Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Học Thuật, Nghiên Cứu, Song ngữ, Triết Học Email bài này

Ý-THỨC LÀ GÌ? Ý-THỨC TRONG TRIẾT-HỌC WITTGENSTEIN VÀ TRONG NHỮNG TƯ-TƯỞNG KHÁC Ở VĂN-HÓA TÂY-PHƯƠNG–kỳ 2/ THE ONTOLOGY OF CONSCIOUSNESS IN WITTGENSTEIN PHILOSOPHY AND IN OTHER SCHOOLS OF THOUGHT OF WESTERN CULTURE (2)

Lưu ý độc giả, tuy hai phần Việt- Anh có cùng nội-dung, nhưng do đòi hỏi về ngôn ngữ có nhiều điểm khác nhau, và cả đối tượng độc giả khác nhau, nên cách tác giả trình bày, khai-triển, dẫn-chứng và đưa ra thí-dụ trong hai bản cũng có những điểm khác nhau.



KỲ HAI

Kể từ kỳ này, nguyên-tác tiếng Đúc trong Tractatus của Wittgenstein đuợc chép ra, đôi khi đi cùng với bản Anh-ngữ của D.F Pears và B. F. McGuinness để độc-gỉả so-sánh. Độc-giả cũng sẽ thấy cách chuyển ngữ của tôi, có những chỗ ngắn gọn. Ví-dụ:

1.11 Die Welt ist durch die Tatsachen bestimmt und dadurch, daβ es alle Tatsachen sind.

Dịch sát nghĩa: Thế-gian là những dữ-kiện đúng cho nên qua đó thế-gian là tất cả dữ-kiện.

Tôi dịch là: Thế-gian là những dữ-kiện cụ-thể.

Xin lưu-ý: alle là tính-từ (adj), alles là đại danh-từ (pron). Cho nên câu số 1, nên hiểu là: “Thế-gian là tất cả mọi thứ.”

Như chúng ta đã biết sơ-lược ở kỳ trước, Wittgenstein nhìn thế-gian như sau:

1. Thế-gian là tất cả. Đó là trường-hợp. (Die Welt ist alles. Was der Fall ist.)

Bởi thế, chữ “der Fall” không nên hiểu là trường-hợp (case), mà phải hiểu là “đúng vậy”/ “bestimmt”. Cho nên câu số 1 nên chuyển sang tiếng Việt là “Thế-gian rõ ràng là tất cả.” Xin được viết theo tiếng Đức thế này: 1. Die Welt ist bestimmt alles.Bestiimmt” là tính-tự, có nghĩa “rõ ràng, chắc chắn, cụ-thể” Người Đức thường nói: “Suchen Sie etwas Bestimmtes?” Nghĩa là: “Có phải bạn đi tìm cái gì cụ-thể hay không?

Ngay trong câu mở đầu ở trên, chúng ta đã chợt nhìn ra vấn-đề “thế nào là ý-thức”. Làm sao để có thể có ý-thức khách-quan về thế-gian dù là ý-thức khách-quan tương đối. Chỉ có Thượng-đế mới có cái nhìn khách-quan về thế-gian. Do lẽ đó, ý-thức là những cách nhìn thế-gian. Nói thế không có nghĩa cuộc-đời và thế-gian là một. Mở đầu Wittgenstein nhận-định hay đúng ra định-nghĩa thế-gian, rất quả quyết đến độ khác hẳn đầu-đề của cuốn sách Bàn về Luận-lý (Tractatus Logico-Philosophicus).

Nếu bảo “thế-gian là tất cả” thì nhận-định đó hoàn toàn đúng. Nhưng khi nói “đó là trường-hợp (der Fall) thì chúng ta thắc mắc. Tại sao nhận-định về thế-gian chỉ là một cách nhìn (der Fall) mà lại bảo thế-gian là tất cả? Có lẽ nên nói: Thế-gian là những cái nhìn riêng và chung theo hiểu biết và tình tự của con người. Nếu đúng như tôi nghĩ, Wittgenstein nên viết: “Die Welt ist alles, Was die Falle sind*). Nghĩa là “Thế-gian là tất cả mọi trường-hợp.” Chính câu tiếp theo (1.1) cho chúng ta thấy câu “những trường-hợp” có lý hơn.

