Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Nghiên Cứu, Song ngữ, Tiểu luận, Triết Học Email bài này

Ý-THỨC LÀ GÌ? Ý-THỨC TRONG TRIẾT-HỌC WITTGENSTEIN VÀ TRONG NHỮNG TƯ-TƯỞNG KHÁC Ở VĂN-HÓA TÂY-PHƯƠNG

Lời tác-gỉả: Đoạn sau đây không phải là bản dịch vì hai ngôn-ngữ Anh và Việt khác nhau. Tuy nhiên bản Anh ngữ The Ontology of Consciousness in Wittgenstein’s Philosophy in contrast with other schools of Thought in Western Culture là bản tác-gỉả viết ra để xuất bản. Đoạn tiếng Anh kèm theo để độc-giả tò mò muốn trao đổi. Những kỳ tới chỉ có phần Việt-ngữ trừ phi độc-giả yêu cầu. Các tiểu mục 3, 4, và 5 không có trong bài là do tác giả đã lược bỏ khi gửi cho Da Màu.

A. Wittgenstein: Ý-thức về Thế-gian, về Minh-chứng, về Sự vật và về Sự-kiện hay Vấn-đề (State of Affairs).

1

Chúng ta không ngừng đặt ra nhiều câu hỏi về ý-thức để biết rõ lẽ phải trái. Những câu hỏi ấy đến từ suy-nghĩ chủ-quan và khách-quan. Thực ra, nhận-xét này chỉ là những mệnh-đề nên cần được thảo-luận và chứng minh thật sáng-tỏ rồi mới đi vào kết-luận. Đó là hy vọng của chúng ta về ý-thức tinh ròng. Augustine dựa vào phương-châm của Socrates “Anh hãy biết chính anh” để hiểu thế nào là ý-thức. Đến lượt chính Husserl, trong cuốn Suy-tư trong Tinh-thần Descartes: Hành-trình vào Hiện-tượng Luận1 lại triển lời của Augustine khi ông thảo-luận về lý-thuyêt hội-thông giữa ta và tha-nhân qua những cố gắng hiểu người khác và để sống chung với mọi người.

Trong cuốn sách này tôi sẽ không bàn đến những tư-tưởng kể trên. Theo tôi chúng ta cần ý-thức về những việc mình làm và những việc ở thế-gian. Chúng ta nên biết rằng “thấy” không có nghĩa là “ý-thức” vì ‘thấy“ chỉ là một điểm khái-quát, ví-dụ, tôi thấy cái cây kia là Live Oak. Nhưng tôi chưa biết rõ từng khoảnh-khắc trong hiện-tại của nó, ví-dụ một ngày có sớm, trưa, chiều, tối mà tôi không rõ cái cây ấy trong không-gian và thời-gian hiện-tại của nó. Tức là tôi muốn hiểu sâu-sắc hơn về cái cây này. Trong không-gian ấy có những điểm về môi-sinh ảnh-hưởng tới sự-sống (Dasein) của cây ấy mà Kant gọi tắt là “Lẽ của chính sự-vật/ Ding an sich”. Hiểu một vấn-đề sâu xa đòi hỏi rất nhiều khía-cạnh liên-quan tạo ra ý-thức của chúng ta, liên-quan tới cá-nhân, xã-hội con người, tới thời-tiết, tới những xung-đột kinh-tế, và tới những cơ-sở văn-hóa. Đó là chưa kể tới nhận xét của Jung về “Universal Unonsciouness” hay tạm gọi là “Vô-thức chung của Nhân-loại”. Nếu dùng chữ “Tập-thể “ sẽ dễ hiểu thành “Ý-thức Cộng-đồng”, một thứ ý-thức giới-hạn trong khoa Xã-hội Học.

Trên thực-tế, kể từ khi con người có sử cho tới ngày nay, ý-thức của chúng-ta về thành-công cũng như thất-bại đã và còn diễn ra trên nhiều “hoạn-lộ”, đòi hỏi chúng ta thấy rõ thế-gian mà chúng ta tạo ra là đúng hay sai. Thế thì chúng ta có hiểu được bản chất của ý-thức hay không? Hay là ý-thức quá khó với chúng ta? Ý-thức là gì?

