Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Ngôn Ngữ, Tôn Giáo, Tư Liệu Email bài này

Lịch Sử Truyền Giáo Và Chữ Quốc Ngữ – Chương 14: Vua Tự Đức – Phần 2: Các thừa sai vận động cho cuộc xâm lược

0 bình luận ♦ 19.03.2026

 

LSTG&QN-VuaTuDuc

 

 

Phần 2

Các thừa sai vận động cho cuộc xâm lược

Vua Tự Đức lên ngôi sau cái chết đột ngột[1] của vua Thiệu Trị. Là người thông minh, tài đức, dù con thứ nhưng được vua cha chỉ định kế nghiệp. Trong 36 năm (1847-1883) trị vì, vua Tự Đức phải đương đầu với cuộc xâm lăng trường kỳ của Pháp: đánh chiếm và hoàn tất việc đô hộ nước ta.

Tự Đức tên thật là Nguyễn Phước Hồng Nhậm, sinh ngày 25-8 năm Kỷ Sửu (22-9-1829), lên ngôi ngày 3-10-Đinh Mùi (10-11-1847), ở tuổi 18[2], lấy năm Mậu Thân (1848) làm Tự Đức nguyên niên. Theo di chúc của vua Thiệu Trị, có bốn vị phụ chính đại thần: Trương Đăng Quế, Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Thiếp[3].

Đọc những nghị định liên quan đến đạo Gia Tô trong 10 năm đầu triều Tự Đức, ta thấy chính sách này đã bị các thừa sai xuyên tạc như thế nào để tạo lý do «chính đáng» cho việc Pháp xâm lược Việt Nam. Vì thế, trong chương này, chúng tôi cố gắng tìm hiểu chính sách đích thực của vua Tự Đức đối với đạo Gia Tô trong 10 năm từ 1847 đến 1857. Vua đã làm gì? Tại sao các giáo sĩ coi ông là kẻ thù số một, cần phải loại trừ?

Đại Nam thực lục ghi: «Xưa nay, thuyền các nước Anh Cát Lợi, Ma Ly Căn [Mã Lai], Bút Tu Kê (tức Bồ Đào Nha) đến đây mua thức ăn và lấy củi nước thì không cấm. Duy thuyền nước Phật Lan Tây (tức nước Pháp) thì không cho vào vụng và không cho lên bờ vì đã từng đến sinh chuyện» [chỉ việc quân Pháp tiêu diệt năm tầu chiến bọc đồng của hạm đội triều đình đậu tại Đà Nẵng ngày 15-4-1847][4].

Để răn đe các tầu Tây phương cập bến Đà Nẵng không được chở giáo sĩ vào lậu, vua Tự Đức ban hành dụ cấm đạo Mậu Thân, năm Tự Đức thứ nhất. Đây là dụ cấm đạo đầu tiên của vua Tự Đức và cũng là một đạo dụ nghiêm khắc, ra đời tháng 6 Mậu thân (tháng 7-1848), để trừng phạt sự cấu kết của giới thừa sai với hải quân Pháp trong trận pháo kích bất ngờ Đà Nẵng năm 1847, đưa đến cái chết của vua Thiệu Trị, và để cấm các thừa sai, không được lẻn vào Việt Nam. Nội dung chủ yếu như sau:

«Những người đạo trưởng Tây dương lẻn vào nước ta, ai bắt được, thưởng 300 lạng bạc. Quan sở tại, tra hỏi lý lịch, dâng tâu: Đạo trưởng ấy bị tội ném bỏ xuống sông. Còn người nước nhà là Đạo trưởng hay theo đạo, thì xin các nha xét việc hình 2-3 lần, cho biết rõ tội, nếu chịu bỏ đạo hay nhẩy qua cây thánh giá thì thả ngay, còn không chịu nhảy qua cây giá chữ thập thì người Đạo trưởng cũng xin xử tử, các con chiên theo đạo thỉ thích chữ vào mặt, đuổi về. Nếu biết hối cải, thì đến xin quan trừ bỏ chữ thích ấy đi. Những can phạm về đạo Gia Tô hiện còn bị giam cầm, cũng phân biệt Đạo trưởng với con chiên theo đạo, chiếu theo như trên mà làm»[5]

Quyết định này chủ ý trừng phạt sự «hợp tác» giữa thừa sai và quân xâm lăng, hẳn do đình thần bàn bạc, tâu lên, nhất là bốn vị phụ chánh, mà Trương Đăng Quế và Nguyễn Tri Phương có quan điểm cứng rắn nhất đối với giáo sĩ và người Tây phương: đặc biệt quan đại thần Trương Đăng Quế là thầy dạy vua Thiệu Trị, thấy sự khoan hồng của triều đình (thả Giám mục Lefèbvre và tất cả các giáo sĩ bị giam hoặc bị kết án tử hình từ thời Minh Mạng) không đem lại kết quả gì, mà còn đưa đến cái chết của vua. Với kinh nghiệm phục vụ bốn đời – Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức – Trương Đăng Quế hiểu rằng người Pháp chỉ mượn cớ «thông thương» để xâm lược, và đối với họ, biện pháp duy nhất là chống lại.

Trong dụ cấm đạo Mậu Thân, vua Tự Đức khe khắt với giáo sĩ người Âu (xử tử trôi sông), nhưng nhân nhượng với các thày tu người Việt và cho họ một lối thoát. Riêng với những con chiên người Việt, vua thường biện hộ cho họ trước triều đình rằng: dân chúng dốt nát không biết gì, bị dụ dỗ theo đạo, chỉ cần cách ly họ với cha cố là đủ.

Chưa kể những quyết định của vua Tự Đức đối với tử tù, trong Án mùa thu hàng năm, luôn luôn khoan hồng: Mỗi năm, toàn bộ án tử hình từ các tỉnh gửi về, đến mùa thu, bộ Hình mới đem ra xét lại, rồi đệ lên vua. Vua ký lệnh hành quyết khoảng từ 5 đến 7%, còn thì cho giảm án hoặc lưu đầy. Đại Nam thực lục viết:

«Danh sách xét án về mùa thu này [năm 1851], 306 tên phạm, vua thân duyệt xét định, chỉ móc tên ra cho hành hình có 19 tên phạm. Còn các tên phạm khác phần nhiều giảm xuống phát vãng và khoan hoãn cho.»[6] Trong số 19 người này có giáo sĩ Schoeffler.

Trong Khiêm cung ký, khắc trên bia lăng Tự Đức, vua viết: «nắm quyền sinh sát lâu ngày nhưng chưa hề tự chuyên giết lấy một người khi án chưa rõ».

Những lời buộc tội Tự Đức giết giáo dân của giáo sĩ thừa sai thường vô bằng chứng, nếu không muốn nói là bịa đặt, cần được xét lại.