1,1 Thế-gian là tổng-hợp những sự-kiện đúng, chứ không phải là những thứ vu-vơ. (Die Welt ist die Gesamtheit der Tatsachen, nicht der Dingr). Sở dĩ tôi gọi “Dinge” là “vu vơ” vì trong câu này Dinge ám-chỉ những gì không phải là sự-kiên đúng (Tatsachen). Như vậy chữ “Tatsachen” ở đây có nghĩa là “die Falle”. Thế có nghĩa những gì do tưởng-tượng mà ra không phải là cơ-cấu đích-thực ở thế-gian, như người Đức thường nói “Ins Reich der Fabel gehören.” Nghĩa là cái đó thuộc về thế-gian hoang-tưởng. Chữ Fabel cũng có nghĩa là ngụ-ngôn. Trong câu này chữ Reich có nghĩa là vương-quốc hoặc lãnh-vực. Cộng-sản đã trở thành một tập-đoàn độc-tài, hăm dọa dân, theo một lối suy-tư xã-hội và kinh-tế hão-huyền. Nhưng, chúng ta tự hỏi vì sao hão-huyền như thế mà chính-thể ấy lại nó mặt ở thế-gian? Đây là vấn-đề thuộc phạm-vi biện-chứng sử-quan của Hegel mà Adorno khai thác thêm gọi là “Biện-chứng nghịch-đảo” hay “Biện-chứng của cái vượt ra ngoài bản ngã (identity)” theo chữ Negative Dialectics của Adorno.1 Người Cộng-sản không đủ khả-năng hiểu Hegel chứ đừng nói tới Biện-chứng biết từ bỏ của Adorno. Nói đúng hơn, Cộng-sản sợ vòng biện-chứng của Hegel và của Adorno vì họ không chỉ sợ mất quyền-lực mà còn sợ họ đã và đang sai lầm từ căn-bản. Tóm lại, cứ theo lịch-sử thì Minh-Vương là một giấc mơ còn Bạo-Vương là chuyện ở thế-gian con người. Trong văn-hóa Sumer, khoảng trên dưới ba ngàn năm trước Công Nguyên, có thiên anh-hùng ca Gilgamesh luận về minh-vương, bạo-vương và con người lý-tưởng. Tất cả đều phải chết.

Nếu hiểu đúng ý của Wittgenstein thì chữ “Dinge” trong câu này chỉ vào những sự-kiên bất-thường hay không vĩnh-viễn, tức là chúng thay đổi bất ngờ. Như vậy, định-nghĩa về “Dinge” cần được xác-định rõ ràng, Bởi vì một số câu tiếp theo về Dinge nghịch lại với ý của ông. Tuy nhiên, nếu “vật” hay “sự-kiện (Ding) chỉ là hiện-tượng đổi thay hay bất ngờ trong cuộc-đời thì yếu-tố (Tatsachen) nào là yếu-tố cố-định. Dù rằng chúng ta biết yếu-tố theo lẽ tự nhiên (a priori) chúng ta vẫn cần trưng ra hay bàn đến. Có lẽ Wittgenstein muốn ám-chỉ những vật (Dinge) là thực-thể vô-nghĩa. Vô-nghĩa như một đường-lối chính-trị dựa trên quan-điểm trái với lẽ sinh-tồn. Đường-lối chính-trị ấy là một thể-chế “vô-luân/immoral, vô nhân/inhuman), và thiếu đạo-đức (unethical) vì nó thiếu lý-trí và độc-tài, mơ tưởng trở thành vĩnh-cửu. Đúng thế. Nhưng nếu bảo thế-gian là những cái đúng chứ không phải là cái sai thì chúng ta sẽ ngạc-nhiên vì có những sự-kiện sai lù lù trong thế-gian ví như “bi-hài kịch”, phi-lý, hão-huyền, và như trường-hợp chính-trị kể trên, không sao chối cãi được. Như vậy, không thể bảo rằng sự-kiện “Dinge” như cái búa, như hòn đá, và như cái cây hoàn-toàn vô-nghĩa trong khi chức năng của chúng rất rõ ràng (dinglich). Bởi thế, tôi đề nghị, câu 1.1 có thể nên viết như sau:

Thế-gian là tổng-hợp những sư-kiện đúng cũng như sai, công-bằng cũng như bất-công vì thế-gian theo luật bất-định của thiên-nhiên trong dó người và vật đếu bị đổi thay.

Chúng ta sẽ bàn thêm về sự-kiện (Dinge) ở những phần sau.

1.11 Thế-gian là mhững dữ-kiện đúng (bestimmt). (Die Welt ist durch die Tatsachen bestimmt und dadurch, daβ es alle Tatsachen sind).

1.2 Tất cả những dữ-kiện đúng ấy gom lại cho ta thấy trường-hợp nào có trường-hợp nào không. (Denn, die Gesamheit der Tatsachen bestimmt, was der Fall ist und auch, was alles nicht der Fall ist.)

Hai câu 1.11 và 1. 2 bổ-túc cho nhau. Sở dĩ chúng ta nhận-thức hay biết thế-gian là nhờ những yếu-tố đích-thực (Tatsachen) trong thế-gian. Chúng ta nói “yếu-tố đích-thực trong thế-gian” hay chúng ta nói “yếu-tố đích-thực tạo ra thế-gian”? Nghĩa thứ hai cho chúng ta thấy “thế-gian là quan-niệm nhận-thức của con người. Thế-gian trong ý-thức của con người là thế-gian trên trái đất này và đây là thế-gian có giới hạn trong nghĩa “thế-gian chúng ta đang sống theo kinh-nghiệm và hiểu biết của chúng ta.” Có phải đây là thế-gian hiểu theo nghĩa khoa-học nói chung hay vật-lý nói riêng? Nếu chỉ có thế thì ý-niệm và công-nghiệp của con người và về nhân-quyền có được kể là yếu-tố (Tatsachen) cụ-thể hay không? Nếu đúng thế thì yếu-tố hay dữ-kiện là linh-hồn trong thế-gian cũa con người. Song le, phân tích rõ những cơ-cấu làm thành thế-gian như thế này là một suy-tư siêu-hình, trừ phi Wittgenstein cho ví-dụ cụ-thể chứ không thể dựa vào phương-pháp lập-ngôn.

