Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định, Phê Bình, Tư Liệu, Tự Lực Văn Đoàn- Phong Hóa- Ngày Nay Email bài này

Tự Lực Văn Đoàn Văn học và Cách mạng (39)

0 bình luận ♦ 10.09.2021

 

Nhà văn cộng tác với Phong Hóa Ngày Nay

Phần II

Nguyên Hồng – Trần Tiêu – Bùi Hiển

Từ năm 1934 trở đi, xuất hiện nhà xuất bản Tân Dân do Vũ Đình Long chủ trương, phát hành Tiểu thuyết thứ bảy, số đầu tiên ra ngày 2-6-1934, tại Hà Nội. Hai năm sau ông ra tiếp Ích Hữu (25-2-1936) và Phổ thông bán nguyệt san (1-12-1936), tạo thành một nhóm văn học quy tụ những tác giả: Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân, Thanh Châu, Ngọc Giao, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Nam Cao…

Nguyễn Công Hoan và Lê Văn Trương là hai cây bút chính, tương tự như Khái Hưng, Nhất Linh bên Phong Hóa Ngày Nay. Theo Thanh Châu, Nguyễn Tuân vào Tiểu thuyết thứ bảy, từ 1935, với truyện ngắn Vườn xuân lan tạ chủ, Vũ Trọng Phụng muộn hơn, với truyện Trúng số độc đắc. Truyện ngắn Nghèo, ký tên Thúy Rư, trên Tiểu thuyết thứ bảy số 158 (5-6-37), có thể là truyện ngắn đầu tiên của Nam Cao.

Nhóm Tân Dân được coi như “đối lập” với Tự Lực Văn Đoàn từ khi có vụ bút chiến “Đoạn Tuyệt-Cô giáo Minh (Phong Hóa số 177, 6-3-36 và số 180, 27-3-36). Trong thời kỳ này, Vũ Trọng Phụng viết Số đỏ, gián tiếp chế nhạo những cải cách của Tự Lực Văn Đoàn.

Tuy nhiên, trên Ngày Nay số 100 (6-3-38), Khái Hưng viết bài phê bình Một mình trong đêm tối, tiểu thuyết của Vũ Bằng, phân tích những chỗ dở, giả tạo và khuyên Vũ Bằng nên thay đổi để tiến. Trên Ngày Nay số 212 (15-6-40), Thạch Lam viết bài Phê bình Vang Bóng một thời hết sức khen ngợi tài năng của Nguyễn Tuân.

*

Bùi Hiển (1919-2009)

clip_image002

“Nằm vạ,” NN số 224

Nằm vạ của Bùi Hiển là khám phá truyện ngắn sau cùng của Ngày Nay trước khi nhắm mắt, được Thạch Lam giới thiệu như sau:

Nằm vạ là một hành động rất annam, đặc biệt cho các bà ở nhà quê. Ông Bùi Hiển, tác giả truyện ngắn đăng dưới đây, đã phác họa rất đúng một vài nhân vật ở thôn quê: lối viết của ông giản dị và mạnh mẽ, thoáng qua một chút duyên kín đáo, và có nhiều nhận xét tinh vi. Đó là một bức tranh có giá trị về cảnh sinh hoạt trong làng xóm.

Đó cũng là lời giới thiệu tác phẩm cuối cùng của Thạch Lam trên báo Ngày Nay số 224, ra ngày 7-9-1940, số chót.

Nhưng với Bùi Hiển, là một sự khởi đầu. Khởi đầu một văn nghiệp.

Nếu Nằm vạ không gửi đến Ngày Nay kịp thời, và không được Thạch Lam đọc và đăng, có thể ta đã không có nhà văn Bùi Hiển.

Việc này cũng tựa như việc Dương Nghiễm Mậu gửi truyện ngắn Rượu chưa đủ đến Bách Khoa, bị vứt vào sọt rác, Mai Thảo lại chơi, nhặt ra, đem về đăng trên Sáng Tạo, nên chúng ta có nhà văn Dương Nghiễm Mậu.

Bùi Hiển vào truyện như thế này:

Chị Đỏ chợt rùng mình nhẹ, vì thấy buồn buồn ở bụng chân. Và, trong cử động nửa ý thức của giấc ngủ bị quấy phá, chị rụt chân lại. Cái buồn buồn, chị cảm thấy rõ rệt nó chạy trên ống chân rồi tới gót thì biến đi.

Một cách vào truyện lạ lùng, nên người sành văn như Thạch Lam lướt qua là biết ngay.

Cho tới bấy giờ, người viết thường kể hoặc tả những gì thấy bề ngoài trước đã: thí dụ chị Đỏ mặc quần áo như thế nào, mặt mũi làm sao, chị Đỏ làm cái này, nghe thấy cái kia… Chẳng ai đi thám thính sự gì xẩy ra trong thân thể chị Đỏ, như Bùi Hiển. Một lối viết lạ và rất chì: Tên nhà văn đàn ông này tự nhiên khám phá ra một con mụ có cái gì “buồn buồn” ở “bụng chân” là rất kỳ, không thể được, hắn bịa. Mà không! Hắn không bịa! Hắn chỉ chui vào thân thể chị Đỏ để làm công việc nhà văn! Tức là hắn làm cái mà người ta gọi là gián điệp nội trùng (agent infiltré) lọt vào lòng địch để rình sự vận hành của địch. Việc làm của Bùi Hiển hệt như thế: ông lẻn vào trong da thịt chị Đỏ để thám thính cái thân thể ấy ra sao, làm gì.