Việc làm hay công-trình của ý-thức là điểm khởi đầu và là vấn-đề không ngừng hướng về bản-chất (ontology). Cuốn sách này mở đầu là những câu hỏi quan trọng về triết-học của Wittgenstein. Sau đó tác-giả đưa vấn-dề ý-thức vào những tư-tưởng chính trong triết-học Tây-phương, như Plato, Aristotle, Lock, Hume, Leibnitz, Descartes, Spinoza, Hegel, Husserl, Heidegger, Santayana, Peirce, James, Dewey, nhóm Tân Mác-xít, Krishnamurti, Lévinas, Derrida và những triết-gia khác. Tuy nhiên, điểm chính mà chuyên-luận này nêu lên là vấn-đề nhận-thức bắt đầu với phê-bình tư-tưởng trước và sau của Wittgenstein. Đây là dề tài tôi ấp-ủ từ 40 năm qua, kể từ sau khi tôi trình xong luận-án Tiến-sĩ tại Columbia University (NYC).

Khi chúng ta bàn tới hành-động hay lý-thuyết, những gì chúng ta thấy đều liên-quan đến bản-chất của ý-thức. Thật vậy, ý-thức hiện ra sau việc làm. Như thế ý-thức chính là một cách phê-phán trong tinh-thần đạo-đức hay là lẽ-phải không thể nào chối bỏ. Nhờ ý-thức chúng ta bắt đầu phê-phán. Bởi thế chúng ta nêu lên nhiều câu hỏi, hoặc là cứ tiến tới hay xét lại những vấn-đề làm chúng ta thắc mắc. Rất tự nhiên, trí-tuệ của chúng ta đương đầu với những vấn-đề nghiêm-trọng. Chúng ta sẽ thấy vấn-đề này trong cuốn Tractatus Logico -Philosophicus của Wittgenstein. 2 Tractatus là một cuốn sách viết ra (hầu hết) theo thể Lập-ngôn, lấy khuôn mẫu Luận-lý làm chuẩn, nhưng trong rất nhiều trường-hợp, suy-tư luận-lý dù rất tinh vi và ngắn gọn vẫn chưa hoàn-toàn đạt được vai trò trình bày nội-dung của ý-thức. Đây là điều chính Wittgenstein công nhận trong cuốn Bàn về Ý-thức Tinh-ròng hay là Biết cho Đúng/ Über Gewissheit/On Certainty. 4

Khởi đầu, Tractatus bàn về “ngôn-ngữ”. Theo Wittgenstein, ngôn-ngữ của chúng ta phải chính-xác, trong sáng và giản-dị, như những phương-trình luận-lý. Ý-thức về ngôn-ngữ của Wittgenstein rất gần với nhóm Triết-học Thực-chứng (Positivism) hay Triết-học có tinh-thần khoa-học ra đời cuối thập-niên thế-kỷ 19. Cuốn Tractatus đã được Nhóm Vienna (Vienna Circle) ở Áo dùng làm sách giáo-khoa. Điểm chính của cuốn sách này bàn về từ-ngữ, nói và viết. Cứ theo nghĩa ngữ mà suy, tuy cuốn sách này khiến độc-gỉả chuyên-môn thán-phục Wittgenstein, nhưng họ lại có những khó-khăn vì lập-luận của Wittgenstein lúc thuận lúc nghịch, chẳng hạn như:

· Thứ nhất: Phát-biểu của Wittgenstein không mạch lạc khi ông nhận xét về thế-gian, về minh-chứng, về sự-kiện (trong thế-gian) và về trạng-huống làm thành cái hình thế-gian.

· Thứ hai: Những vấn-đề trên nghịch với phương-pháp luận-lý.

· Thứ ba: Do đó tư-tưởng của Wittgenstein mâu-thuẫn như có một số học-giả đã nêu lên.

Cả ba vấn đề trên sẽ rõ ràng nếu Wittgenstein đưa ra ví-dụ để làm sáng tỏ tư-duy của ông. Ông dừng lại như trường-hợp của một nghệ-sĩ sáng-tạo, tức là rất cảm-quan hơn là nêu rõ vai trò của ý-thức.