Ba năm sau dụ cấm đạo Mậu Thân [1848], Schoeffler là giáo sĩ đầu tiên bị bắt, bị xử tử dưới triều Tự Đức. Đại Nam thực lục tháng 2 năm Tân Hợi (tháng 3-1851) ghi:

«Bắt được Đạo trưởng người Tây dương là Áo Tư Định [Schoeffler] ở xã Mai Đình, tỉnh Sơn Tây, giết đi».[7] Thực lục không ghi rõ tội gì, vậy giáo sĩ Schoeffler bị án tử hình vì tội lẻn vào trái phép, và bị xử tử theo dụ cấm đạo Mậu Thân (tháng 7-1848), đã nói đến ở trên.

Một vụ tử hình khác được các sách Pháp ghi lại, và các sử gia Việt chép theo: giáo sĩ Bonnard bị bắt tháng 3-1851 và bị chém đầu ở gần Nam Định ngày 1-5-1852[8]. Việc này, không thấy ghi trong Đại Nam thực lục. Chúng tôi tìm nguồn cội của thông tin thì được biết: tin này do Bourboulon, đặc phái viên ngoại giao của Pháp ở Trung quốc đưa ra, và do giáo sĩ Libois, quản lý Hội Thừa Sai Hồng Kông cung cấp với mục đích nhờ Bourboulon xin chính quyền Pháp «ra tay gấp» vì Tự Đức sắp ra «một dụ cấm đạo nữa kinh hoàng hơn tất cả các dụ từ trước đến giờ» [9].

Như vậy, tin này được đưa ra để thúc giục chính quyền Pháp «ra tay gấp», cần được hiểu đúng mục đích của nó; bởi vì trong suốt năm 1852, không thấy vua Tự Đức ra dụ cấm đạo nào cả!

Những loạt «tin» kiểu như thế về vua Tự Đức, do các giáo sĩ, hoặc Hội Thừa Sai đưa ra để thúc đẩy Pháp hoàng cất quân «trừng trị» nước Nam rất nhiều mà lại rất ít bảo đảm. Rồi những «tin» ấy được những người Việt theo đạo như Nguyễn Trường Tộ phóng đại lên và sau này các sử gia như Trần Trọng Kim, Phan Khoang cũng theo sách Tây chép lại mà không kiểm chứng.

Một trường hợp khác cũng đáng ghi lại vài dòng ở đây: Giám mục Pellerin ở Huế, viết hai thư về Hội Thừa Sai: Thư ngày 26-11-1848, mô tả đám tang vua Thiệu Trị. Và thư ngày 16-12-1849, tường thuật lễ đăng quang vua Tự Đức, với nhiều chi tiết mỉa mai khinh miệt, để chứng tỏ sự «mọi rợ» của những lễ nghi này, vị Giám mục viết:

«Khi Thiệu Trị chết, người ta tìm những tay phù thủy để chỉ ngày phù hợp với lễ chôn cất vua và khi ngày giờ ấy đến, người ta đặt trong quan tài cùng với xác chết vô sô đồ đạc của người chết để dùng trong thế giới bên kia, như vương niệm, khăn, đủ loại quần áo, vàng, bạc và tất cả đồ trang trí bằng kim quý… Khi Thiệu Trị đã được đặt trong áo quan, người ta đưa quan tài vào một nhà mồ đặc biệt, ở đó mỗi ngày người ta giết nhiều trâu, lợn, gà, người ta làm món ăn trên cái bàn gần quan tài và vua mới, con vua vừa chết, đến sùng bái cha và cho ông ấy ăn. Mỗi ngày người ta thắp nến, đốt hương, têm trầu, cau, thuốc lào…

Cái xác ở trong phòng quan tài đến ngày 21, tuần trăng thứ 5, năm 1848…

Có khi người ta đào mả người chết nhiều lần để chôn nơi khác, vì có một tay phù thuỷ đói ăn (famélique sorcier) đến để kiếm vài xu, làm cho gia đình kinh hồn mất vía, bằng cách tiên đoán những bất hạnh khủng khíếp vì cha mẹ chôn không đúng chỗ…» [10]

Sự mô tả miệt thị như thế về thủ tục nhập quan và chôn cất của người Việt dài hàng trang, như để chứng tỏ Giám mục Pellerin đã quan sát kỹ và biết nhiều; nhưng đồng thời cũng cho thấy ông không biết gì về nền văn hóa Đông phương, hoàn toàn khác biệt với Tây phương, từ việc xem ngày tốt, xấu để làm lễ hạ huyệt, đến việc cúng thức ăn cho cha mẹ đã khuất, đều nằm trong một quan niệm siêu linh: người chết có một đời sống khác sau khi qua đời, của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt người Á châu.

Việc áp đặt cách suy nghĩ, các tập tục «văn minh» của người Tây phương cho mọi dân tộc, và phỉ báng, xuyên tạc, chế giễu phong tục, tập quán của những dân tộc khác, là một trong những căn bệnh coi mình là trung tâm của vũ trụ của người Tây phương, đến nay vẫn còn tồn đọng.

 

Thừa sai âm mưu giúp Hồng Bảo chiếm ngôi

Vụ Hồng Bảo là một bi kịch lớn dưới thời vua Tự Đức. Vụ này làm lộ sự thông đồng giữa Hồng Bảo và giới thừa sai để khuynh đảo triều đình.

Người anh của vua Tự Đức là Hồng Bảo, vì không được cha chọn làm vua, nên uất hận, ba lần âm mưu cùng các thừa sai tìm cách lật đổ Tự Đức.

Đại Nam thực lục tháng Giêng năm Giáp Dần (tháng 2-1854) ghi:

«An Phong công là Hồng Bảo mưu khởi nghịch, thắt cổ tự tử nơi giam. Con trai con gái Hồng Bảo và Tôn Thất Bật, tòng mưu, đã chết, đều bị gạch tên trong sổ Tôn Nhân. Quan tòng phạm Đào Trí Phú bị xử lăng trì. Trước đây, Hồng Bảo vì không được làm vua đã thông ngầm với người Tây dương. Việc bị phát giác nhưng vua vẫn khoan dung cho Hồng Bảo. Năm ngoái [1853] Hồng Bảo lại ngầm sai thuộc hạ là Trần Tuấn Đức thông ước với nước Cao Miên nổi loạn. Kinh lược đại sứ Nguyễn Tri Phương bắt được Đức giải về kinh, tra xét quả là thực, Hồng Bảo tự tử ở nơi giam, các con của Bảo và Bật, đều phải đổi sang họ mẹ là họ Đinh và họ Phan».[11]

Thực lục chỉ ghi: Hồng Bảo vì không được làm vua đã thông ngầm với người Tây dương; không nói rõ mấy lần, nhưng phân tích câu trên, ta có thể đếm được ba lần:

– Lần thứ nhất: «trước đây, Hồng Bảo vì không được làm vua đã thông ngầm với người Tây dương», hai chữ trước đây có nghĩa là sau khi Tự Đức lên ngôi (ngày 10-11-1847), lần này được tha.

– Lần thứ hai, năm 1848 với Đào Trí Phú, Trí Phú bị xử lăng trì. Hồng Bảo được tha.

– Lần thứ ba, năm 1853 với Trần Tuấn Đức. Hồng Bảo bị bắt giam, tự tử chết trong tù.