Ngay cả tư-duy của Marx, thường được coi là ưu-tư về xã-hội, vẫn còn luẩn quẩn trong suy-tư (speculative) thiếu thực-tiễn; tức là còn nặng tinh-thần Siêu-hình học, y như phân tích của Adorno. 2

Nếu có ai chợt hỏi chúng ta: “Thế-gian là gì?” Chúng ta sẽ không thoải mái bởi vì ngay tức khắc chúng ta không sửa soạn để trả lời câu hỏi đó. Hoặc là câu trả lời của chúng ta chỉ là những gì chúng ta thường nghĩ. Như thế, câu trả lời của chúng ta dựa trên kinh-nghiệm của chúng ta – vui hay buồn là chuyện hiển nhiên trên đời. Song le, đó chỉ là hình-ảnh những gì chúng ta thấy đúng. Đúng theo cuộc đời của mỗi người kinh nghiệm ra nhưng không phải là cuộc đời khác ở thế-gian. Bởi vậy, chữ “thấy” ở đây không phải là cái biết chi ly. Hơn nữa “thế-gian của tôi’” định-nghĩa hôm qua chưa chắc còn nguyên cho đến hôm nay. Wittgenstein khuyên rằng mọi định-nghĩa “nên mở” (ostensible definitions) để chúng ta dễ dàng xét lại đúng/sai. Nếu định-nghĩa đóng chặt thì lý-giải cuộc đời sẽ không uyển chuyển được.

Cả cuốn Cung-Oán Ngâm-khúc của Ôn-như Hầu bàn về đề-tài “Tạo-hoá bất-công”. Đề-tài này gồm nhiều điểm liên hệ với nhau trong thể thơ rất súc-tích và đầy ẩn-dụ (metaphors). Chúng là những hình-ảnh diễn tả bất-hạnh ở thế-gian, chỉ có câu hỏi, không có câu trả lời. Sau đây là một vài ví-dụ:

Tay Tạo-hoá cớ sao mà độc

Cái quay búng sẵn trên trời

Cầu Thệ-Thuỷ ngồi trơ cổ độ

Quán Thu-phong đứng rũ tà huy

Phong trần đến cả sơn khê

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này

….

Hiển nhiên Cung-Oán Ngâm-khúc là một thứ metaphor cho thế-gian của Ôn-như Hầu, đời của ông và xã-hội của ông.

1.13 Tất cả dữ-kiện cụ-thể trong không-gian hợp lý chính là thế-gian. (Die Tatsachen im logischen Raum sind die Welt.)

Câu này bổ-túc cho hai câu trên. Chỉ có một điều trình-bày thế-gian theo biểu-đồ luận-lý vô tình đưa luận-lý gần với con số ưu-việt, tức là đưa thế-gian vào khuôn mẫu y như những con cờ trên bàn-cờ. Để tránh lối nhìn máy móc và dễ hiểu sai chức năng của luận-lý, trong cuốn Tractatus, Wittgenstein đã nhận định rất đúng thế này:

4.128 Tất cả những thể của luận-lý đều không hề có con số. Nghĩa là trong Luận-lý không hề có con số ưu-việt.” Tức là không thể có một tiêu-chuẩn của luận-lý trước khi nhìn ra hình-thái và nội-dung của vấn-đề, ở đây là thế-gian.

Die logischen Formen sind zahllos.

Darum gibt es in der Logik keine ausgezeichneten Zahlen ,,,

Liền sau đó Wittgenstein phê-bình ý-niệm Nhất-nguyên và Nhị-nguyên trong tư-tưởng Đông Tây, như sau:

,,,und darum gibt es keinen philosophischen Monimus oder Dualismus, etc.

Phân chia thế-gian theo cách nhìn gọi là Nhất-nguyên hay Nhị-nguyên là phân chia thực-thể. Việc làm như thế thiếu tinh-thần triết-học. Đồng thời, làm như thế chúng ta rơi vào một tình-trạng lệch lạc (prejudice hay bias). Tức ý-thức sai và dĩ nhiên thiếu tinh-thần luận-lý.

Luận-lý chỉ là một phương-pháp để chúng ta phê-bình tư-tưởng. Luận-lý được áp-dụng để tạo ra một thế-gian có khả năng ứng-dụng như một chương-trình điện-toán. Thế-gian đó thường được gọi là “Virtual Reality” hiểu theo chữ “Artificial Intelligence,” Nhưng “Artificial Intelligence” không miêu-tả thế-gian mà thực-sự nó tạo ra một khối-óc nhân-tạo, một cách nhìn thế-gian và “viết ra chương-trình” để trình bày một mảnh thế-gian, tức kiểm nghiệm vấn-đề đúng (mở) hay sai (đóng).

Bảo rằng các dữ-kiện cụ-thể trong không-gian hợp-lý tạo ra thế-gian là một suy-tư theo Deductive Logic. Đây là điều mãi đến khi cao tuổi Einstein mới nhận ra tính bất-định của thiên-nhiên. Nghĩa là chuyện đời hay thế-gian không luôn luôn Deductive (Tất-định), nghịch lại với nhận xét của Einstein khi ông cho rằng: “Thượng-đế không bao giờ tung con súc sắc.”