Chị cựa mình, thân thể đau dần dần khắp cả. Cùi tay mỏi mệt rơi đánh thịch và tuy vẫn nhắm mắt, chị thu cảm giác về. Chị Đỏ biết mình vẫn nằm trên nền đất, trong gian buồng hẹp mà mùi ẩm mốc tanh nhạt đọng thành lớp đặc xông lên mũi.

Và như thế, bắt đầu một phong cách văn chương độc đáo. Sau Đỗ Đức Thu, Nguyên Hồng, đây là Bùi Hiển!

Số là, chị Đỏ sau khi bị chồng “xông vào túm lấy vợ trong hai bàn tay sắt, lôi xềnh xệch vô buồng, đoạn anh ném vợ xuống đất như ném một đống giẻ. Chị Đỏ bổ nhoài ra, nằm thẳng cẳng như người chết rồi. Anh đạp vào mông vợ mấy cái đoạn bỏ ra“, chị Đỏ bèn nằm vạ.

Sau cú đạp của chồng, chị Đỏ nằm vạ. Một hành động phản kháng, chống lại “bạo quyền” của chồng. Hiện tượng nằm vạ chỉ có ở vùng Nghệ Tĩnh, quê Bùi Hiển, không có ở “xứ” khác.

Chị Đỏ nằm vạ đến bẩy ngày. Cơ sự trở thành nghiêm trọng. Bà mẹ chồng phải nhờ ông Lý đến phân giải.

Giá trị truyện ngắn này không chỉ ở chỗ mô tả tài tình cách phản kháng của người đàn bà Nghệ Tĩnh, mà Bùi Hiển còn sáng tạo ra thứ hiện thực xã hội nội trùng, như tôi vừa nói ở trên, tức là ông không giữ vị trí đứng ngoài mà tả, ông chui luôn vào da thịt chị Đỏ, để biết “tình hình” bên trong của chị ta: ông thấy được cái buồn buồn ở bụng chân chị Đỏ và còn biết cái buồn buồn ấy nó chạy trên ống chân rồi tới gót thì biến.

Trong bẩy ngày chị nằm vạ, tác giả theo dõi “từ trong ra ngoài” không sót một ly và biết chị đã trải qua những trạng thái như thế nào: nằm vạ nhịn đói hai hôm, thì thân thể “rã rời, xương mền thịt nhão ngón tay co quắp,” mà thằng chồng vẫn tỉnh bơ không thương xót, còn dọa dẫm nữa. Bên ngoài, bọn chúng (chồng và mẹ chồng) vẫn xào xáo thơm phức, cơm cơm nước nước, mà mình bụng rỗng. Đợi lúc chị chết, quan về khám xét án mạng, chúng sẽ biết tay.

“Chị cựa mình, quay nghiêng, vì trong dáng diệu nằm ngửa, da bụng bị căng ép lên dạ dày trống rỗng, như một hòn đá nặng. Chị nằm co như con chuột chết, bụng thóp lại. Mắt mở trân trân dán vào một vuông sáng.” Chính nhờ cái vuông sáng này chị nhìn thấy một chú chuột nhắt, chị bèn theo dõi lối đi về của y, chặn đường, cướp giật được miếng khoai khô trong miệng y, đút vào mồm. Ngon tuyệt. Chị quờ thấy cái choé nằm trong bóng tối, kho lương của y, thế là bắt chước y, chị cũng ăn vụng. Có phương tiện “sống còn,” chị càng ra gan, tiếp tục cuộc đấu tranh, mụ già lo sốt vó đến lạy lục ông Lý từ mấy hôm nay. Mấy ngày sau, lão Lý mới hạ cố đến nhà, hỏi:

– Rứa mụ muốn hai bên li dị hả?
– Bẩm không! Bẩm không! Là tui trình rứa để làng biết cho rứa thôi.

(Đời nào mụ thả đứa con dâu làm hùng hục như trâu bò suốt ngày).

Anh Đỏ bước ra rót nước. Thấy anh mặc chiếc áo dài ngày cưới, mắc cười quá, chị nhịn không nổi, anh cũng ngượng nghịu cười theo. Ông Lý phán:

– Ừ, anh ả cười ví nhau rồi đó tề! Cần gì ai phân xử nữa!

Đằng sau truyện ngắn dí dỏm thâm thuý này là cả một lối sống, một “bản sắc dân tộc” của người miền Trung, qua nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và miêu tả kiểu gián điệp nội trùng của Bùi Hiển.

Hiện thực Bùi Hiển hóm hỉnh mà sâu sắc, đặc biệt lối Nghệ Tĩnh, khác với lối lý luận có duyên thầm của Phan Khôi, khác lối trào phúng bộc trực Bắc hà của Hoàng Đạo, thâm thúy hơn Nguyễn Công Hoan, nhưng sau này Bùi Hiển nói học thầy Nguyễn Công Hoan, một sự lạ kỳ vì học trò đã vượt thầy một bực, từ khi bắt đầu viết văn.