Cao Huy Thuần viết trong văn bản luận án tiến sĩ:

“Bị gạt khỏi ngôi vua, Hồng Bảo, anh cả của vua Tự Đức; muốn quy tụ người Gia Tô vào cuộc nổi dậy chống vua,đồng đảng của ông trao tiền trước cho các thừa sai hầu được sự trợ giúp của người Tây phương. Âm mưa bại lộ, Tự Đức ban hành lệnh trục xuất đầu tiên của ông (1848) chống lại “những kẻ cả gan đến độ quyến rũ một hoàng thân. Hai chỉ thị khác vào năm 1851 và 1855 [1854], trục xuất các thừa sai [nhưng họ] vẫn cứ tiếp tục vào Việt Nam.”[12]

Theo Cao Huy Thuần, cả ba lần đều có bàn tay thừa sai giúp sức. Cho nên ta có thể hiểu rằng: Vua Tự Đức ra dụ cấm đạo 1848, là để trừng phạt việc thừa sai âm mưu với hải quân Pháp trong trận Đà Nẵng 1847 và âm mưu với Hồng Bảo để lật đổ vua Tự Đức lần đầu. Dụ này, thoạt nhìn, dường như lý do không phải vì Hồng Bảo, mà chỉ để trừng trị trận đánh lén Đà Nẵng ngày 15-4-1847 của tầu Pháp, gây ra cái chết của vua Thiệu Trị, bởi vì xem tài liệu thì đến tháng 12-1848, Hồng Bảo vẫn còn nhận trợ cấp của Tự Đức[13] Tuy nhiên không loại trừ khả năng Hồng Bảo, dù nhận trợ cấp, vẫn mưu lật đổ Tự Đức với các thừa sai từ năm 1847. Và như vậy dụ cấm đạo đầu tiên của Tự Đức, là để trừng phạt hai vụ phản bội: Trận Đà Nẵng 1847 và vụ Hồng Bảo thuê tiền thừa sai để tổ chức cướp ngôi.

Tháng 3-1851, xẩy ra việc: giáo sĩ Schoeffler bị xử tử hình vì tội lẻn vào trái phép (xử theo dụ cấm đạo Mậu Thân, 1848) và giáo sĩ Bonnard bị bắt tháng 3-1851 (bị chém đầu ở gần Nam Định ngày 1-5-1852). Như vậy, ta có thể hiểu: mặc dù đã có dụ cấm đạo 1848, các giáo sĩ vẫn tiếp tục vào lậu, dẫn đến hai án tử hình, đó là lý do khiến vua Tự Đức ban hành dụ cấm đạo thứ hai, 1851.

Đến năm 1854, Hồng Bảo lại cấu kết với thừa sai để mưu lật đổ chính quyền Tự Đức, nên có dụ cấm đạo thứ ba, Giáp Dần, 1854 [dụ này ra tháng 7 năm Giáp Dần, tức tháng 8-1854], khắc nghiệt nhất từ trước đến giờ, xin tóm tắt dưới đây:

«Định rõ điều cấm theo đạo Gia Tô:

Một khoản: Người nào trót theo đạo Gia Tô, đến thú tội và bỏ đạo thì miễn tội. Nếu bị tố giác, là quan lại sẽ bị cách chức về làm đinh, là quân dân cũng bị trị tội theo điều luật.

Một khoản: Bắt được đạo trưởng người Tây dương thì chém đầu, đem bêu, rồi quăng xác xuống sông; bọn con chiên người Tây và đạo trưởng người bản quốc, thì xử trảm ngay; còn bọn con chiên người bản quốc thì phát vãng đi đầy ở đồn bảo ven biên giới, mà không phải là vùng biển.

Một khoản: Người nào tố cáo bắt được đạo trưởng người Tây dương, thưởng 300 lạng bạc, đạo trưởng người bản quốc 100 lạng bạc.

Một khoản: Người nào chứa giấu đạo trưởng và con chiên người Tây dương, thì tổng lý sẽ xét xử theo điều luật «chứa giấu người có tội»…

Ngoài ra, đều theo lệ năm Minh Mệnh mà thi hành»[14]

Dụ này định rõ các hình thức xử tử khác nhau, tùy theo đối tượng:

Đạo trưởng Tây dương bị chém đầu, đem bêu, rồi quăng xác xuống sông (xử nặng hơn trước)

Đạo trưởng người Việtcon chiên người Tây dương: bị xử trảm tức chém đầu.

Con chiên người bản quốc, nếu không chịu bỏ đạo thì bị phát vãng (đầy đi vùng biên giới).

Không có lệnh giết con chiên người Việt.

Thừa sai vận động cho cuộc xâm lược

Sau trận Đà Nẵng 1847, nước Pháp có những bận tâm khác, mãi đến năm 1856, xong cuộc chiến ở Crimée, vấn đề chinh phục thuộc địa ở Á Châu lại được đề ra, sứ bộ Montigny nhận nhiệm vụ «giao thiệp» với các nước Viễn Đông (xem phần 1, kỳ trước), tức là thăm dò tình hình chính trị, quân sự và địa lý, cho cuộc viễn chinh.

Về mặt thừa sai, ba nhân vật đắc lực viết những bản điều trần thúc đẩy Napoléon III quyết định viễn chinh là Linh mục Huc, Giám mục Pellerin, và Linh mục Legrand de la Liraye. Họ trình bầy ba lý do chính:

– Đánh để cứu giáo sĩ và giáo dân đang bị «tiêu diệt».

– Đánh để kiếm lời cho nước Pháp.

– Đánh không tốn kém gì.

Qua ba bản điều trần này, ta biết rõ hơn sự xuyên tạc của các thừa sai về chính sách tôn giáo của vua Tự Đức, về việc «tàn sát» đạo Chúa, và họ tìm mọi cách để vận động chính phủ Pháp xâm chiếm Việt Nam.

 

Sự vận động của Linh mục Huc

Evariste Huc, tác nhân chính của cuộc xâm lược này, sinh năm 1814 tại Caylus (Tarn-et-Garonne, miền Nam nước Pháp). Năm 1836, ông gia nhập dòng tu Saint-Lazare, giữ việc sổ sách (registre). Được gửi đi Macao đầu năm 1839. Từ tháng 8-1844 đến tháng 10-1846, Huc tháp tùng Bề trên là linh mục Gabet, không biết đi những đâu. Ông nổi tiếng, nhờ cuốn ký sự tựa đề: Souvenirs d’un voyage dans la Tartarie, le Tibet et la Chine (Kỷ niệm chuyến đi vào xứ Thát đát, Tây Tạng và Trung Hoa), in tại Paris năm 1850. Năm 1852, bị bệnh phải trở về Pháp. Năm 1854, cha Huc in cuốn sách l’Empire chinois (Đế quốc Trung Hoa) và dự định năm 1857-58, sẽ cho in cuốn Le Christianisme en Chine et au Tibet (Đạo Thiên Chúa ở Trung Quốc và Tây Tạng). Ông qua đời năm 1860.[15]

Tuy chưa đến Việt Nam bao giờ, nhưng cha Huc trong bản Thông điệp (Note) gửi Napoléon III dám quả quyết rằng: nước Nam tàn sát đẫm máu giáo dân bản xứ nếu chinh phục nước này, ta sẽ thâu lượm được «kết quả vô lượng».