Đầu-đề Tractatus Logico-Philosophicus và nội-dung của cuốn sách ấy không ổn. Wittgenstein coi Ngôn-ngữ là vấn-đề chính trong cuốn sách còn luận-lý chỉ là cái khung nối-kết sự-kiện thật rõ ràng. Đây cũng là ý của Wittgenstein: Theo ông, luận-lý là triết-học. Như vậy, “Logico-Philosophicus” là một trùng-phức. Lý-luận của ông viết theo thể Lập-Ngôn, 3 tuy gọn và hay nhưng không rõ ràng và nhất là không đúng tiêu-chuẩn nghiên-cứu đại-học. Vì thế, E.C.Moore đã xin đại-học Cambridge cho quyết-đinh về cái gọi là luận-án Tiến-sĩ của Wittgenstein. Đại khái Moore viết thế này: “Có người cho rằng Tractatus là một tác-phẩm của thiên-tài. Nhưng chúng tôi (hội-đồng) xin để đại-học quyết-định.” Bây giờ chúng ta mới thực-sự vào đề:

2

Ý-thức về thế-gian trong cách nhìn của Wittgenstein

Theo Wittgenstein chúng ta cần phân biệt hai thế-gian: (1) thế-gian bên ngoài và (2) thế-gian trước mặt chúng ta. Theo ông, thế-gian bên ngoài là những gì ở ngoài trái-đất cho nên, chúng ta không biết được thế-gian bên ngoài trái đất. Chúng ta chỉ biết thế-gian trước mặt chúng ta, tức là thế-gian mật thiết với con người mà thôi. Nhận xét ấy có vẻ đơn-giản nhưng ý-thức sâu xa ra điều ấy không đơn-giản.

Mở dầu cuốn Tractatus (1922) như sau:

1 Thế-gian là tất cả. Đó là sự-thật (Die Welt ist alles, was der Fall ist)

Vì chữ Fall (Case) hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ví-dụ “Fall/ case” có thể là trường-hợp riêng hoặc là trường-hợp chung. “Fall/ case” cũng có nghĩa là “đúng” . Cho nên, “Fall/case” không chỉ có nghĩa giản-dị như trường-hợp của Lan và Điệp, hoặc của hoa Hồng và hoa Cúc. “Fall/case” cũng có nghĩa chỉ vào sự-thực, và đây chính là ý của Wittgenstein. Vậy thì Wittgenstein nên trình bày “Fall/case” theo nghĩa nào và cách nào thật rõ rệt, nếu không người đọc phải tự tìm hiểu. Dẫu sao bản Anh-ngữ của D. F. Pears & B. F. McGuinness (1972) và C. R. Ogden (2009) đều giữ chữ Fall (Case). Bản Việt-ngữ của tôi (2004) dịch chữ “Fall” là dữ-kiện, vừa có nghĩa là “case” và “fact”.

6

Sau đó ông đã có những nhận-định thế này:

6431 So too at death the world does not alter, but comes to an end.

561 Logic pervades the world: the limits of the world are also its limits.

5621 The world and life are one.

Chúng ta nên bàn đến ba trường-hợp kể trên. Trước hết là câu 6431.

6431. Cho nên khi chết thế-gian không đổi thay, nó chỉ ngừng lại.

Chết? Một định-luật chung, “có sinh có tử”, cho một người, cho cả thiên-hạ hay cho cả vũ-trụ?

Nếu nói khi một người mất đi thế-gian vẫn còn thì tại sao thế-gian ngừng lại. Phải chăng đó là thế-gian hay thế-giới của người đó?

Để hợp-lý nên viết như sau:

Khi một người mất đi, thế-gian không đổi thay, chỉ có thế-gian của người đó ngừng lại mà thôi.