1. 2 Thế-gian chia ra nhiều dữ-kiện.(Die Welt zerfällt in Tatsachen). Theo tôi, đây là vấn-đề suy-tư ảnh-hưởng vào ngôn-ngữ, nói cứ như kiểu dùng Matrix vào kỹ-thuật. Trên thực-tế không có thế-gian nào chia ra thành dữ-kiện (Tatsachen). Bảo rằng thế-gian bao gồm nhiều dữ-kiện thì hợp-lý hơn. Động từ zerfallen có hai nghĩa chính: (1) suy-thoái và (2) chia ra. Ngay cả nghĩa thứ hai (2) cũng miêu tả zerfallen là băng hoại bởi thế chúng ta nên hiểu zerfallen là chia ra. Pears và McGuinness dùng động-từ divide theo nghĩa thứ 2.

Tôi lại thiển nghĩ rằng Wittgenstein nên dùng một động từ khác, ví-dụ động-từ bao gồm, có hai dạng gần nhau, bestehen ausbestehen in (Die Welt besteht in Tatsachen.)

Tại sao? Chính Wittgenstein khuyên chúng ta nên dùng chữ-nghĩa rõ ràng. Cũng theo ông dù một tư-tưởng phức-tạp thế nào chăng nữa người nói hay viết về tư-tưởng ấy phải cố gắng diễn tư-tưởng ấy thật rõ ràng. Như vậy, chúng ta đừng dùng những chữ có nhiều nghĩa khác nhau và đặc biệt nghịch với nội-dung.

Trở lại câu 1.2, chúng ta thấy động-từ Zerfallen có hai nghĩa rất khác nhau: 1) Tan ra, đổ vỡ, suy thoái, rữa nát, suy sụp, ví dụ: Kultur und Moral waren zerfallen. Sự suy-thoái của văn-hoá và luân-lý. 2) Được chia ra thành phần-tử (in Phassen/ Teile zerfallen). Động-tứ zerfallen thường đi với in hay zu, và chia với động-từ sein. Ví-dụ: mit sich und der Welt zerfallen sein. Có nghĩa là xa lạ với chính mình và với cả thế-gian.

1.21. Mỗi vấn-đề thảo-luận có thể là một trường hợp hoặc không phải là một trường hợp. Đừng bàn đến những gì không dính dáng đến vấn-đề đó. (Eines kann der Fall sein oder nicht der Fall sein und alles übrige gleich bleiben.)

Bản tiếng Anh dịch sát nghĩa mấy chữ “alles übrige gleich bleiben” như thế này “and everything else remains the same”. Tôi chuyển ngữ cho đúng nghĩa chứ không phải là dịch theo nguyên-tác.

Đây là một trong những câu bàn tới cách dùng ngôn-ngữ, đề-tài chính trong cuốn Tractatus, Mỗi tiêu-đề (Eines), ví-dụ tiêu-đề (Eines) 1 về trường-hơp B. Để cho tiêu-đề (Eines) 1 không phải là giả-thiết, chúng ta cần minh-chứng để trình bày trường-hợp B. Nếu minh-chứng về B cụ-thể thì chúng ta có lý-do không xét đến những gì bên ngoài trường-hợp B. Nhưng nếu minh-chứng cho thấy B có thể có vấn-đề thì chúng ta có cần đặt lại trường-hợp B bằng cách nhìn vào những gì ngoài B không? Lập-luận của Wittgenstein quá đơn-gỉản vì ông quá tin vào luận-lý trong khi B có thể nằm trong một thế-gian phức-tạp.

Wittgenstein luận rằng những gì ngoài trường-hơp B nằm yên. Như thế có nghĩa là đừng đụng vào những gì không liên-quan đến trường-hợp B. Tuy nhiên như đã lưu-ý ở trên, “alles übrige gleich bleiben” khiến chúng ta mở ngoặc để bàn thêm vì có trường-hợp những gì bên ngoài vấn đề B gián tiếp đến B. Như thế chúng ta có cần bàn đến không?

Sở dĩ có trường-hợp chúng ta cần để ý tới những cái gọi là ngoài vấn đề chính vì ý-thức của chúng ta chợt thấy có điểm liên-quan. Một câu hay một chữ nêu lên khiến chúng ta khựng lại để tự hỏi mình có thực sự mình có hiểu vấn-đề không? Cũng có thể vấn-đề mà chúng ta nêu lên không chỉnh. Ví-dụ “chữ nghĩa lờ mờ”. Ở đây chúng ta muốn bàn thêm về trường-hợp “những gì ngoài trường-hợp B nằm y nguyên”. Chúng nằm y nguyên vì chúng ta không nên bàn đến hay chúng ta cho là không cần thiết. Nếu đó chỉ là gỉả-thiết. Nhưng trên thực-tế không có gì nằm y nguyên trong ý-nghĩa vật-lý hay trong ý-nghĩa về thế-gian. Chúng ta nên nói rõ những gì bên ngoài B chớ có đụng vào, thay vì nói chúng nằm yên.