Dưới đây là bản Thông điệp (Note) của Linh mục Huc gửi Hoàng đế Napoléon III[16],

Thông điệp gửi Hoàng đế

Tháng Giêng, 1857

«Ô. Tu viện trưởng Huc, cựu giáo sĩ Toà thánh, hân hạnh được đệ trình lên Hoàng thượng những luận điểm sau đây. Viễn Đông sẽ trở thành sân khấu của những biến cố trầm trọng. Nếu Hoàng thượng chiếu lệnh, nước Pháp sẽ giữ một vai trò quan trọng và vinh hiển…»

[Sau đó, cha Huc kể lại những «khốn cùng» của Nguyễn Ánh khi khởi nghiệp, phải nhờ sự «trợ giúp» của chính quyền Pháp, và những điều khoản ghi trong hiệp ước tháng 11-1787 để «trả ơn» nước Pháp, đặc biệt quyền sở hữu nước Nam…]. Rồi ông viết tiếp:

Cuộc cách mạng [1789] làm cho chúng ta quên nước Nam (la Cochinchine)[17] và sự thi hành hiệp ước [11-1787] này… Những toan tính dưới thời Vương Chính Trùng Hưng (la Restauration) vụng về nên chỉ đưa đến việc «loại trừ người Pháp khỏi nước Nam»[18] và những tàn sát đẫm máu nhất đối với giáo dân bản xứ. Hôm nay, có những điều kiện thuận lợi nhất để chiếm nước Nam, vùng đất mà nước Pháp theo hiệp ước 1787, có quyền sở hữu không thể chối cãi được Sự chiếm hữu nước Nam là việc làm dễ nhất thế giới, nó mang lại những kết quả vô lượng (L’occupation de la Cochinchine est la chose la plus facile du monde; elle offrirait des résultats immenses). Nước Pháp đã có ở vùng biển Trung Hoa [biển Đông] này, những lực lượng đáng kể, thừa sức thi hành việc này… Dân chúng hiền lành chăm chỉ, rất dễ truyền đạo, đang rên siết dưới ách độc tài ghê tởm nhất. Họ sẽ đón tiếp chúng ta như những người đến giải phóng, những ân nhân, chỉ cần một thời gian ngắn để làm cho họ hoàn toàn thành người công giáo và xả thân vì nước Pháp. (La population, douce, laborieuse, très accessible à la propagation de la foi chrétienne, gémit sous la plus abominable tyrannie. Elle nous accueillerait comme des libérateur et des bienfaiteurs, il faudrait peu de temps pour la rendre entièrement catholique et dévouée à la France)

Đà Nẵng trong tay người Pháp sẽ là một hải cảng không thể đánh chiếm nổi (inexpugnable) và là cứ điểm quan trọng nhất để thống trị miền bắc Á châu... [Mô tả chi tiết về sự phì nhiêu của xứ sở và sự đa dạng của các sản phẩm.]

… Tóm lại, điều quan trọng đối với nước Pháp, trong hoàn cảnh hiện tại, là phải có một cơ sở giầu và mạnh ở Viễn Đông. Nhìn từ mọi phương diện, nước Nam thích hợp với chúng ta hơn cả. Chúng ta có quyền chiếm lấy, chiếm một cách dễ dàng nhất. Không tốn kém gì cho nước Pháp (A tous les points de vue, la Cochinchine est le poste qui nous convient le mieux. Nous avons le droit de l’occuper, l’occupation est des plus faciles. Elle ne coute rien à la France) mà còn đem lại hậu quả lớn là sự hiển vinh và giàu mạnh. Người Anh đã mở to mắt nhìn Đà Nẵng rồi, họ sẽ đi trước chúng ta nếu họ biết chúng ta có quyền và có dự định xâm chiếm.

Nếu bài trình ngắn này được Hoàng Thượng lưu ý, sẽ dễ dàng cho Ô. Huc đệ lên Hoàng Thượng những thông tin chi tiết và chính xác hơn.

E. Huc[19]

Những lời của giáo sĩ Evariste Huc trong lá thư trên đây, tiêu biểu cho luân điệu chung của các thừa sai đệ trình Pháp hoàng, xin đánh chiếm Việt Nam. Để đạt mục đích, họ không ngần ngại đưa ra những xác định điêu ngoa.

Cha Huc viết rằng: «Dân chúng hiền lành chăm chỉ, rất dễ truyền đạo, đang rên siết dưới ách độc tài ghê tởm nhất. Họ sẽ đón tiếp chúng ta như những người đến giải phóngchỉ cần một thời gian ngắn để làm cho họ hoàn toàn thành người công giáo và xả thân vì nước Pháp».

Rigault de Genouilly (đã trở thành Đô đốc) cầm đầu một hạm đội hùng hậu 14 tầu chiến của Liên quân Pháp-Y Pha Nho, đến tấn công Đà Nẵng ngày 31-8-1858, mới ngã ngửa ra rằng chẳng có người công giáo Việt Nam nào «nổi dậy» chào đón Liên quân Pháp-Y đến «giải phóng» họ. Từ đó phát sinh sự nghi ngờ và hận thù giữa hai thành phần chủ trương xâm lược: bọn quân phiệt cho rằng họ bị bọn thừa sai đánh lừa.

Huc còn vận dụng hiệp ước 1787, để viết những câu: « Hôm nay, có những điều kiện thuận lợi nhất để chiếm nước Nam, vùng đất mà nước Pháp theo hiệp ước 1787, có quyền sở hữu không thể chối cãi được… . Sự chiếm hữu nước Nam là việc làm dễ nhất thế giới, nó mang lại những kết quả vô lường… Chúng ta có quyền chiếm lấy, chiếm một cách dễ dàng nhất. Không tốn kém gì cho nước Pháp»

Ở đây, ta cần phải nhắc lại sự thực: Hiệp ước 1787 là hiệp ước Bá Đa Lộc ký với Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, khi đem Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện năm 1787, nhưng hiệp ước này không được Louis XVI thi hành. Cho nên câu: «nước Nam, vùng đất mà nước Pháp theo hiệp ước 1787, có quyền sở hữu không thể chối cãi được» là một xác định gian dối, vì Bá Đa Lộc về tay không, Louis XVI không giúp gì cho Nguyễn Ánh.

Tuy vậy, người Pháp thường vin vào cớ này để kể công, đặc biệt các tướng lãnh hải quân, trong văn thư xin giao thương với Việt Nam, và các sử gia thực dân sau này, viết sách để dạy học trò Pháp, Việt. Cha Huc đẩy sự tham lạm đến cao độ: Theo hiệp ước 1787, nếu Pháp giúp khí giới để đánh Tây Sơn, Nguyễn Ánh chỉ nhượng Cù Lao Chàm Côn Đảo cho Pháp, nhưng ở đây cha Huc đòi quyền sở hữu cả nước Nam! Mặc dù Pháp không giúp gì cho Nguyễn Ánh cả!