Bùi Hiển sẽ cùng với Đỗ Đức Thu, Nguyên Hồng trở thành những kiện tướng trong nền văn xuôi Việt Nam.

*

Trần Tiêu (1899-1954)

Trần Tiêu là em ruột Khái Hưng, bắt đầu viết trên Phong Hóa từ số 18 (20-10-32) truyện ngắn Cái bánh ngọt. Rồi ngừng. Bốn năm sau, mới xuất hiện lại trên Ngày Nay số 25 (3-9-36) với truyện ngắn Ai ơi chớ phạt trẻ thơ. Cả hai truyện này đều tầm thường. Hai tháng sau có truyện vừa Dưới ánh trăng sáng tác chung với Khái Hưng[1], vượt trội hẳn, cấu trúc chặt chẽ, văn phong điêu luyện, đúng là Khái Hưng viết, truyện một cô gái quê, bị người anh họ, ở Hà Nội về chơi, quyến rũ, có mang, rồi bỏ.

Sau khi chiếm hữu người con gái, Văn tỉnh mộng ngay.

Văn rón rén đến bên giường, vén màn đứng ngắm Tẹo: Cái đẹp mơ màng, ngây thơ đã biến mất. Chàng chỉ thấy Tẹo giống hệt các cô gái quê khác, thô lỗ, đần độn, ngu ngốc. Cặp mắt mở trắng dã như nhìn thẳng vào mặt chàng, cái miệng há hốc thở phì phò, một giòng nước bọt chảy từ một bên mép xuống khăn giải giường. Chàng cáu tiết, gọi:
– Tẹo
!

Phải có kinh nghiệm của Khái Hưng mới mô tả được sự tàn nhẫn của kẻ sở khanh như thế: cái xấu ở đây không phải là diện mạo xấu xa của cô gái quê, ngủ mê mệt sau khi làm tình, mà ở trong con mắt sở khanh của Văn, trai thanh Hà Nội, sau khi thoả mãn nhục dục, trở mặt, nhìn người em họ mà trước đó, y cho là đẹp ngây thơ tuyệt diệu; nhưng chiếm đoạt rồi, trở thành quê kệch ghê tởm. Lợm hơn nữa, y dúi vào tay cô em năm đồng bạc, còn nói: “Năm đồng chứ không phải một đâu!” Sau khi Tẹo về, “Văn bĩu môi ghê tởm nghĩ thầm:”Nó chỉ thích tiền!” Những khốn nạn của Văn, cộng hưởng với sự tàn bạo của cha mẹ và làng xóm, đã đẩy Tẹo đến chỗ huỷ hoại thân mình.

Sau đó, truyện ngắn Bức thư tuyệt mệnh của Trần Tiêu đăng trên Ngày Nay số 47 (21-2-37), là bức thư của một người đàn bà sau khi lừa chồng, bỏ con, đi theo tình nhân, bị bội bạc, rơi vào cảnh trụy lạc, chết ở nhà thương thí. Truyện này vào loại trung bình.

Truyện vừa Sau lũy tre đăng trên Ngày Nay từ số 76 (12-9-37) đến số 77, 78 và 79, mới thực mở đầu sự nghiệp của Trần Tiêu như một nhà văn chuyên viết về thôn quê, và cũng là nhà văn duy nhất của Phong Hóa Ngày Nay, viết về chủ đề này. Khái Hưng đã viết chung với Trần Tiêu, như ông đã từng viết chung với Nhất Linh buổi đầu, để dẫn cách vào văn chương. Rồi ông lại khuyến khích Trần Tiêu chọn địa hạt thôn quê, chưa ai viết. Lời giới thiệu ký Ngày Nay, có lẽ của Khái Hưng, như sau:

Sau lũy tre” là một cảnh đời của dân quê, người ta nói đến luôn mà không biết rõ. Các nhà văn ta chỉ ưa ca tụng cái tính mộc mạc hay ngây thơ của các cô thôn nữ, hay ngợi khen những vẻ đẹp của cánh đồng ruộng lúa. Chưa có ai suy xét tâm lý, tách bạch những ý nghĩ, tư tưởng và mong ước của các tâm hồn ấy.
Bằng một lối văn giản dị, với những điều quan sát đúng, tác giả “Sau lũy tre” rất khéo tả những giáng [dáng] điệu, tính tình của các hạng người đặc biệt nơi thôn ổ, làm cho họ hoạt động dưới mắt người đọc.” (NN số 76).

Anh Chính là con bác cả Bật. Cạnh nhà bác Bật là nhà bác khán Bún có cô con gái tên Diếc. Chính lấy Diếc làm vợ. Vợ chồng Chính làm ruộng, căn cơ, có của ăn của để. Nhưng từ khi dồn tiền mua chức xã, rồi chức lý, để cho có vai vế trong làng, khỏi bị ức hiếp, thì bao nhiều vốn liếng, ruộng đất, trôi dần vào cỗ, lễ, xôi thịt, gia đình khánh kiệt, nghèo đói.

