Trang chính » Dịch Thuật, Giới thiệu tác phẩm, Từ Việt ngữ Email bài này

Bản Tiếng Đức DAS KLAGELIED DER ODALISKE (1967) do Tiến-sĩ Hubert Hohl dịch từ CUNG-OÁN NGÂM-KHÚC của Ôn-Như Hầu (1741 – 1798)

(Übersetzung von Hubert Hohl, Saigon, 1967)

Đã 53 năm, kể từ 1967, khi đó Việtnam còn trong thời Nam-Bắc phân tranh (nội-chiến) giữa Quốc-gia và Cộng-sản, đúng ra giữa hai phe Tư-bản và Cộng-sản, bản dịch sang Đức-ngữ cuốn Cung-oán Ngâm-khúc của Nguyễn-gia Thiều (Ôn-như Hàu) do tiến-sĩ Hubert Hohl xuất bản ở Sàigòn dưới tên Das Klagelied der Odaliske là một vinh-dự hiếm hoi cho Việtnam. Hiếm hoi vì trong suốt 80 năm Pháp trị, người Pháp không để ý đến văn-hóa Việtnam, ngoại trừ René Crayssac, nhà báo, nhà văn và nhà thơ, đã dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Hồi đó, đã ngoài 20, tôi may mắn biết Tiến-sĩ Hubert Hohl vào năm 1965, lúc ấy, ông là Phó Giám-đốc Goethe Institut ở đường Phan Đình-Phùng, Sàigòn. Giám-đốc Viện Văn-hóa này là Tiến-sĩ khoa Sử tên là Städler. Tôi đưa bài Introduction au Sens de la Non-Couleur 1 của tôi đâng trong Le Journal d’Extrême-Orient cho ông Hohl xem. Ông nghiêm-nghị bảo tôi rằng ở Đức nhiều người hiểu Lão-tử.2 Sau đó ông cho tôi tất cả bài giảng của ông về Hiện-tượng Luận của Husserl. Ông cũng phàn nàn rằng ở Đại-học Vạn-Hạnh chẳng ai hiểu gì về triết-học của Heidegger. Khỏi cần đi vào chi-tiết, độc-giả sáng ý hiểu ngay ông ám chỉ ai.

Năm 1979, tôi ra tờ Vietnam Culture Journal tại New York City và muốn liên-lạc với Tiến-sĩ Hohl. Được biết sau mấy năm là Giám-đốc Viện Goethe ở Paris, ông đã tới dẫn-đạo Viện Goethe ở Ankara, Turkey. Từ đó ông gửi tôi bản Cung-oán Ngâm-khúc do ông dịch sang Đức-ngữ, với một số đoạn dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du. (Kim Vân Kiều, Auszüge aus dem Roman von Nguyễn Du). Vietnam Culture Journal đã đăng bản dịch Đức-ngữ được hai kỳ thì ngừng vì tờ đặc-san không có đủ bài nghiên-cứu.

Dịch ở đây không phải là diệt như người Pháp nói. Dịch là cách suy-diễn tư-tưởng trong chính bản để tạo ra một tác-phẩm mới như Phan-huy Ích nhận-định rằng nếu chì bằng vào từ-ngữ thì không nắm đưọc tinh-hoa cúa bản gốc, “Nên khi nhàn rỗi,” ông nói, “Ta phiên thành khúc mới! (Chinh-phụ Ngâm-khúc). (Tài-liệu; Chinh-phu Ngâm Bị-Khảo của cụ Hoàng-xuân Hãn). Sau đây là một ví-dụ:

Nguyên-văn Chinh-phụ Ngâm-khúc của Đặng-trần Côn:

Thiên-Địa phong-trần, hồng-nhan đa-truân

Phiên-bản của Phan-huy Ích:

Thủa Trời-Đất nổi cơn gío bụi,

Khách má-hồng nhiếu nỗi truân-chuyên.

Trên đây là trường-hợp tiếng Tầu và tiếng Việt. Suy ra chúng ta thấy ngay trường-hợp Việt-Đức khi Tiến-sĩ Hohl dịch Cung-oán Ngâm-khúc. Ông đã làm thơ, khi ông chuyển thơ Việt sang thơ Đức, tác-phẩm của Ôn-như Hầu.

Hôm nay, tôi gửi tới Da Màu bản Đức-ngữ cuốn Cung-Oán của Ôn-như Hầu, đăng từ từ cho đến hết. Để tri-ân Tiến-sĩ Hohl, tôi kèm theo một tấm tranh mầu nước, gồm ba phần ghép lại.

Bên trái diễn-tả câu:

Sóng dồn cửa biên nhấp-nhô

clip_image001


Bên phải diễn-tả câu:

Đền Vũ-tạ nhện giăng cửa mốc.

Vì không thấy Đền Vũ-tạ nên tôi dùng một ngôi đền của văn-hoá Chàm ở Mỹ-sơn. Hơn nữa tôi thấy kiến-trúc này tuy hoang-phế nhưng rất đẹp, cứ coi như là một phần của văn-hóa Việt.

clip_image002


Chính giữa diễn-tả câu:

Giữ sao cho được má hồng như xưa!

clip_image003


Theo em gái tôi nhận-định: “Nàng là ma rồi!”