 

Sự vận động của Giám mục Pellerin

Francois-Marie Pellerin, sinh ngày 20-2-1813, tại Quimper, [thuộc vùng Bretagne, Pháp]. Năm 1843, được Hội Thừa Sai Paris gửi sang Việt Nam. Năm 1846, thăng chức Giám mục, làm trợ tá cho Giám mục Cuénot. Năm 1850, trở thành Giám mục Tông toà miền bắc Nam kỳ[20] (tức miền Trung). Năm 1857, dưới thời vua Tự Đức, Giám mục Pellerin bị truy nã, trốn lên tầu Capricieuse của Pháp đang đậu ở vịnh Đà Nẵng và gia nhập sứ bộ Montigny đang ở trên tầu này, lúc đó đang điều đình «hiệp ước hòa hiếu» ở Đà Nẵng. Sứ bộ Montigny thất bại. Giám mục Pellerin về Paris cầu cứu Pháp hoàng đem quân xâm chiếm Việt Nam.

Hành trình của Pellerin, được Taboulet ghi lại như sau:

«Từ năm 1851, vị Giám mục Đại diện Tông tòa miền bắc Nam kỳ, đã cầu cứu nước Pháp giúp giáo dân «thoát khỏi những cơn thịnh nộ của Tự Đức» («à l’abri des fureurs de Tự Đức»). Ngày 18-6-1855, ông trình báo một lần nữa lên chính phủ Pháp tình trạng tồi tệ của giáo dân ở Việt Nam. Tháng 9 năm 1856, khi biết có tầu Pháp Catinat ghé Đà Nẵng [xem việc tầu Catinat ở dưới] cần thông ngôn, vị chủ giáo, ở cách đó 100 cây số, thấy mình «có bổn phận» phải lên tầu. Chiếc mảng của ông bị bão đánh dạt vào bờ, ông phải trốn vào rừng núi, người phụ tá của ông, cha Pasquier, bị sốt, đói khổ, chết trong tay ông ngày 18-10. Sau hai tháng rưỡi bôn ba cực khổ, Giám mục Pellerin «kiệt sức và trần trụi» («exténué et à demi-nu») cuối cùng, đầu tháng 11, ông lên được tầu Capricieuse đến thay thế tầu Catinat. Sau khi theo sứ bộ Montigny trong việc điều đình, ông thấy không thể trở lại giáo phận của mình trong tình trạng «máu lửa này» ông bèn quyết định về Pháp, để trình bày với Hoàng đế tình trạng tuyệt vọng của các con chiên trong giáo khu của ông. Khởi hành từ Hồng Kong ngày 10 tháng 3 năm 1857, ông được Linh mục Libois [21] giao cho ông bốn thánh tích tử đạo, Giám mục Pellerin, cầm lá thư gửi gấm của Bourboulon[22] về tới Paris tháng 5-1857»[23]

Tháng 5-1857, Giám mục Pellerin về tới Pháp cùng em là Louis, liên lạc với Eugène Veuillot, ký giả công giáo có thế lực, vận động chống lại việc «đàn áp» đạo Chúa ở Việt Nam. Pellerin giảng đạo tại nhà thờ Notre Dame des VictoiresSaint Laurent, kể lại những «lớp lang bi thảm» (épisodes dramatiques) về sự «tàn sát» đạo Chúa, có tác dụng «không sao kể xiết» (indicible) đối với người nghe, làm cho thành phần công giáo «phẫn nộ» vì «tội ác tầy trời» của Tự Đức.

Ngày 16-5-1857, Giám mục Pellerin thuyết trình ở Uỷ ban nước Nam và gửi vua Napoléon III một bản điều trần dài, trong đó ông bộc lộ tất cả những «thắng lợi mọi mặt» nếu đánh chiếm Việt Nam và cần phải làm ngay bởi vì mới đây người Anh đã tính chuyện mua cửa bể Đà Nẵng. Giám mục được Napoléon III tiếp kiến nhiều lần trong tháng 6 và 7-1857. Có lẽ Pellerin không biết nhà vua đã quyết định viễn chinh từ giữa tháng 7, nên ông còn xin triều kiến trong tháng 8 và ngày 30- 8-1857, Pellerin lại gửi cho Napoléon III lá thư cầu khẩn dưới đây. Sau đó ông đi Roma và được Napoléon III gọi về Pháp tháng 12-1857. Ông rời Pháp tháng 3-1858 để đi Hồng Kông.[24]

Dưới đây là thư Giám mục Pellerin viết cho Pháp hoàng ngày 30-8- 1857, xin che chở cho giáo dân (với ẩn ý: đánh Việt Nam).

 

Thư Giám mục Pellerin cầu khẩn Napoléon III che chở giáo dân

Giám mục Pellerin đệ trình Hoàng thượng,

Paris ngày 30 tháng 8 năm 1857

«Tâu Hoàng thượng,

Cúi xin bệ hạ cho phép thần tâu một lần nữa về những tân tín đồ khốn khổ và các giáo sĩ Pháp còn đang ở vương quốc An Nam. Máu của họ đang đổ và điều kiện sống của họ hiện nay trở nên khủng khiếp, kể từ cuộc vận động sau cùng của nước Pháp [chỉ sự thất bại của sứ bộ Montigny]. Nếu bây giờ, không ai làm gì hết cho chúng thần, e rằng đạo Thiên chúa sẽ bị tận diệt ở những vùng sẵn sàng đón nhận ân sủng của đạo Chúa và Văn minh». […]

Thần không trình bày với bệ hạ những mối lợi vật chất và chính trị sẽ đem lại cho nước Pháp việc chiếm hữu mấy hải cảng của nước Nam mà nước Pháp có chủ quyền, vì việc này không cần thiết cho sự cứu trợ giáo dân, nhưng van xin Hoàng thượng đừng bỏ rơi chúng thần. Những gì ngài ban cho sẽ được Thượng đế chứng giám và ban phước lành cho ngài và cho triều đại tôn quý của ngài.

Để chúng thần có được một chút bình yên và tự do, dường như những phương tiện sử dụng cũng không tốn kém nhiều cho nước Pháp.»[25]

Ngày 1-9-1858, liên quân Pháp-Y Pha Nho do Rigault de Genouilly điều khiển, tấn công Đà Nẵng với 14 chiến hạm. Giám mục Pellerin làm thông ngôn và dẫn đường, trên tầu Đô đốc Rigault de Genouilly.

 

Linh mục Legrand de la Liraye dâng luận cương xâm lược

Cao Huy Thuần tìm thấy văn bản thứ ba: Linh mục Legrand de la Liraye, trong tháng 12-1857, viết một luận cương bầy tỏ những lợi lộc về mọi phương diện, nếu xâm chiếm Việt Nam. Luận cương này đến hơi chậm vì lệnh viễn chinh đã được truyền đi ngày 25-11-1857.