Lũy tre xanh là dàn bài, sẽ được mở rộng thành truyện dài Con trâu, bắt đầu in trên Ngày Nay, một năm sau.

clip_image004

Con trâu, NN số 141

Con trâu

Xuất hiện sau Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Con trâu của Trần Tiêu in trên NN từ số 140 (10-12-38) đến NN số 168 (1-7-39), là cuốn tiểu thuyết hiện thực xã hội đầu tiên về đời sống dân quê, trên Ngày Nay.

Tác phẩm viết về sinh hoạt hàng ngày của gia đình bác Chính, ở làng Cầm. Trong lời giới thiệu Con trâu, ký N.N. có lẽ vẫn do Khái Hưng viết, có câu:

Làng Cầm trong truyện Con trâu của ông Trần Tiêu là một làng ở vùng bể, có lẽ chính làng tác giả, một làng đã sản xuất ra nhiều danh sĩ về thời Trần, thời Lê, thời Mạc.
Xem truyện Con trâu độc giả sẽ thấy cái làng văn vật ấy vẫn như còn chôn sâu trong thời xưa với những phong tục và nhân vật bất di bất dịch (NN số 140)

Vậy chữ Cầm chính là hai chữ Cổ Am viết gọn lại. Và cái xã hội thôn quê được mô tả trong truyện, chính là xã hội Cổ Am của hai anh em Khái Hưng, Trần Tiêu.

Biết thế, ta mới hiểu tại sao Trần Tiêu không phê phán mà chỉ trình bày cho chúng ta thấy, và chính ở sự không phê phán, không đấu tranh, mà Con trâu có một giá trị khác với những tác phẩm tranh đấu, thường được gọi là hiện thực phê phán, cùng thời.

Điểm thứ hai, là con quan, nhưng Trần Tiêu phải sống sát, sống sâu, với quần chúng bình dân trong làng lắm mới có thể miêu tả họ sâu sắc như vậy.

Con trâu không có truyện gì cả, chỉ là cuộc sống hàng ngày của một gia đình, trong ngôi làng miền Bắc mà ta biết là Cổ Am: Bác Chính nghèo lắm, công nợ ngập đầu, phải đi cấy thuê nuôi gia đình. Nhưng trong thâm tâm bác lúc nào cũng chỉ mơ tưởng có tiền mua một con trâu cho riêng mình để làm ruộng, không phải thuê trâu người khác. Vậy mà khi có tiền, bác lại không mua trâu, mà mua. Và đó là nguồn gốc băng hoại của gia đình bác Chính, cũng là của dân quê miền Bắc, dân quê Việt Nam.

Lý do như sau:

Sao bác giai chịu bỏ ra băm nhăm đồng bầu xã mà lại không để tiền tậu ngay con trâu cái, con trâu cái mà bác hằng mơ tưởng bấy lâu? Đó cũng là sự vạn bất đắc dĩ. Bác năm nay đã hơn bốn mươi tuổi đầu mà động có rước là bác phải ra cầm tán hay khiêng kiệu với bọn mục đồng; động có quan về là bác phải thân ra dọn đường, dẫy cỏ dưới con mắt hỗn xược của một anh quản xã chỉ nhớn bằng chạc [trạc] con bác. Động có viêc gì nặng nhọc là đến tay bác. Trăm nghìn sự thiệt thòi đổ dồn cả xuống đầu bác và đầu những kẻ bạch đinh như bác.

Lại còn một nhẽ nữa: bác đi đến đâu cũng bị người ta chế riễu, khinh bỉ. Họ cho bác là keo kiệt, coi đồng tiền hơn phẩm giá. Bác động mở mồm là họ đã chặn họng: “Còn danh giá gì cái thằng bạch đinh mà cũng ăn với nói! (NN số 143).

Trần Tiêu không phê phán sự mua xã của bác Chính mà ông giải thích tại sao bác không mua trâu mà lại mua xã. Cách viết của ông thật thà, có thể thiếu nghệ thuật, nhưng rất khác các nhà viết tiểu thuyết hiện thực đương thời: họ thường mô tả cảnh nghèo khổ cùng cực một gia đình bên cạnh sự bóc lột của cường hào ác bá, để chỉ tội bọn này (nhiều khi quá đáng) như Ngô Tất Tố trong Tắt đèn. Trần Tiêu không “đánh” ai, cũng không đả phá cái gì, ông đào sâu vào cuộc sống của dân quê làng ông, từ bọn mục đồng, bọn lý, xã, đến các cụ tiên chỉ, để hiểu sự vận hành trong hệ thống xã hội làng xã ở ta. Ví dụ: về việc mua xã, của Chính, Trần Tiêu không chỉ trích mà còn coi hành động này là thiết thực, phải làm, không thể tránh được, khác cả những bài viết của Tự Lực Văn Đoàn lên án việc mua nhiêu, mua xã như một hành động ngu si, hám danh hám lợi.