Câu 1.21 cũa Wittgenstein đúng là lối suy-luận rất chặt chẽ theo “khung” luận-lý nhưng không uyển-chuyển bởi vì luận-lý chỉ là phương-pháp chứ không phải là nội-dung của vấn-đề. Nhất định là chúng ta chỉ phân-tích vấn-đề như “B” trong hoàn-cảnh S. Còn những gì khác như A cũng trong hoàn-cảnh S nhất thiết ở ngoài thảo-luận. Nhưng cứ theo biểu-đồ suy-luận của Wenn thì khi hai điểm A và B cũng trong hoàn-cảnh S hay trong một không-gian hoặc trong một thế-gian thì sao? Cho nên, chúng ta không thể làm ngơ trước sự hiện-diện của A trong hoàn cảnh S với B. Nói theo Wittgenstein, “A và B” nằm trong trật-tự của thế-gian; Trật-tự trong thế-gian không loại bỏ hoàn-cảnh “A và B” vì “A và B” có thể có những liên-hệ trong xã-hội, như nhà toán-học Hardy nhận-định, cái tài của người này phải dựa vào cái tài của người khác. Mọi sự-kiện trong thế-gian có luôn luôn trật-tự hay không? Rõ ràng có những trường-hợp không trật tự cho nên địa-chất đổi thay, khí hậu đổi thay vì xã-hội của con người quá phức tạp. Phức-tạp vì trong thế-gian của con người có nhiều ý-thức hệ, như văn-hoá, kinh-tế, chính-trị và sắc-tộc. Những vấn-đề này ảnh-hưởng tới sinh-tồn của cá-nhân, cũa nhóm và của cộng-đồng thế-gian (Globalism), ví-dụ như vấn-đề y-tế toàn cầu. Chúng ta đâu chỉ giản-dị có được miếng ăn ngon, chúng ta sống nhờ những cơ-quan sản-xuất thực-phẩm, cũng như chúng ta mong đợi các nhà khoa-học về y-tế khám phá ra phương-thuốc chích ngừa cúm dịch. Thế nên, suy-nghĩ theo luận-lý của câu 1.21 mới nghe có vé rõ ràng nhưng là một định-nghĩa quá đơn-giản. Thực ra, câu đó có phần ảo-tưởng vì quên mất ý-thức ngọn-nguồn, khiến người đọc cảm thấy chặt chẽ như đinh đóng cột nên không cần thảo-luận nữa. Chúng ta cần nhìn vào thực-tế và cần hành-động tích-cực. Cho nên, một kết-luận vẫn có thể trở thành đề-tài thảo-luận (discourse) mới.

Trong trường-hợp tranh-tụng trước luật-pháp, “der Fall” là vấn-đề cụ-thể, và là trường-hợp hay Case. Công-tố viên (procecutors) và luật-sư bảo vệ thân-chủ không bàn chuyện này sang chuyện khác mà chỉ nhất thiết dựa vào minh-chứng (proof) có yếu-tố rõ ràng cho một trường-hợp trước tòa. Song le, họ lại có quyền hồ-nghi minh-chứng. Cho nên Fall dựa trên thực-tại chứ không dựa vào kinh-nghiệm. Thế thì câu “alles übrige gleich bleiben”của Wittgenstein dựa trên suy-nghĩ và cách nói (rhetorical). Nhưng ngôn-ngữ và luận-lý khác nhau khi vấn-đề chưa được hình-dung triệt-để hay ý-thức rõ ràng.

Thay vì vậy, Wittgenstein có thể nhận-định thế này: “Everything else outside a specific item should not be connected to such item.” Nghĩa là mọi chuyện khác không nên đem vào vấn-đề này, vì chữ “item/ der Fall” chỉ rõ tính cụ-thể của vấn-đề. Tuy nhiên, chúng ta không quên là sở dĩ tiết-mục “item/ Eins/ hay vấn-đề” có mặt vì nó là một trong những điểm thảo-luận của một đề-tài lớn hơn, ví-dụ, liên-hệ giữa hai nước X và Y về chuyện biên-giới, có những vấn-đề như sau.

X là nước mạnh thường xâm lăng nước Y. Y là nước yếu và luôn luôn tôn-thờ nước mạnh (X).3

X: Sở dĩ chúng ta vẽ lại biên-giới vì chúng ta mạnh, chúng nó yếu,

Y: X là thầy ta.

X: Trong văn-kiện về biên giới chúng ta không chấp nhận ngôn ngữ của Y

Y: Chúng ta dùng tiếng Pháp

X: Văn-hoá, ngôn-ngữ (chữ viết) và giáo-dục của Y từ X mà ra.

Y: Chữ viết của X là chữ của Thánh-nhân, chữ nôm của ta là cha mách qué.

X: Y là một phiên-thuộc.

Y: X là thiên-triều.

X: Lịch-sử của Y chưa tới một ngàn năm độc-lập.

Y: Nếu ta không treo cờ X thay cho cờ Y, không bắt trẻ con học tiếng X thì X trừng phạt chúng ta.

X: Chúng ta cần sửa lại lịch-sử. Cách đây khoảng 500 năm Y có tên hoạn-quan tên n xuất chúng được vua chúng ta ban thưởng. Sách sử của chúng ta và của ngoại quốc đều ghi như thế. Cho nên chúng ta không chẩp nhận sự-kiện lịch-sử này. Chúng ta cần sửa lại. Bịa ra hai tên ab, người của chúng ta, đứng cạnh n. Đứa nào trong xã-hội Y dám bảo là sai?