Câu 561 như sau:

561 Luận-lý nằm trong thế-gian: giới-hạn của thế-gian chính là giới-hạn của luận-lý.

Ở đây Wittgenstein muốn nói “có con người nên mới có ý-niệm về thế-gian. Cho nên, thế-gian còn thì luận lý còn”. Nói rõ hơn luận-lý giúp con người suy-lý đúng sai. Thế thì, câu nói của Wittgenstein là một lối nói trong tinh-thần siêu-hình học, nặng về suy-tư cá-nhân (syllogism). Song le, mọi câu nói trong siêu-hình học đều là những điểm để thảo-luận, vì những câu-hỏi tốt của siêu-hình học đều hướng về nguồn-gốc (ontology) hay là Đạo. Những câu hỏi ấy chợt nảy ra trong trí-tuệ của con người rồi từ đó chúng ta thấy ý trong siêu-hình học cần xét lại bằng phương-pháp nhận-thức học, gọi tắt là Ý-thức. Như vậy, phán-đoán đúng/sai theo luận-lý Deontology là cố-gắng đưa tới cỗi rễ tinh ròng của đạo-đức.

5621 Thế-gian và cuộc-đời là một.

Câu này Wittgenstein cho rằng nói tới thế-gian là nói tới cuộc-đời hay đúng hơn thế-gian và con-người là một. Đúng thế, chính chúng ta hay con người có mặt ở trần-gian, diễn-tả trần-gian với tất cả trạng-huống phức-tạp ở trần-gian, những gì trong ta và những gì ở ngoài kia. Tóm lại chúng ta bắt đầu nêu lên những câu hỏi về thế-gian. Lý-trí và cảm-xúc chưa đủ để chúng ta trình bày cặn kẽ về thế-gian. Thế thì, thế-gian là một hình-dung quá lớn và trừu-tượng. Thế-gian trong vật-lý (external world) và thế-gian con-người (inner world) có những điểm liên-hệ nhưng liên-hệ này không hoàn toàn chặt chẽ để chúng ta dùng thế-gian này giải thích thế-gian kia cho thỏa đáng. Thế-gian của con-người tạm hiểu trong hai nghĩa, 1) cuộc-đời của một cá-nhân rất cụ-thể, 2) cuộc-đời ví như một ý-niệm chung. Cho nên câu nói của Wittgenstein rất “hoa-văn” và gần gũi với thi-ca, nhưng không xuất-sắc trong tinh-thần luận-lý. Điều này cho thấy chúng ta tưởng rằng chúng ta luôn luôn làm chủ ngôn-ngữ nhưng có những trường-hợp ngôn-ngữ dẫn chúng ta đi.

Trong cuốn Văn-hóa và Gíá-trị, Wittgenstein nhận-định rõ ràng rằng chỉ có con người quá bất-hạnh mới thực-sự biết thương người. (Wittgenstein, Culture and Value, 1984. T, 46e)

Only a very unhappy has the right to pity someone else (1984)

Nur ein sehr unglücher Mensch hat das Recht einen Andern zu hedauern (1977) 5

7

Trở lại với câu 6131. Chúng ta thấy thế-gian chỉ là nhận xét dựa vào dữ-kiện. Tuy nhiên, khi bảo thế-gian không thay đổi và nó chỉ ngừng lại đối với một người qua đời thì hoàn toàn hợp lý. Nếu không bảo rằng khi một người qua đời thế-gian ngừng lại; dó là ngày tận-thế hay sao? Ngày tận-thế là ngày tàn của thế-gian vì chính Wittgenstein đã nhận-định “Thế-gian và cuộc-đời là một.” Chữ cuộc-đời ở đây rất bao la ngay cả khi chúng ta bàn về cuộc-đời vui hay khổ.

8

Nếu câu 5621 đúng thì ý-thức của chúng ta đúng vì (1) Sự thật mỗi người diễn-tả thế-gian theo hiểu-biết của mình (2) Mọi định-nghĩa về thế-gian là kinh-nghiệm đến từ thế-giới của riêng tôi và thế-giới của mọi người hay nhân-loại. Thế-giới hay thế-gian như thế là giới-hạn của ý-thửc và tất nhiên của luận-lý vì luận-lý không ra ngoài thế-gian hay không ra ngoài cuộc đời. Luận-lý diễn-tả những gì nhân-loại kinh-nghiệm đúng hoặc sai, có trường-hợp tuyệt-đối đúng, có trường-hợp tương-đối đúng, có trường-hợp sai. Lại có trường-hợp chẳng đúng, chẳng sai xét theo Deontic logic.