Quan điểm của Trần Tiêu về dân quê khá rõ: ông chỉ ra những thói tục hủ lậu của người dân, nhưng đứng vào địa vị của họ để hiểu hành động của họ. Khiến cho, khi ta đã thấy rồi, lại càng thương họ hơn và càng muốn thay đổi. Cách tranh đấu của Trần Tiêu là thầm lặng, lặn xuống chiều sâu cuộc sống dân quê để hiểu. Ông đưa ta vào đời sống hàng ngày của người dân làng ông qua những buổi hát đúm, gặt lúa, gieo mạ, các dịp lễ tết, cỗ mừng thôn, hội quan lão… không bỏ sót chi tiết nào. Một nhà xã hội học, muốn khảo sát đời sống dân quê Việt Nam giữa thế kỷ XX, khó có thể bỏ qua tác phẩm của Trần Tiêu.

Anh Chính, sau trở thành xã Chính, rồi lý Chính, mà thực chất đời sống vẫn không khá hơn thằng Chính bạch đinh, chỉ thêm việc đình đám, việc họ, việc làng… càng phải tham dự tích cực hơn vì đã có danh có chức: xã Chính, lý Chính, chức càng cao, càng lún sâu vào nợ nần đói khổ, thêm các thiên tai hạn hán; càng phải gánh vác việc làng, cỗ bàn, hầu hạ các cụ tiên chỉ, càng phải cày bừa thêm… cho đến lúc kiệt sức, chết đi, trong lòng vẫn còn mơ đến con trâu cái chưa bao giờ có được.

Chồng con viết sau khi Ngày Nay đóng cửa, ngòi bút sống động hơn, dấn thân hơn, Trần Tiêu mô tả gia đình xã Bổng, người chồng không được tích sự gì ngoài việc cờ bạc, tính tình có những nét tiêu cực, tức cười, của người đàn ông miền Bắc:

Xã Bổng, từ hôm vợ đẻ, không dám bén mảng vào trong buồng. Hắn sợ bẩn, sợ hôi hám chăng? Không, hắn sợ đứa bé. Ở đời, hắn sợ nhất chuột con đỏ hỏn rồi đến những đứa bé mới đẻ[2]

Chị xã Bổng, người phụ nữ nông thôn miền Bắc suốt đời cần kiệm, làm ruộng, dệt cửi nuôi mẹ chồng, chồng và ba con. Ở đây không có chuyện mẹ chồng nàng dâu, mà là tình yêu hòa hợp: mẹ chồng thương nàng dâu vất vả, giận con trai hư hỏng, không được tích sự gì.

Chị Bổng chỉ có cái khung cửi, nhưng làm việc đến tàn canh:

Mẹ chồng nàng tỉnh giấc vẫn thấy nàng dệt, liền hỏi:
– Chưa đi ngủ cơ à con?
– Con dệt nốt dăm chỉ này nữa thôi ạ.
Nàng vừa rời khung cửi thì gà gáy. Nàng vươn vai ngáp: “Quanh quẩn đã gần sáng rồi, chóng thật!”[3]

Chỉ có cái khung cửu mà chị đã mua cho chồng: từ xã, đến lý, mua cả quan tài gỗ vàng tâm cho mẹ chồng, đóng tiền cho mẹ chồng vào hội Phật giáo trước khi quy tiên.

Hai người con gái, tiếp tục phận bạc của mẹ: Cái Hĩm, bị người cha cờ bạc, tham 50 đồng tiền đút lót của nghị Ích, ép phải làm lẽ ông ta. Ngày cưới, Hĩm gào khóc van xin: “Cháu cắn cỏ cháu lạy thím, cháu không bằng lòng lấy người ta đâu. Thày bu ơi! Thày bu không thương con với, thầy bu!”[4]

Cưới đã hơn một năm mà bà lý Bổng không biết tin con, bà lặn lội đến thăm, vợ chồng nghị Ích đóng cửa không tiếp. Hĩm bị vợ cả và hai cô con chồng hành hạ tàn nhẫn, trốn về nhà, rồi đi biệt Cẩm Phả với anh người làm nhà nghị Ích. Bà lý vừa giận con làm nhục nhã nhơ nhuốc cho thanh danh nhà bà, vừa phải bồi thường một trăm hai mươi đồng lễ cưới. Đem tiền đến trả tận nhà, bà mới thấy mặt nghị Ích lần đầu: “Bà đã giáp mặt ông nghị, bà đã thấy ông nghị của con bà già chẳng kém gì chồng bà, bà đã thấy mặt bà nghị quăm quắm như mặt diều hâu, bà đã thấy hai cô con gái ông nghị dữ tợn và to béo như lợn ỷ. Hĩm lọt vào nhà ấy như con chuột sa vào cũi mèo. Thế thì Hĩm chịu sao nổi mà chả phải trốn đi.”[5]

Đớn đau vì Hĩm, bà lý gả Sồi, đứa em, cho một người nghèo. Nhưng Sồi cũng không thoát khỏi định mệnh. Theo chồng đi làm ăn ở tỉnh, ngày sinh con đầu lòng, Sồi sợ, không dám vào nhà thương, vì nghe đồn vào nhà thương sẽ bị mổ bụng; Sồi đòi về quê chồng sinh con. Về đến nhà, người anh chồng kiêng, không cho đẻ ở nhà sợ xúi quẩy, đuổi hai vợ chồng ra cửa. Sồi chết ở quán bên đường vì băng huyết.