Y: Bàn đến chuyện n làm gì, n chỉ là một tên nô-lệ, một hoạn quan. Bỏ tù những đứa nào dám lên tiếng chống X chuyện này.

Mẩu đối thoại trên dựa vào lịch-sử. Xét về mặt ý-thức, chúng ta thấy ngay không dễ gì làm ngơ trước những vấn-đề gọi là ngoài lề vì rất có thể chúng có khả năng làm sáng tỏ nội-dung của đề-tài chính. Nghĩa là làm sáng tỏ căn bệnh di truyền, và trưng ra bản-ngã cố-định (identity), sai lầm và thiếu ý-thức. Những ai lãnh-đạo xã-hội Y, đồng ý với chính-sách của X đối với Y, là những tên nô-lệ và là tay sai cho X.

(Còn tiếp)


Chú-thích

1. Adorno, Theodor W. 1999, Negative Dialectics. Continum. Pp. 4 – 57.

2. .” “ “ “ ‘ Negative Diatlectcs p. 16.


Sau đây là bìa Tập-san VIETNAM; THE PHENOMENOLOGY OF EXISTENCE, Bộ 1, số 3 & 4, November 2003, số đặc-biệt phản-đối văn-kiện ký kết biên-giới giữa Việt và Tầu theo đó Việt Nam mất vài phần đất ở phía Đông Bắc Việt Nam. Văn-kiện viết bằng tiếng Pháp và tiếng Tầu, nghĩa là tiếng Việt không được công nhận.

clip_image002


———————-



THE ONTOLOGY OF CONSCIOUSNESS IN WITTGENSTEIN PHILOSOPHY AND IN OTHER SCHOOLS OF THOUGHT OF WESTERN CULTURE



II.

WITTGENSTEIN’S EARLY PHILOSOPHY

TRACTATUS LOGICO-PHILOSOPHICUS OR

GLORY AND PARADOX

Max Black’s essayIs Tractatus a glorious contradictory?1 written about twenty years after his indisputable volume, A Companion to Wittgenstein’s Tractatus Logico-Philosophicus published by Cornell University where he was professor of language, to a wide scholarly acclaim, is conjoined by Gustav Bergmann’s article, “The Glory and the Misery of Ludwig Wittgenstein2. In Bergmann’s essay Bergmann quoted Wittgenstein’s epigones that the Tractatus is a failure for it shows “paradoxes”.

We are going to find such paradoxes in the Tractatus? However, first of all we should read Russell’s Introduction to Wittgenstein’s Tractatus (1922) carefully. (1) Russell brings to our attention two main factors; one is about the logical analysis of the single fact (Sachverhalt), and another relating to the compound fact (Tatsache). But to say a thing like the mystical can be shown while in reality we should ask for any proof of the mystical to test Wittgenstein’s experiences and arguments supporting his claim.

Russell‘s point is acute for Wittgenstein’s claim is nil on the foundation of certainty. It contradicts the logical form: there is not-p then not-q or vice versa. Such is one of the paradoxes in the Tractatus. One cannot assume anything existing without fact. (2) Russell does not agree with Wittgenstein’s concept of the field of vision. (56331) For Russell, such a field is questionable because the visual field does not have actual boundary for us to survey even though it might be finite. Therefore, the diagram of the field of vision is a product of the logical fantasy pretending that the field is real without checking for accuracy based on experience. (p. xviii)

THE WORLD ACCORDING TO A CHILD PRODIGY’S THINKING

1. Die Welt ist alles. Was der Fall ist (The world is all that is the case).

This line opens the Tractatus as a main theme regardless of the book title on the logic (Philosophy of Logic/ Logico-Philosophicus). Therefore, the proposition behaves like a predicative statement of certainty while in reality it shows disturbing discourse of fallacy. We wonder if the word “all” refers to “whole”. It is true that the world is all as it is logically predicated. But the word “case” or “der Fall” connecting the main theme is questionable because there might be more cases of the world or more worlds than just one. Our consciousness however, looks for certainty because Wittgenstein’s phrasing his claim is so inclusive that it looks like a paradox that our consciousness should debunk, in case it might indulge improper judgment.

For some scholars, the Tractatus is not an academic work, or a product of an original mind similar to that of a creative artist. It is not academic because submitted as a doctoral thesis it does not have a main theme, even judged as a work on language – some remarks are well connected, other taken off to different direction. In short his book is not cohesive, according to logical discipline.

Thus, it looks like a bit of the work by a child prodigy, in a sense that it needs philosophical background, in order not falling into a loophole and committing fallacy. To see this problem clearer, we should consult the ontology of consciousness looking for fluctuation or prematurity of predicaments.

We all try to reach objective knowledge though only relative expectations. Absolute objective knowledge is hard to human being, if not only by the boon of God, especially knowledge of the world as is defined in Wittgenstein’s thought that “The world is all that is the case.” Consciousness of the world is incalculable depending on where and when, namely on circumstances, times and types. Socio-economic and political situations, for example, displace and play major factors as strong as the issues of climates and cultural-ethnic prejudices. These pictures of reality make up the world that is irresistible and thus different from life although some might claim that his life experience mirrors his own world. Wittgenstein’s view of the world is simplistic and predicative. It is a rhetorical expression applicable to atomic sentences of language as well as to mechanical structures of logic, clear but far from true.