9

Liệu luận-lý có khả năng nhìn thấu mọi hoạt-cảnh trong thế-gian? Nhât định là không, vì luận-lý chỉ có khả năng trình bày từng trường-hợp theo những quy-luật trong luận-lý mà chúng ta biết. Chúng ta cần đầy đủ dữ-kiện cho mỗi trường-hợp ở thế-gian. Wittgenstein nhận-thức rằng trong thế-gian có những điều kỳ-bí (644). Nhung ông không nói rõ ở những trường-hợp nào sự-kiện kỷ-bí xuất hiện. Ông đã nhận xét rất chí-lý trong cuốn Văn-hóa và Giá-trị (Culture and Value, 1984), như sau:

Chỉ có con người vô cùng bất-hạnh mới thực sự biết thương-cảm người khác.

Only a very unhappy has the right to pity someone else (1984)

Nur ein sehr unglücher Mensch hat das Recht einen Andern zu hedauern (1977)

Chúng ta có vấn-đề với câu 644, vì chúng ta không thể quả quyết ở trường-hợp nào sự-kiện kỳ-bí hiện ra và hiện ra với ai … hay là do mê-tín mà ra.

10

Ý- thức đi đôi với cảm-nhận về hoàn-cảnh. Mọi quyết-định của chúng ta đều dựa trên hiểu-biết của chúng ta. Hiểu-biết hay kiến-thức của chúng ta cần phải đúng với sự-kiện hoặc đúng với điều gì chúng ta cần xét lại. Cho nên kết quả có thể còn tuỳ nghi ở những chỗ bất ngờ trong thế-gian chúng ta đang sống.. Bởi thế Wittgenstein đã nói đời và thế-gian chẳng qua là một. Chúng rất lung-linh cho nên chúng ta không quên rằng tất cả đều là giả-thiết. Sau đây là mấy điểm ở đời, xét theo luận-lý Deontic cho phải đạo, khi chúng ta bàn về bản-ngã đích-thực của vấn-đề, viết tắt là VĐ:

1. VĐ này rất cần thiết

2. VĐ này cần-thiết mãi mãi

3. VĐ này cho thấy có điều-kiện tổng-quát

4. VĐ này nằm trong quy-ước chung

5. VĐ này có tính chung và rất cần-thiết

6. VĐ này có thể mang tính chung

7. VĐ này là điều-kiện đặc-biệt

8. VĐ này có quy-ước đặc biệt

9. VĐ này tuy có nhưng không cần-thiết

10. VĐ này có nhưng không vĩnh-viễn

11. VĐ này mang tính thời-gian

12. VĐ này lan rộng ra

13. VĐ này có thể chỉ là trường-hợp đặc biệt

Như vậy, theo Deontic Logic, ý-thức đúng về giá-trị ở thế-gian phải được phán-xét qua it nhất 13 điểm trên. Đó cũng chính là cái nhìn theo tinh-thần Thực-tiễn về hai mặt Pragmatism (Dewey, James) và Pragmaticism (Peirce). Xin được thêm vài giòng về Deontic Logic. Deontic Logic đến từ thuật-ngữ và ý-niệm Ontic, tức bàn về nguồn-sống (existence). Theo đó, “sống” rất linh-động và quan-trọng trong hai thể: Đạo-đức và Luân-lý. Vi không thể bàn về Đạo-đức nên Luân-lý ra đời mô-phỏng Đạo-đức tạo nên một thứ luật có tính chung áp-dụng vào xã-hội, trước khi luật-pháp ra đời. Cho nên, Deontic Logic có nghĩa là làm sáng tỏ Ontology bằng những phán xét có quy-tắc và hợp luân-lý (Morale). Chúng ta sẽ bàn kỹ điểm này ở những phần sau. Nhất là khi xét đến vấn-đề Đạo-đức trong triết-học cùa Wittgenstein.

(Còn tiếp)


GHI-CHÚ

1. Husserl. Edmund, 1970. Carttesian Meditations: An Introduction to Phenomenology. Fourth Impression. Translated by Dorian Cairns. Martinus Nijhoff, The Hague. Suy-tư trong Tinh-thần Descartes: Hành-trinh vào Hiện-tượng Luận, 2007. Bản Việt-ngữ của Nguyễn Quỳnh, Quantic Universe, USA .