Con trâuChồng con của Trần Tiêu là hai tiểu thuyết hiện thực sâu sắc về cuộc sống dân quê làng Cổ Am, với những u mê, tập tục nhiều đời dồn lại, biểu hiệu đời sống làng quê đất Bắc, giữa thế kỷ XX, cũng giống như Nhốt gióRừng mắm của Bình Nguyên Lộc sau này, miêu tả đến cốt lỗi những khó khăn, gan dạ của những người di dân, lấp sông, bồi đất, lập nên vùng đất mới Nam bộ.

*

Nguyên Hồng (1918-1982)

Nguyên Hồng là nhà văn bẩm sinh. Đi tù từ 14 tuổi; gần ba năm sau ra tù, viết văn từ 16, 17 tuổi, tiểu thuyết đầu tiên là Bỉ vỏ.

Bỉ vỏ[6] đoạt giải tiểu thuyết phóng sự của Tự Lực Văn Đoàn năm 1937. Hai tháng sau khi phát giải, Ngày Nay bắt đầu đăng các tác phẩm của Nguyên Hồng, từ đầu năm 1938 đến đầu năm 1939, có những bài sau đây:

Tết trong trại “trẻ con” (ký), Cơm tây… một xu (phóng sự), Tại sao tôi viết Bỉ vỏ (tự thuật), Hai nhà nghề (truyện ngắn); Khương Hữu Tài diễn thuyết (về truyện Kiều) (tường thuật); Những ngày thơ ấu (tự truyện) và Tết của người đi đầy (ký)[7].

Bài đầu tiên là bút ký Tết trong trại “trẻ con”, sau này trong hồi ký ông cho biết, đó là bài viết đầu tay của ông. Sau đó, là hai bài: phóng sự Cơm tây… một xu và bài tự thuật Tại sao tôi viết Bỉ Vỏ. Bẵng đi bốn tháng không thấy bài Nguyên Hồng trên Ngày Nay; tôi chắc thời kỳ này, Khái Hưng, Thạch Lam “bắt” Nguyên Hồng phải viết lại Bỉ vỏ, tới 5 lần, để in thành sách, như lời Nguyễn Thạch Kiên kể lại sau đây:

Hiện chúng tôi giữ trong tay “kỷ vật đầu tay[8] này của Khái Hưng và cả cuốn Hồn Bướm Mơ Tiên tái bản năm 1939 nữa. So sánh hai cuốn sách, tỉ mỉ đối chiếu từng trang, từng đoạn, người đọc sẽ nhận ra ngay sự cần cù, nhẫn nại, nhiệt tình với nền văn học Việt Nam của riêng Khái Hưng cũng như chủ trương chung của Tự Lực Văn Đoàn.
Điểm “cần phải giúp đỡ các nhà văn trẻ”, ngoài Khái Hưng ra còn có các nhà văn Thạch Lam và Hoàng Đạo cùng các thành viên khác, trong Tự Lực Văn Đoàn, góp ý kiến, sửa chữa, nêu những ưu khuyết điểm cho tác giả rõ và đề nghị tác giả bổ sung, sửa lại cho thật hoàn chỉnh (Xin đọc bài của Đinh Hùng “Chia ngọt sẻ bùi…” có in trong tuyển tập này).
Cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng là một thí dụ. Tác giả phải sửa đi sửa lại tới 5 lần mới được Đời Nay cho xuất bản. Nhờ đó mà tập truyện ngắn, cuốn thứ hai của Nguyên Hồng nhan đề Những ngày thơ ấu — cũng do Đời Nay xuất bản — đã như một “Khúc ca chiến thắng vinh danh nhà văn sĩ”, nơi lòng các độc giả mến mộ Nguyên Hồng.
Công lao ấy nhờ ở cái nhìn sáng suốt, bộ óc tế nhị và cái tài “tay tiên gió táp mưa sa” của Thạch Lam cũng như của Khái Hưng, mới thành.”[9]

Tôi không tìm được bài “Chia ngọt sẻ bùi…” của Đinh Hùng, và cũng không thấy bài này in trong tập Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, như Nguyễn Thạch Kiên đã ghi, nhưng tin những điều ông viết trên đây là đúng.

Tết trong trại “trẻ con

Là bài viết đầu tiên của Nguyên Hồng được đăng trên Ngày Nay số 96 (30-1-38) số Xuân, thuật lại cảnh Tết trong trại tù “mi-nơ”[10] mà ông đã trải qua trong gần ba năm từ 14 đến 16 tuổi. Theo lời giới thiệu của Ngày Nay và Nguyên Hồng cũng kể lại trong hồi ký, toà soạn có cắt đi vài đoạn (chắc chỉ giữ phần hay nhất). Bài ký ngắn này cho thấy bút pháp độc đáo của Nguyên Hồng và hiểu tại sao ông hướng về những đứa trẻ bụi đời và cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông viết về thế giới trộm cắp, vì ông là một thành phần của xã hội đó:

Tôi hồi hộp trông ngóng được gọi ra truyện trò và nhận quà bánh của mẹ tôi hay em tôi (…)
Có hai đứa cũng buồn rầu và yên lặng như tôi. Một thằng bị bốn tháng, án rượu. Nó mới 10 tuổi, ngây ngô, dại dột và dễ sai bảo hơn ai. Thằng “vỏ” [ăn cắp] nào cũng có thể ăn chặn phần thịt của nó được. Nó không bao giờ dám nói chuyện, hay cười góp với chúng tôi. Còn nhớ một lần, tôi nghe thấy nó hát se sẽ ở dưới gầm sàn, thì câu hát lố lăng hết sức, riêng của tụi chăn trâu cắt cỏ ở nhà quê:

Cào cào giã gạo tao xem,
Sáng mai tao may quần đỏ, áo đen cho mày.