When I liken Wittgenstein’s early thought to a product of a prodigal child I simply mean that due to the absence of his philosophical background in terms of academia, his thought freely flows without the check for erudite efficiency although he is superb in logic. My comparable statement is thus a metaphor. Indeed no one has ever done philosophy without fundamental knowledge of the field. The exception of prodigy only happens in the field of music and mathematics. Wittgenstein’s Tractatus is an exceptional and unorthodox work in Philosophy without peer, but also it has a lot of loopholes.

Later, probably due to his self-consciousness, it took him more than two decades to deter (check, stop) his deficiency. This process relatively ended around 1949, about two years before he passed away, a compilation of his notes titled Über Gewiissheit or On Certainty speaks for his vigorous effort. In this posthumous work he recalled his exchange on the subject of “knowing” and “believing”, with G. E, Moore, revealing for us different levels of understanding that the claim, “The world is all that is the case” indeed requires serious revision.

It always makes sense about the doubting of knowledge; straight from something that only seems true to what we claim certain. This begins with the moment of consciousness looking for something called “uncertainty” not clear in the state of affairs.

If proposition “1. The world is all/ Die Welt ist alles” is a complete statement, then there is no problem at all. We welcome the “all” as variables because there is no uniformity constituting the world. Since it is followed by “that is the case/ Was der Fall ist”, which is fuzzy to the reader’s mind. If we hold that our picture of the world is but the case perceived by us and for us only, how can it be distinct in the expression “the world is all” that tends to spread to every directions; unless the particular and the universal are complimentary entities. It is true that the world consists of different things because it is the totality of individual and collective experiences; namely it is a Lebenwelt including what are clear and what are “so so”. Such view of the “so so”, as is in the common expression, “so this is the world”. This view of the world transcends differences or surrenders to oddity; hence welcoming inter-subjectivism. Husserl’s Fifth Meditation is a good reference.

1. The world is the totality of facts not of things/ Die Welt ist die Gesamtheit der Tatsachen nicht der Dinge.

Here we have the problem of Wittgenstein’s concept of thing (s). Let us see why and how “thing” is not included in Wittgenstein’s concept of the world. Following are some common definitions of thing.

Thing (noun) is a material or non-material entity, idea, action, thought, perception, un specified object or item, act. It is also about quality, event, pity, contempt, circumstance, interest, including something unavoidable or accidental …

So which one of these definitions of thing above is excluded from the world in Wittgenstein’s concept of the world? Something like, “My body is something, it is my own property” would Wittgenstein not consider this “something” as existing entity? In this sentence, “something” is a variable substituting for “property” and “body”. Would he profess for certain that human body as a thing is non-being in the world? As the matter of language, it is possible for a variable to be accepted as the object (property) substitution of “thing” for “body”. The word “body” refers (traces) to human property.

Can we simply believe that the world consists of finite or infinite objects? No. It is just impossible. Russell responded to proposition “1. The world is all” by questioning what kind of world human beings can adopt; hence what kind of picture of the world man has and what kind of world man belongs in (environment)? Or we have no knowledge and no concept of the world but only believing its existence. This claims no part of solipsism although in reality solipsist claims are right in showing and proving. We are entitled to claim our knowledge of the world, although it is always challenging. Then, for Russell it appears that Wittgenstein’s concept of the world only refers to some external world,

As such, Russell is right when he points out that Wittgenstein’s view of the world as the whole implies our knowledge of the world would be gained by getting outside of the world (p. xviii), Can we manage to do this? Or we should let the world carry us on to either finite or infinite domain of the world. As such questions on human destiny are superfluous or redundant. It is clear that proving the world as finite or infinite numbers is to attempt the impossible; neither can satisfy our knowledge of the world based on numeration system. Furthermore, if the world is defined in a clear and atomic construct, say “The world is X”, “The world is Y” and “The world is Z”; they are different cases for the variables X , Y and Z. We tend to appropriate different experiences of the world to make a pseudo picture of the world. We cannot have a global view of the world if we see this true that the world has no number at all. Therefore, Russell is right again when he says variables (X,Y, Z) for the world are meaningless. (p. xvii). 4

To say “the world is all” is making a rhetoric expression, akin to a hypothesis, still in need of better knowledge to make the world picture relatively clear. So the expression “The world is all” is incomplete because the predicate “all” is empty.

In proposition 2.01 Wittgenstein writes: “Der Sachverthalt ist eine Verbindung von Gegenständen (Sachen, Dingen)”/ “A state of affairs (a state of things) is a combination of objects (things)” Here Wittgenstein recognizes “thing” or “object” as a case or a fact that determines the existence of the world. However, it contradicts proposition 1.1. Logically when two objects (things) are related to each other, in the form p,q it will be a contradiction to write -p,q; namely the state of affairs is in trouble. In other case, two related entities such as p for work and q for thought constitute a case of reality or of the world similar to the bound of fact (Sachverhalt) and thought (Denken) that cannot contradict each other.

