Nha (Spanish). Kể từ đây bút-pháp của Graffiti cho thấy cỗi-nguồn đến từ ngôn-ngữ Maya trong cách viết gọi là Glyphs, mỗi ngày mỗi biến chuyển khác đi, đúng theo Biện-chứng Khước-từ. Tôi rất ngưỡng-mộ những tác-phẩm Graffiti đẹp vẽ trên toa “xe lửa” chở hàng. Tôi tưởng-tượng những chuyến tầu đó là viện bảo-tàng di-động. Cho nên, trong suốt nhiều năm tôi đặt ra câu hỏi về bản-sắc của tôi, về xã-hội của tôi, về văn-hóa của tôi, cũng như về thành-kiến xem thường gíá-trị ngoài-lề xã-hội.

However, to my scanty knowledge, the true and significant form of Graffiti painting as a new art only manifested later in the Southwest states where it has been proudly shown in many sections of the Hispanic low income communities and on the cargo compartments in various modes of style distant from the Maya glyphs. While the Graffiti art has captured my imagination I have the feeling that the trains “carrying” such art like moving museum such that I have to take off my hat to some unknown masters of Graffiti, and for many years, I have questioned about myself, my society, my culture as well as about the prejudice of marginalization.

image

Maya Language, the glyphs

09 Trở lại với tấm tranh của tôi, tôi đã dùng một nét rất mạnh như gươm lượn theo vận-tốc hình-ảnh Graffiti vẽ trên tầu, bay tới tận góc phải trên cao. Trong tranh có hình nhà thờ Trinity ở New York City, do Richard Upjohn hoạ-kiểu (1839-1846) với những mảnh tan vỡ từ hai tháp gần đó, lúc này đã trở thành những nét thẳng đứng song song trong hoài-niệm, cho nên chúng trong suốt ngoại trừ hai toà nhà chọc trời khởi thuỷ ở New York City, Flatiron và Woolworth, chứng-kiến những gì đã xảy ra không ghi theo lịch-sử (history) mà đi sâu vào bản-chất của con người tạo ra lịch-sử (Historicity).

Back to my painting, a powerful stroke of a sword-like gesture parallels the fast moving lines, metaphor of Graffiti art on a train, diagonally reaches the far top corner at the right section of my painting. Yet, this gesture shows Richard Upjohn’s Trinity Church, New York City, 1839-1846 showered with confetti-like debris from the collapsing twin buildings, now seen as just imaginative vertical lines so transparent that other skyscraper buildings, the Flatiron and the Woolworth stay put as strong witnesses to help us investigate historicity.

10. Kết-luận, tuy theo Biện-Chứng Khước-Từ, thì ở đây Triết-học và Nghệ-thuật đều không phải cùng chung Ý-thức Hệ, mặc dù cả hai đều nhập thế, nhưng ở một điểm chúng phải tách ra để được độc-lập theo lẽ tự-nhiên vì chúng chính là tiếng nói khác nhau của con người. Chúng ta sẽ có dịp đọc Lý-thuyết Thẩm-mỹ (Aesthetic Theory) của Adorno để biết ý-niệm cái đẹp theo tân Xã-hội Chủ-nghĩa ra sao.

In sum, the Dialectics of Negation, neither philosophy nor art, can be assumed as ideological totality, especially for the latter; save their thrust to human problems. Their disparity is inherently justified as they are different echoes of human voice, socially and artistically. In due time we will have a chance to sample Adorno’s Aesthetic Theory in order to know what and how neo-Socialism conceptualizes the beautiful.

.

Ghi-chú: (1) Trong suốt thập-niên 80 và 90, Người Mỹ gốc Mễ từ chối học tiếng Anh và rất căm-thù giáo-dục. Về lịch-sử và chính-trị, họ coi mảnh đất từ California tới Texas là đất của họ vì thế họ có quyền cư ngụ. Chủ ngân-hàng IBC là người Mỹ gốc Mễ sửa soạn ra tranh-cử Tổng-thống HK, đã tuyên bố nếu ông đắc cử thì những vùng này sẽ nói tiếng Tây Ban Nha. Bây giờ chắc ông đã hiểu lịch-sử cho nên ngân-hàng IBC ở San Antonio treo 2 lá cờ HK rất cao và to. (2) Graffiti khác với Mural Painting ở Tây-Nam HK. Graffiti có gía-trị thẩm-mỹ và sáng-tạo rất cao, đã đưọc lên bưu-hoa (postal stamp, 2020) tuy không có hình, và ảnh-hưởng Graffiti tới cả vài nước ở Âu-châu, ví dụ ở Athens, Hy-lạp là nơi tôi tới thuyết-trình trong kỳ Đại-hội Triết-học Quốc-tế kỳ 18, năm 2013. Trên xe điện từ Athens tới phi-trường quốc-tế Athens để trở lại Hoa-Kỳ tôi đã bất chợt thấy một bức tranh Graffiti và đã vội vàng cóp chép bằng bút chì rồi về nhà vẽ lại như sau vì khi trên xe điện, cellphone của tôi lúc đó hết power. Tâm tranh này có tên là Homage to Graffiti Art.

image

Quynh Nguyen, Homage to Graffiti Art,, 2013, watercolor based on a pencil sketch showing a Graffiti painting on the wall along side of the highway from the City of Athens to Athens International Airport. This painting was recreated from the author’s memory in the same year.

.

bài đã đăng của Nguyễn Quỳnh

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)