Và:

Cái cò mày mổ cái mâm,
U ơi, u lấy vợ đầm cho tôi.

Thằng thứ hai, mang thuốc phiện cho chủ bị bắt rồi bị tù: 9 tháng. Nó 14 tuổi, mặt rỗ, lúc nào cũng nhăn nhó, môi dưới chẩy sễ [xễ] như mếu. Nó bồ côi cha mẹ từ thuở lên hai, nhưng nó cũng hy vọng có người vào phép cho nó: anh chủ nhà buôn thuốc phiện lậu nhận nó làm con nuôi kia (…)
Nặng chĩu trên xác thịt và tâm hồn tôi lúc bấy giờ là những sức đè nén của sự tủi nhục, hối hận, thương nhớ lần đầu tiên mãnh liệt nhất trong đời thơ ấu”. (NN số 96)

Lúc đó Bỉ vỏ chưa in thành sách, người đọc chưa biết Nguyên Hồng là ai, nhưng bài ký ngắn này cũng làm ta giật mình: câu hát vớ vẩn của thằng tù nhân mười tuổi: U ơi, u lấy vợ đầm cho tôi, bắn trúng tim ta, nó là hồng tâm của tủi nhục, là tiếng nói của đứa bé bị bỏ rơi thăng hoa thành ca dao, pha trộn những yếu tố hài hước, tự trào của dân tộc bị trị, đầy ham muốn không được thoả mãn, kết tinh trong lời hát của thằng lỏi du đãng lên mười.

Cách viết tự nhiên và bộc trực này đã có đầy đủ những yếu tố nghệ thuật, là lối hiện thực xã hội đớn đau hai chiều: vừa mô tả bức tranh hiện thực, vừa nói lên thực trạng lầm than nằm sau bức tranh. Và Nguyên Hồng sẽ trở thành ngòi bút hiện thực xã hội có tầm vóc nhất trong văn học Việt Nam.

Bài ký này mở đầu cho tự truyện Những ngày thơ ấu, tác phẩm thứ hai mà cũng là chính yếu, qua đó ta biết được “cuộc đời đích thực” của Nguyên Hồng:

Cha chết năm 13 tuổi, mẹ vụng trộm đi bước nữa, đứa bé sống với bà nội và các cô, bị ghét bỏ, phải tự kiếm tiền nuôi mình bằng nghề đánh đáo, vì thầy giáo ác nghiệt, bỏ học, đi lang thang, ắn cắp và vào tù.

Cơm tây… một xu

Là một phóng sự rất ngắn, in trên Ngày Nay số 97 (18-2-38), làm lộ rõ hơn nữa nghệ thuật hiện thực độc đáo của Nguyên Hồng, chỉ qua mấy dòng đầu:

“- Cha mẹ ơi! Hai xu hai đồng “đồng bảo đại” mà mẹ bán rệu ra như thế này à?
Nói đoạn, thằng cha khoác cái khố tải bện với hai chiếc chiếu ấy thọc liền tay vào chiếc gáo dừa, khêu lên từng miếng một:
– Này, sáu khoai, bốn thịt gà, ba cà-rốt và một bánh tây.

Rồi nó dí mũi xuống gáo hít sìn sịt:
– Mà đã chua cả rồi!

Cả một tạ xương thịt của mụ hàng ngồi lún hẳn chiếc chõng rung lên, miệng mụ quạc ra rõ thật dài như chiếc gầu giai buột cạp, và cánh tròn như ống bương của mụ, nhanh như chớp, giật lấy gáo thức ăn nọ:
– Thôi chua không ăn được thì đổ mẹ vào đây. Bà tống cho lợn.

Đoạn mụ đưa ngón tay trỏ vét tròn một lượt là chiếc gáo nhẵn quẹn, không còn lấy một tí khoai dính lại.
– Con ba xu bà!

Tiếng nói như mếu máo ấy, không biết của ai.
– Con hai xu một đồng bà!” (NN số 97)

Đó là một hàng cơm… Tây, đông khách, bán thứ xúp một xu cho ăn mày, có cả khoai tây, thịt gà, thịt bò, cà-rốt, rau cần và bánh tây. Mụ chủ chỉ thầu có một món hẩu lốn, độc nhất vô nhị này. Đó là đồ ăn của hơn bốn trăm lính Tây ăn thừa, thải ra, tống vào hai ba cái thùng sắt tây, để ít ra đã một buổi, bắt đầu chua. Mụ này được gọi là “bà chủ thầu nước gạo trong trại lính“, mụ mua về, bán lại. Thực khách của mụ chen chúc vòng trong, vòng ngoài, xô đẩy nhau, đứa này chưa kịp chìa ống bơ đã bị đứa kia sấn lên cướp trước. Mụ chủ nghiến răng thét:

– Ăn cướp đây! À! chúng mày định ăn cướp hàng bà đây! Séo! Séo!
– Không bà ơi, bà bán cho con.
– Bà bán cho con, bà ơi!