Legrand de la Liraye chủ trương rằng:

Hiện nay, Anh đã chiếm cả vùng từ Ấn Độ đến Singapour, ta [Pháp] phải tìm cách cắt đứt mọi liên lạc của Anh với các thuộc địa của họ. Nước An Nam đất đai phì nhiêu, hơn hẳn Phi Luật Tân, Java và Bornéo, dân chúng lại dễ bảo, thông minh, siêng năng, đang rên xiết dưới một chính quyền tàn bạo, bất công, lừa dối, họ sẵn sàng nổi dậy. Mà hải quân An Nam đã bị tiêu diệt từ vụ Đà Nẵng 1847. Ta đến để hỏi An Nam những «tội» sau đây:

– Dám sỉ nhục nước Pháp: vì nước Nam không chịu buôn bán [với Pháp] nên đã «phá hoại» việc buôn bán của Pháp

– Xử tử các thừa sai

– Bội ơn (trước mắt toàn thế giới) khi dám đoạn tuyệt một cách «vô liêm sỉ» với một nước «đồng minh» [Pháp] sau khi đã tiếp nhận “biết bao giúp đỡ về người và tiền bạc“.

Để kết luận, ta đòi:

– Quyền đại diện cho các sĩ quan Pháp tại nhiều điểm (Phú Quốc, Cam Ranh, Đà Nẵng, Cửa Cấm) để bảo đảm tự do lưu thông, tự do buôn bán tại các cảng lớn trong nước, tự do tôn giáo cho mọi tín đồ Gia Tô và quyền cư trú cho các thừa sai như dưới thời Gia Long.

– Chiếm cứ vĩnh viễn Đà Nẵng và các đảo phụ cận, Hội An ở phiá Nam và Hải Vân, Cù Lao Chàm ở phía Bắc để làm điểm trú ẩn, tiếp liệu và kho hàng.

Cuối cùng, theo tôi [Legrand de la Liraye] chiến tranh là cách duy nhất, tốt nhất, phải đánh gấp Bắc Kỳ, Huế và Đà Nẵng cùng lúc, nếu được thì lật đổ chính phủ, bàn chuyện giải phóng hai dân tộc chiến bại ở nước Nam [ý nói hai «nước» Bắc Kỳ và Nam Kỳ, vì ông ta tưởng triều đình Huế «đô hộ» hai «nước» này] và đưa một kẻ tự xưng là con cháu nhà Lê lên ngôi vua ở Bắc Kỳ[26]

Tóm lại cả ba thừa sai Huc, Pellerin và Legrand de la Liraye đều dùng lập luận thảo khấu để thuyết phục Napoléon III tấn công Đà Nẵng, trong khi Chính phủ Pháp còn có những lo nghĩ khác ở châu Âu, chưa tha thiết với vần đề đánh chiếm thuộc địa ở Á châu. Những lý lẽ chiếm đất để kiếm ăn này, đi kèm với chủ trương lật đổ chính quyền Tự Đức của Pellerin và Legrand de la Liraye, để đặt kẻ tự xưng là con cháu nhà Lê lên ngôi, cộng thêm chỉ thị của Giáo hội Công giáo: phỉ báng tam giáo (Phật, Khổng, Lão) và cấm thờ cúng tổ tiên, giải thích tại sao hầu hết các quan và các nhà nho trong nước đều khinh bỉ «bọn» thừa sai.

 

Sự thành lập Ủy ban nước Nam

Tháng 1-1857, Thông điệp (Note) của linh mục Huc đến tay Napoléon III. Nhà vua giao việc này cho Bá tước Walewski, Bộ trưởng Ngoại giao; Walewski đưa cho Cintrat, Giám đốc Văn khố Ngoại giao (Directeur des Archives du quai d’Orsay) nghiên cứu và làm bản phúc trình. Từ bản phúc trình Cintrat, một Uỷ ban nước Nam (Commission de la Cochinchine) được thành lập ngày 22-4-1857, tại Paris. Gồm 5 người:

Thiếu tướng hải quân Fourichon, dày kinh nghiệm thuộc địa, do Napoléon III chỉ định.

Đại tá hải quân Jaurès, do Đô đốc Hamelin, Bộ trưởng Hải quân chỉ định.

Bá tước Fleury, Giám đốc Ngoại thương, do Bộ Canh nông, Thương mại và Công chánh chỉ định.

Cintrat, Giám đốc Văn khố Ngoại giao, do Bá tước Walewski chỉ định.

Chức Chủ tịch Ủy ban được Bá tước Walewski giao cho Nam tước Bernier, Công sứ toàn quyền tại Naples, lúc đó đang ở Paris.

Trong 7 buổi họp, từ ngày 28-4 đến ngày 18-5-1857, tại bộ Ngoại giao, Uỷ ban nước Nam xét thấy không thể dùng hiệp ước 1787 làm cớ đòi lại đất mà Việt Nam đã «nhượng» cho Pháp vì Pháp không thi hành hiệp ước này nhưng có thể dựa vào việc các «sĩ quan» Pháp đã giúp Gia Long dựng nghiệp và nhà Nguyễn «tàn sát» giáo sĩ và giáo dân trong hơn 20 năm nay, làm hai lý do chính cho cuộc viễn chinh.

Khốn nỗi, việc các «sĩ quan» Pháp đến giúp Nguyễn Ánh dựng nghiệp, là hoàn toàn hoang tưởng, cũng như việc tàn sát giáo dân, đã nói ở trên, bởi vì Olivier de Puymanel, Théodore Le Brun và Jean-Marie Dayot, không phải là sĩ quan, mà chỉ là những người lính vô học, đào ngũ, không có khả năng xây dựng thành trìthiết lập quân đội cho Gia Long, như lời các thừa sai, sử gia và học giả Pháp bịa đặt ra.[27]

 

Quyết định xâm lăng

Sau khi nghe Linh mục Huc thuyết trình ngày 9-5-1857 và Giám mục Pellerin, thuyết trình ngày 16-5-1857, Uỷ ban nước Nam nhất trí kết luận:

Vì quyền lợi của nước Pháp trên ba điểm: đạo đức, chính trị và thương mại, ta phải hành động mau lẹ nhất, sửa soạn trong bí mật, để chiếm ba thành phố chính của nước Nam.

Ủy ban trình bày kế hoạch hành quân do Fourrichon và Jaurès soạn, với một đoàn quân viễn chinh gửi từ Pháp, độc lập với quân đội Pháp đang đóng ở Trung quốc, để chiếm Đà Nẵng, Sài Gòn, KeSo [Hà Nội] và đặt Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp.

Lúc đầu, trong một Note đề ngày 20-3-1857 của Bộ Ngoại giao, không ký tên[28] đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu của cha Huc: Note này cho rằng đề nghị của Huc không thể chấp nhận được về tất cả mọi mặt và cũng không cần thiết, nước Pháp có những vấn đề quan trọng cần giải quyết ở lục địa châu Âu, v.v.