Do things like objects according to Wittgenstein (2.01), makes up the world? Are they immaterial of material? Or they are both? Let us consider this example: This is the Egyptian Pyramid of Khafre 2520 BCE. It is one of the world greatest landmarks of human civilization. But according to proposition 1.1 the Pyramid of Khafre is rejected because it is a thing. If so, not only the Pyramid of Khafre does not exist as an object of the world, but its non-existence would mean to deny the fact that Egyptian culture and Egyptian people do not belong in the world! Does this sound paradoxical?

Do things like object such as the space ship that has been traveling outside our solar system, carrying proofs of our planet’s culture including human language (English) is a thing of our world or it is not?

Do the satellites and computerizing networks have changed the face of our world? Are they just material objects? No! If we do not consider them as immaterial things then we should not forget that they are the products of human mind. Human being creates them, and so to internalizes them to make them parts of and dear to our life, individually and collectively. To create them is the work of some special mind, while to benefit their efficient products is the public gains.

Deleuze’s concept of virtual multiplicity predicts a possible way of picturing the world by programming into a so called isomorphic reality, for the public use. Is this a thing of the world? This suggests a new way for us to look into Epistemology and Ontology. And ultimately it requires consciousness to recognize any special kind of knowledge and the meaning of ontology. 5

Mystical and mythology are two different entities. Are they objects or things in the world?

Mythology: While human concept reflects facts of the world they use mythology to convey the message. No doubt mythology conceptualizes the world as a piece of fable-like state of affairs, a metaphor of social and political reality, for instance. The Epic of Gilgamesh of the Mesopotamian culture dated back to about 2100 years BC is a good example. In which man especially an ideal model; should not be among the animals. In which an ideal king should not be a tyrant. In which man should be brave to reject destiny. The epic shows Gilgamesh and Enkidu are great souls, but cannot go against the natural law of life and death as well as to become immortal, even the immortal idea is their noble effort for the sake of their people. So only people with high moral and ethical dignity would be saved at the catastrophe (the Deluge).6

The mystical: This has no concrete origin. It is just beyond man’s expectation that is a queer thing but deeply disturbing man’s mind. At the beginning of the Tractatus Wittgenstein is conscious of the “accidental” that does not exist in logic; namely the world, “2.012 In logic nothing is accidental … If a thing (accidental) can occur in a state of affairs (the world), the possibility of the state of affairs must be written into the thing itself.”

Toward the end of the Tractatus, Wittgenstein affirms that the mystical exists although there are short of words and knowledge to prove it. The following propositions should follow the first line 1. The world is all…immediately along with specific discourses bound and open-ended.

6.44 It is not how things are in the world that is mystical, that it exists,

6.45 To view the world sub specie aeterni is to view it as a whole – a limited whole.

Feeling the world as a limited whole – it is this that is mystical.

6.522 There are, indeed, things that cannot be put into words. They make themselves manifest. They are what is mystical.

In other words, the “mystical” as a phenomenon only makes sense by “showings” supported with instances, not by way of explanations. This could quiet Russell’s mind.

Only quoting a few things that cannot separate the duality of immaterial and material things in the world tells us how Wittgenstein’s concept of the world around 1928, the time he penned down his preface for the Tractatus is not just shortcoming but contradicting.

(To be continued)

NOTES

1. Max Black, 1966 “Is Tractatus a glorious contradictory?” in Essays on Wittgenstein’s Tractatus pp.95-114

2. Gustav Bergmann 1966, “The Glory and the Misery of Ludwig Wittgenstein” in Essays on Wittgenstein’s Tractatus, pp. 95- 114.

3. Wittgenstein Ludwig, 1969, On Certainty/ Übergewisshheit, Edited by G.E.M Anscombe and G.H. von Wright, Translated by Denis Paul and G.E.Anscombe . No 2. .J. & J. Harper Editions, New York and Evanston.

4. Russell, Bertrand, 1922 “ Introduction” Wittgenstein, Ludwig, Tractatus Logico-Philosophicus, Routledge & Kegan Paul, New York, The Humanities Press.(Refer all Roman reference numbers in this text to Russell’s Introduction to Wittgenstein’s Tractatus.). Also a special note on Russell’s symbolic logic. By convention, Russell uses a bar (-) above letters p and q to denote that “it verifies the true that the relationship of p and q is firm”. Since my computer does not allow me to copy such an expression I have no choice but take the bar (-) away from the symbols p and q. While I am able to use the symbols and substituting for p and q with a bar (-) on top I do not see that the convention would allow because this small case will certainly make this point muddier.

5. DeLanda, Manuel, 2002, Intensive Science and Virtual Philosophy, pp.13, 69, 166, 170. Continuum, London and New York.

6, N. K , Sandars, 1972, The Epic of Gilgamesh, pp. 61-119, Penguin Classics, London, New York.

clip_image002

Vietnam: The Phenomenology of Existence, 2003, “Denouncing the Hanoi-Beijing Border Treaty.” Vol. 1, Number 3 & 4, Towson, MD. Pp. 1-6. Preceding a Letter to World Communities dated November 15, 2003. This Journal is a quarterly publication, ISSN numer 1542-7900, registered with The Library of Congress. USA. It was discontinued due to business management and to the scarcity of quality researches. It is planned to republish soon as series of monographs still under the original title. .

bài đã đăng của Nguyễn Quỳnh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)