Sau đây xin độc-giả Việt-Đức đọc tâm-sự về bản dịch của Tiến-sĩ Hubert Hohl:

Das vorliegende Büchklein bietet zum ersten Mal klassische Dichtungen in deutscher Übersetzung. Diee weiss sich unvollkommen, versucht aber dennoch dem deutschen Leser etwas von dem fremden Reit, von der fernen Gedankenweit und dem Charme dieser Dichtung zu vermittteln. Sie hofft, im deutschen Sprachraum die Aufmerksamtkeit auf die Dichtung Vietnams zu lenken und si zu wissenschaft lichen Arbeiten über die Kultur Vietnams anzuregen.

Das Buchklein entsprang aus der Liebe des Übersetzers zu dem Land, in dem er wahrend fünf Jahren die Gastfreundschaft erfahren durfte. So möchte es auch Ausdruck seines Dankes sein.

HUBERT HOHL

Saigon, im Oktober 1967

Nguyên-tác bài giới-thiệu bằng Việt-ngữ của Tiến-sĩ Hubert Hohl:

Cuôn sách nhỏ này chứa đựng những thi-phẩm cổ-điển Việt Nam lần đầu tiên được dịch ra Đức Ngữ.

Bản dịch này dĩ nhiên còn thiếu sót nhưng hoài-bão của nó là hiến cho độc-giả người Đức một phần nào những nét hấp dẫn xa lạ, những tư-tưởng độc đáo và những vẻ đẹp tuyệt vời của các thi phẩm vừa nói. Hy vọng sự cố-gắng này sẽ khiến cho các thức-giả trong những miền nói tiếng Đức chú-ý đến nền thi-ca Việt Nam và thúc đẩy họ tiến tới những công-trình khảo-cứu có tính cách khoa-học về nền văn-hóa Việt Nam.

Cuốn sách này ra đời bởi tình yêu của dịch-giả đối với đất nước này, nơi dịch-giả đã ghi nhận được trong 5 năm trời tính hiếu-khách của người bản xứ. Và do đó cuốn sách này cũng là một cách diễn tả lòng tri-ân của dịch-giả vậy.

HUBERT HOHL

Sàigon, tháng 10, 1967



CUNG-OÁN NGÂM-KHÚC

Das Klagelied der Odaliske

Ôn-như Hầu

1 Trải vách quế gió vàng hiu-hắt.
Mảnh vũ-y lạnh ngắt như đồng.
Oán chi những khách tiêu-phòng,
Mà xui phận bạc nằm trong má đào.

1 Im Mondlicht
Im Hauch des gldenen Herbstes
ist mein Tambleid
so kühl geworden
wie Kupler
Warum soll man die Schönen
des vergolddeten Hauses hassen ?
Warum
ihnen ein unglückliches Los wünschen ?

5 Duyên đã may cớ sao lại rủi ?
Nghĩ nguồn-cơn dở dói sao đang ?
Vì đâu nên nỗi dở dang ?
Nghĩ mình mình lại nên thương nỗi mình!

5 Schicksal,
mir einst gewogen,
warum bist du mir jetzt feind?
Wie sol lich das Herz haben,
meinem unsseligen Geschick
nachzudenken?
Warum zerbricht mein Glück?
Unvollendet,
auf halbem Weg?
Ich denke an main Unglück
und leide um mich selbst.
(Fortsetzung folgt}

(còn tiếp)




CHÚ-THÍCH

1. Nguyên-tác: Đưa vào Ý-niệm Không-Mầu. Đinh Ngọc-Mô chuyển sang Pháp-ngữ

2. Bài Đưa vào Ý-niệm Không Mầu viết sau vở kịch Bờ Biển Xanh, để tặng Việtnam khi tôi được học-bổng của Academia di Arti e Liceo Artistico, Roma. Bác-sĩ GS Tràn Ngọc Ninh, Tổng Ủy-viên Bộ Giáo-dục và Văn-hóa ký “Avis favorable” cho tôi xuất ngoại. Nhưng bộ Quốc-phòng bác bỏ vì lý-do chĩ 6 tháng sau tôi phải vào Võ-bị Thủ-đức. Thế là, người Việt chúng ta đã có câu rất đúng với trường-hợp của tôi:

Con Vua thì lại làm Vua,

Con nhà sãi-chùa lại quét lá đa!

Đúng ra bài “Không-Mầu” bị ảnh-hưởng của (1) Thus Spoke Zarathustra (Nietzsche), và (2) Les Chants de Maldorro (Lautréamont/ Issidor Lucien Ducasse) cho nên văn và ý cao-ngạo tự-hào (prétentieux) như lời giáo-sư Thac-sĩ Corot ở Saìigòn nhận-định.

bài đã đăng của Nguyễn Quỳnh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)