Nhưng cuối cùng, Walewski đổi ý, quay lại ủng hộ hết mình cuộc xâm lăng, có lẽ vị bị ảnh hưởng của Bernier, chủ tịch Uỷ ban nước Nam, và những lập luận trong biên bản bế mạc dưới đây.[29]

 

Biên bản buổi họp bế mạc của Uỷ ban nước Nam

Sau đây là những luận điểm chính của Dự án đánh chiếm Việt Nam, trong biên bản bế mạc ngày 18-5-1857 của Uỷ ban nước Nam:

– Về vấn đề tôn giáo, chính trị và thương mại: Từ hơn 50 năm nay, 600.000 giáo dân và giáo sĩ đã bị tàn sát và xử tử ở nước Nam (Depuis plus cinquante ans, nos missionnaires et les chrétiens dont le nombres est de 600.000, sont persécutés et mis à mort), không lẽ ta làm ngơ ở nước Nam? Trong khi chúng ta cùng nước Anh đã dùng khí giới giải quyết xong vần đề tôn giáo và văn minh ở Trung Hoa rồi. Lợi ích chính trị đã khiến các nước Tây phương tiến về Viễn Đông. Anh, Hoà Lan, Y Pha Nho, cả Nga cũng đã có những căn cứ ở đây, chẳng lẽ Pháp không có gì. Lợi ích thương mại thì hiển nhiên: Nước Nam có vải, lụa, đường, gạo, gỗ, dồi dào, cà phê trồng làm hàng rào quanh vườn. [Hầu hết các giáo sĩ đều trình bày Việt Nam như một nước cực kỳ giầu có về mọi mặt: nông sản, lâm sản, hầm mỏ…]

– Vấn đề với nước Anh: Anh không có quyền gì ở nước Nam, còn chúng ta có cả một truyền thống. Anh thoả hiệp với Trung quốc. Lợi ích về tôn giáo ở nước Nam độc quyền dành riêng cho nước Pháp. Chỉ có chúng ta đã biểu dương vũ lực tại đó… [Ý nói trận Đà Nẵng 1847] Để thành công dễ dàng, cuộc chinh phạt phải giữ bí mật, nhất là phải thực hiện càng sớm càng tốt. Dựa trên những khiển trách mới đây và sự cần thiết chấm dứt việc tàn sát đạo.

Nguyện ước của Uỷ ban: Cầu xin Đức Ông Bá tước Walewski khuyên Hoàng thượng chấp nhận dự án mà Ủy ban đã quyết nghị. Việc này sẽ là: Chỉ một hành động mà đền bồi lại tất cả những tổn thất gây ra từ khi ta bị mất thuộc địa trong những thời kỳ yếu đuối và bất hạnh

– Kết luận: «… Không ai có thể chối cãi quyền chúng ta can thiệp vào một nước, không có liên hệ với nước nào, mà, có thể nói, các giáo sĩ của chúng ta đã chinh phục được cho nước Pháp, qua sự truyền giáo với quyền uy nhân danh chúng ta, bằng giá của máu, của sự cần mẫn và nỗi thống khổ của họ…»

Brenier, chủ tịch[30]

Biên bản buổi họp bế mạc trên đây phản ảnh toàn bộ sự tham lam, ngụy biện và gian dối tìm mọi lý do chiếm đất và tài nguyên của một nước độc lập, tự chủ, bằng thứ lập luận ô nhục, dùng những chứng cớ không thể chấp nhận được do Đô đốc Cécille bịa đặt ra trong thư viết cho vua Thiệu Trị từ năm 1845: «600.000 giáo dân và giáo sĩ đã bị tàn sát và xử tử» mà không có một bằng chứng nào, và lấy trận Đà Nẵng 1847 (đánh lén rồi bỏ đi) làm quyền có mặt tại Việt Nam. Không ngần ngại sử dụng lập luận bầy đàn: các nước châu Âu: Anh, Hòa Lan, Y Pha Nho, Nga, đều đã đến chiếm đất ở Viễn Đông rồi, tất nhiên ta [Pháp] phải có phần trong đám cỗ lớn này, ta phải đến để kiếm ăn, để bù lại những thuộc địa mà ta đã đánh mất, hoặc chưa chiếm được. Nhất là xứ này lại cô lập, không có liên hệ với một nước nào.

 

Phản ứng của Hội đồng Bộ trưởng

Ngoài sự cần thiết có một căn cứ chiến lược để chinh phục thuộc địa ở Á châu, Napoléon III còn có hai lý do khác để quyết định cuộc viễn chinh: ông muốn làm vừa lòng cử tri công giáo, trong cuộc bầu cử năm trước, tháng 6-1857, đã dồn phiếu cho các ứng cử viên bảo hoàng; và chiều lòng Hoàng hậu Eugénie, mộ đạo, rất buồn bực khi nghe tin các «giáo sĩ bị tàn sát». Khi còn con gái, bà là bạn của Giám mục Diaz [31] (người sau này bị xử tử ở Nam Định).

Triều Napoléon III là một chế độ quân chủ chuyên chế: vua độc quyền quyết định, không thông qua hội đồng bộ trưởng. Walewski chỉ thông báo quyết định viễn chinh của Hoàng đế với Hội đồng Bộ trưởng, trong buổi họp ngày 14, 15 và 16 tháng 7 năm 1857. Các bộ trưởng chống lại, bị Walewski cảnh cáo: Hoàng thượng đã duyệt rồi, chỉ thông báo cho các ông biết mà thôi.

Trong thư viết cho Napoléon III ngày 16-7-1857, Bá tước Walewski thuật lại không khí hội đồng bộ trưởng như sau:

«Fould bảo ông ta chả biết nước Nam ở đâu, là cái quái gì, mà Hoàng thượng lại bảo phải gửi hồ sơ cho bộ Tài chính lo, nhưng Bộ trưởng Tài Chính[32] không thể ủng hộ một sự tiêu phí tới 6 triệu [quan], còn việc cần thêm ít nhất 2600 người cho cuộc đổ bộ, thì ông ta thây kệ.

Billaut vắn tắt: những điều bọn thủy binh và bọn giáo sĩ, ở tại chỗ, nói trái ngược nhau, không thể tin được.

Rouher hoài nghi: công nhận có lợi ích thương mại và chính trị, còn những cái khác thì chả biết thế nào…

Abbatucci coi vụ này như một dự tính phát xuất từ đầu óc bọn thừa sai để che đậy những âm mưu tăm tối của chủ nghĩa Dòng Tên (trame ténébreuse du jésuitisme)[33]

Tóm lại, không khí chia rẽ, không ai đồng ý với ai trong quyết định viễn chinh này.

Tuy vậy, bốn tháng sau, Pháp hoàng quyết định đánh Đà Nẵng.

Rigault de Genouilly, Thiếu tá hải quân, một trong những thực dân tiên phong, đã dự trận Đà Nẵng mười một năm trước (1847) được triệu hồi trở lại.

Ngày 9-8-1858, Rigault de Genouilly được thăng Đô đốc, cầm đầu Liên quân Pháp-Y Pha Nho với hạm đội 14 tàu chiến, chính thức mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam.

Vua Tự Đức đã cầm cự với quân Pháp trong 25 năm, khi thua, khi được, khi chiến, khi hoà.