2. Wittganstein, Ludwig. 1922, Tractatus Logico-Philosophicus.Translated by D. F. Pears & B. F. McGuinness. Routledge & Kegan Paul. New York: The Humanities Press. The Vietnamese Translation: Cương-Lĩnh Luận-lý trong Triết-học, 2004 by Quynh Nguyen. Quantic Universe, USA

3. Wittgenstein, Ludwig, 1980, On Certainty/Über Gewissheit. Edited by G.E.M. Anscombe and G.H. von Wright. J. & J. Harper Editions. New York and Evanston.

4. Lập-ngôn/Aphorism: Terse or ingenious statement or formulation of a truth (Webster’s Dictionary). Étmetrre une hypothèse , by Eugène Gouin Ditionaire Vietnamien, Chinois, Francais.. Formules brèves qui experiment une pr6cept morale ou une vérité ( Dictionaire du Francais vivant), Bordas. Ví-dụ: Đạo-đức Kinh, Nam-hoa Kinh.

5. Wittgenstein, Ludwig, 1984, Culture and Value/ Vermischte Bemerkungen, 1977. Edited by G.H. von Wright in collaboration with Heikki Nieman. Translated by Peter Winch, the University of Chicago Press




THE ONTOLOGY OF CONSCIOUSNESS IN WITTGENSTEIN PHILOSOPHY AND IN OTHER SCHOOLS OF THOUGHTBy Quynh Nguyen


A. LUDWIG WITTGENSTEIN ON THE IDEA OF THE WORLD, FACT, THING, AND THE STATE OF AFFAIRS

1

We will never stop thinking about what is right or wrong, subjectively as well as objectively. Augustine paraphrases Socrates’ maxim Know Yourself that relates consciousness or cognitive understanding, which is first and foremost the critique of one’s self. Husserl in turn quotes Augustine to support his idea of transcendental intersubjectivity only attainable by solipsist efforts, Return to Yourselves. However, it must be clear that Husserl’s Cartesian Meditations’ profoundest point suggests the leap from one’s own consciousness to ambrace others, the ones who truly exist in the world, not simply an abstract ideal.

My works on consciousness do not comment on such approaches, due to the fact that we confront our own present tasks and problems in the world, not digging in dogmatic wisdoms. One thing for certain, seeing and consciousness are not the same although the former is a standpoint, say I know that that tree is a live oak, but the consciousness of the presence of presence of that tree requires transcendental knowledge of the tree, not just about its “Ding an sich”. Such transcendental knowledge seems to welcome the multiplicity connecting to my own knowledge, to human society, to climate, to economic conflicts and to cultural networks. From the dawn of human history to date, our consciousness of the gains and losses seems to travel on rocky paths, which challenge us to procure the clarity of any virtual point. So would it mean we fail to understand the ontology of consciousness or consciousness fails us? What is consciousness?

Consciousness is the ground breaking point to any un-ending subject of ontological investigations. My book begins with the fundamental questions of Wittgenstein’s philosophy and then connects them with the notions of consciousness discussed by other philosophers, such as Plato, Aristotle, Lock, Hume, Leibnitz, Descartes, Spinoza, Kant, Hegel, Nietzsche, Husserl, Heidegger, the neo-Marxists, Santayana, James, Dewey, Kierkegaard, Peirce, Sartre, Levinas, Derrida and others. The first part of my work was intellectually stimulated by the early and late thoughts of Wittgenstein. It arises in my attempt of my Doctoral Thesis at Columbia University. In reality, I have got some questions about consciousness and have made a promise to myself that I would revise all my knowledge about Wittgenstein’s philosophy. This is not quite a simple task because I cannot ignore the host of ideas of consciousness in Western philosophy.

I will begin with the critique of Wittgenstein’s early thought on logic and language (the Tractatus) whose consciousness were greatly revised to arise to his later one that acknowledges language as the continuous operation and accumulation akin to the fact of life. His second work titled Philosophical Investigations crystallizes great efforts of many years of unflagged labors, ultimately reaching his novel consciousness that shows the open-ending discourse of language including a section on visual perception. This has become the driving force of my present book.