 

(còn tiếp)

Thụy Khuê
Paris tháng 2-2026


[1] Vua Thiệu Trị mất ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi (4-11-1847), bẩy tháng sau trận Đà Nẵng 1847.

[2] Vua Tự Đức sinh năm 1829, lên ngôi năm 1847, 18 tuổi tây, 19 tuổi ta. Đại Nam thực lục ghi tuổi ta: 19 tuổi.

[3] Đại Nam thực lục, tập bẩy, Nxb Giáo dục, trang 27, 28, 31, 34.

[4] Đại Nam thực lục, tập bẩy, trang 67.

[5] Đại Nam thực lục, tập bẩy, trang 83.

[6] Đại Nam thực lục, tập bẩy, trang 217.

[7] Đại Nam thực lục, tập bẩy, trang 193.

[8] Taboulet, La Geste francaise en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương), Adrien-Maisonneuve, Paris, 1955, quyển I, trang 382, 385; Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử, Sống Mới, 1961, trang 108; Charles Fourniau, Vietnam domination coloniale et résistance nationale (1858-1914) (Việt Nam, đô hộ thực dân và kháng chiến quốc gia (1858-1914), Les Indes Savantes, Paris, 2002, trang 41.

[9] Taboulet, La Geste francaise en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương) quyển I, trang 385.

[10] Taboulet, La Geste francaise en Indochine, quyển I, trang 338.

[11] Đại Nam thực lục, tập bẩy, trang 303.

[12] Cao Huy Thuần, Les missionnaires et la politique coloniale francaise au Việt Nam (1857-1914) (Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), do Nguyễn Thuận dịch, trích đoạn: Tình hình Gia Tô giáo tại Việt Nam và bang giao Pháp-Việt trước 1857, tài liệu Internet.

[13] Tháng 12-1848, Tự Đức tăng tiền và gạo trợ cấp cho anh, Thực lục ghi: «Ban thêm tiền gạo cho An Phong công là Hồng Bảo (trừ số lượng ăn hàng năm không kể, thưởng thêm cho mỗi năm 500 quan, gạo 500 phương». Đại Nam thực lục, tập bẩy, trang 106.

[14] Đại Nam thực lục, tập bẩy, trang 334- 335.

[15] Georges Taboulet, La Geste francaise en Indochine, 1955, tập 1, Texte 136, trang 401-403.

[16] Taboulet in lại thông điệp này trong La Geste francaise en Indochine, những đoạn ông cho là không cần thiết được thay bằng nhiều chấm. Chúng tôi dịch văn bản in trong La Geste francaise en Indochine, tập 1, trang 404-405.

[17] Khi biết đến Á đông, người Âu dùng chữ Cochinchine để chỉ nước ta. Họ ghép chữ Cochin là tên một hải cảng ở Ấn Độ Chine Trung quốc. Cochinchine chỉ vùng đất giữa Ấn Độ và Trung quốc, tức là Đại Việt. Nhưng tùy theo bối cảnh và thời điểm, chữ Cochinchine có thêm những nghĩa khác. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, khi các giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên đến Đà Nẵng, năm 1615, Cochinchine có nghĩa là Đại Việt, nhưng đối với họ Đại Việt chỉ có nghĩa là Đàng Trong vì họ chưa biết đến Đàng Ngoài. Mười một năm sau, 1626, khi giáo sĩ Baldinotti «khám phá» ra Đông Kinh (tức Thăng Long), phiên âm thành Tunkin (Pháp gọi là Tonkin), thì Tunkin chỉ cả thủ đô Thăng Long lẫn đất Bắc, tức là Đàng NgoàiCochinchine để chỉ Đàng Trong. Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, đặt tên nước là Việt Nam, Pháp không gọi nước ta là Việt Nam, mà gọi là Annam (tên nhà Đường đặt cho nước ta thời kỳ đô hộ) hoặc Cochinchine. Vậy chữ Cochinchine, dưới thời Tự Đức, nên dịch là nước Nam. Sau khi Pháp chiếm xong lục tỉnh và đặt nền đô hộ, chia nước ta làm ba miền, lúc đó họ mới phân biệt: Bắc Kỳ, Trung KỳNam Kỳ (những danh từ này đã có trong Đại Nam thực lục từ trước); từ đấy, Cochinchine mới chỉ Nam Kỳ. Chữ Indochine ghép hai chữ Indo (Ấn Độ) và Chine, ban đầu để chỉ vùng đất giữa Inde (Ấn độ) và Chine (Trung Hoa), sau chỉ toàn thể thuộc địa Pháp ở Viễn Đông và được dịch là Đông Dương hay Đông Dương Pháp.

[18] Huc muốn nói đến việc Kergariou, thuyền trưởng tàu Cybelle, đến Đà Nẵng (1817) dưới thời Louis XVIII, định đòi vua Gia Long phải «trả đất đã hứa trong hoà ước 1787» [hòa ước mà Louis XVI không thi hành].

[19] Arch. Aff. Etrang.Mémoires et documents, Asie, t.27, fol.288-289, in lại trong La Geste francaise en Indochine của Taboulet, quyển 1, trang 404-405.

[20] Taboulet, La Geste francaise en Indochine (Huân trạng của người Pháp ở Đông Dương), quyển I , trang 338.

[21] Linh mục Libois là người đã cung cấp cho cha Huc những «tài liệu» về Việt Nam.

[22] Bourboulon là đặc phái viên ngoại giao của Pháp ở Trung quốc.

[23] Taboulet, La Geste francaise en Indochine, quyển 1, trang 403-404.

[24] Taboulet, La Geste francaise en Indochine, quyển 1, Texte 136, trang 403-404.

[25] Taboulet, La Geste francaise en Indochine , quyển I, Texte 136, trang 405-406.

[26] Theo Cao Huy Thuần, Les missionnaires et la politique coloniale francaise au Việt Nam (1857-1914) (Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), Nguyễn Thuận dịch, 1999, chương I Cuộc viễn chinh ở Nam Kỳ: một vấn đề tôn giáo, Luận cương của Linh muc Legrand de la Liraye, bản điện tử.

[27] Xem Vua Gia Long và người Pháp của Thụy Khuê, nxb Hồng Đức và Saigon Books, 2017.

[28] Theo Taboulet, có lẽ do chính Walewski soạn.

[29] Taboulet, La Geste francaise en Indochine, quyển I, bài La commision de la Cochinchine (Avril et Mai 1857) (Uỷ ban nước Nam) (tháng 4 và 5/1857), Texte 137, trang 407-408.

[30] Archi. Aff. Etrang. Mémoires et Documents, Chine. t.27 bis, fol.1 à 35, Taboulet, sđd, trang 408-409.

[31] Georges Taboulet, La Geste francaise en Indochine, quyển I, trang 410-411.

[32] Fould lúc đó giữ quyền Bộ trưởng Tài chính thay Magne. Taboulet, trang 415.

[33] Taboulet, La Geste francaise en Indochine, quyển I, trang 413-414.

bài đã đăng của Thụy Khuê

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)