Either from the standpoint of practicality or theory; speculation as well as action all we see is something that is referred to or hinted at the ontology of consciousness. Truly indeed in the aftermath of every sort of labor the discourse of consciousness is inherent as it goes into play to wake up our mind by way of criticism. Thus, we as human beings have a lot of questions, either heading on or returning to any perplexing point. Our mind always confronts questions that amount to critical issues. This is what we are going to learn from Wittgenstein’s early thought; the Tractatus in which the terse and ingenuous statements framed in the clarity of logic fail to accomplish its expected mission. Here is Wittgenstein’s philosophy.

a. Tratatus Logico-Philosophicus

The major problems in the Tractatus of Wittgenstein begin with “the ideal language” showing the case of consciousness that Wittgenstein shared with the positivists in the last decade of the 19th century, and its bearing on the Vienna Circle that used the Tractatus as a major textbook. Principally the contextual constitution of the Tractatus concerns words, speech and writing based on single units. Structurally speaking, this is known as “atomism”. Semantically this concept greatly impresses the reader’s mind but due to the complexity of the world language is not quite simple when it pictures the world. Therefore, whereas it has nothing wrong about the mechanical propositions of logic there are backfires as it contradicts Wittgenstein’s famous treatise on logic. We see for example, Wittgenstein’s Tractatus philosophical propositions expose conflicting aspects; (1) It shows the generalization of non-cognitive claims on the subjects of “world, all, fact, thing, and state of affairs”. (2) It results in the concession on the evidence of logical rules. And finally (3) it generates the conflict or the contradiction of Wittgenstein’s own thought. All these three issues would be clear if he had ever succinctly provided examples to clarify cases by cases. The thesis title and the content of the Tractatus show this persisting dilemma because they are not clearly supported due to his aphoristic statements1 quite against the academic discipline when the Tractatus was presented as a Doctoral Thesis at Cambridge University, evidently in E. C. Moore’s note submitted to the University for Final Deliberation.

6

At the opening line of the Tractatus, Wittgenstein writes:

1. The world is all that is the case.

Later he seemed to contradict his own view:

6431 So too at death the world does not alter, but comes to an end.

561 Logic pervades the world: the limits of the world are also its limits.

5621 The world and life are one.

7

Clearly the proposition 6431 refers to the world as the case. However, it is contradictory because if the world does not alter, how is it true that when a person passes away, the world comes to an end. It should be the world of that person. Or rather Wittgenstein means the word “death” is referred to the end of the world. If it is true, proposition 6431 is tautological. But how is it true that the world always remains in tact when it consists of states of affairs?

8

If proposition 5621 is true it must be also true to the consciousness of the world that constitutes (1) the fact that we human beings picture the world to ourselves and (2) such that all definitions of the world come to life as the combination of solipsist and universalist experiences tell us that the limits of our consciousness of the world and so is logics. We know nothing about the world outside our planet.

9

Can logic alone successfully represent all states of affairs of the world? No! At best logic can only show us the cases that are clearly demonstrated. Why? We need sufficient knowledge of every case in question that we assume existing in the world, for example Wittgenstein cautions us about the mystical (644). But he did not elaborate this case by supporting facts that account for the mystical phenomena.

10

Our consciousness is parallel to sensitivity of unknown (accidental) circumstances. We make decision based on our knowledge (positive) as well as on our second thought (probably negative). Since the result maybe either or pending on the certainty of our knowledge in which chance or accidentalness might become our motif for us to go on in life. Therefore, says Wittgenstein our existence is but the very world in which consciousness is generally based on assumptions that require our great attention because the state of affairs (problem/issue) of the world could be some or all of the following significances:

1. Absolute necessary

2. Absolute perpetual

3 General conditional

4. General conventional

5. General absolute

6. General possible

7. Special conditional

8. Special conventional

9. Non-necessary existential

10. Non-perpetual existential

11. Temporal

12. Spread

13. Special possible

(All next sections are avaible upon request at drquynhnguyen.us@gmail.com)



1. Terse or ingenious statement or formulation of a truth (Webster’s Dictionary). Étmetrre une hypothèse , by Eugène Gouin’s Ditionaire Vietnamien, Chinois, Francais.. Formules brèves qui experiment une pr6cept morale ou une vérité ( Dictionaire du Francais vivant (Bordas)



bài đã đăng của Nguyễn Quỳnh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)