Mấy dòng này hét lên sự thật, xác nhận tài năng hiếm có của Nguyên Hồng: mô tả cuộc đời những đứa bé, mới tí tuổi đầu đã trải ba kiếp ăn mày:

– Bản thân chúng làm nghề ăn mày: ăn mày cấp một.

– Chúng đứng sắp hàng van xin mụ chủ thầu nước gạo bán thí cho lon xúp: ăn mày cấp hai.

– Thứ xúp thiu chúng mua, là sản phẩm ăn xin lính Tây thải ra: ăn mày cấp ba.

Mấy ai có thể tả được đến ba lần cấp độ ăn mày như thế trong một cảnh? Về nồng độ hiện thực, Nguyên Hồng đông đặc gấp ba người khác. Chữ tây xuất hiện ở đây, rất tự nhiên, như bánh tây, lính tây, không ai nghi ngờ đến sự cướp nước. Cả ba chữ đồng bảo đại cũng hết sức tự nhiên, nó chỉ định tình trạng mất nước. Dù hôm nay, có ai đọc được bài phóng sự này của Nguyên Hồng, cũng vẫn còn thấy thấm thía số phận ăn mày ba cấp của dân tộc ta, thời ấy.

clip_image006

Những ngày thơ ấu, NN số 133

Những ngày thơ ấu

Đăng trên Ngày Nay từ số 133 (22-10-38) đến số 140 (10-12-38), với lời giới thiệu sau đây của Thạch Lam:

Người ta hay dấu diếm và che đậy sự thật, nhất là những sự thật đáng buồn trong gia đình. Có ích lợi gì không? Những ngày thơ ấu mà Nguyên Hồng kể lại dưới đây, tôi không muốn biết là có nên hay không; tôi chỉ thấy trong những kỷ niệm cũ đau đớn ấy, sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại, lạc loài trong những lề lối khắc nghiệt của một gia đình sắp tàn. Trên những trang mà Nguyên Hồng viết ra đây, chúng ta thấy nổi lên hình ảnh một người mẹ chịu khổ và âu yếm, một người mẹ hiền từ mà tác giả nói đến với tất cả tình yêu tha thiết của người con.[11]

Nhận xét của Thạch Lam thực là chân xác. Lối viết thâm trầm, thẳng và thực của Nguyên Hồng sẽ lộ dần ra như một giá trị nghệ thuật chưa từng thấy, trong tập tự truyện Những ngày thơ ấu. Qua tác phẩm này, ta thấy sự khác thường trong bút pháp của ông, Những ngày thơ ấu là một tác phẩm tuyệt hay, nhưng đã không được quan tâm đúng mức. Sau này, trong hồi ký không biết vì lý do gì, Nguyên Hồng không nhắc đến, hoặc có nhắc nhưng đổi tên khác, tôi sẽ nói đến ở dưới.

Câu đầu tiên đã xác định lối viết đặc biệt không che đậy sự thực của Nguyên Hồng:

Thầy tôi làm cai ngục, mẹ tôi con nhà buôn bán. Tuổi thầy tôi hơn ba mươi, gấp đôi tuổi mẹ tôi. (NN số 133)

Chính câu này đã khiến Thạch Lam giật mình vì sự thật phũ phàng được trần trụi tung ra không bao bọc. Khái Hưng đọc văn Thạch Lam có chỗ đã thấy “nổi da gà” vì Thạch Lam dám viết thật những điều mà ông không dám viết. Thế mà “cậu Lam” còn phải bái phục “cậu Hồng”. Bởi vì Cậu Hồng kể về bà mình, khơi khơi như sau, trong một màn âu yếm giữa hai bà cháu:

Một lần, bà tôi vẫy tôi lại, ôm tôi vào lòng xoa đầu hỏi:
– Ai đẻ con?
Nhìn những miếng bánh, kẹo thơm phức trong giấy bóng đỏ ở tay bà tôi, tôi nũng nịu đáp:
– Bà đẻ con.
Bà tôi mỉm cười tát sẽ vào má tôi.
– Bố mày chỉ được cái hóm thôi. Không phải!
– Vậy là con cậu, bà nhỉ? (…)
– Còn cái Quế là con ai?
Tôi đã hơi cáu vì thèm ăn lắm mà chưa được miếng nào, tôi nghẹo đầu nghẹo cổ phụng phịu nói:
– Con không biết!
Bà tôi sẽ tát vào má tôi:
– Cái quái đâu! Bố mày, nói đi, rồi bà mới cho.
Nhưng tôi dại gì chậm nói để mà chậm ăn, liền kéo tay bà tôi cầm bánh xuống thấp tý nữa:
– Em Quế cũng là con cậu.
Nhưng tôi đã thất vọng. Bà tôi hứ mạnh một cái, đổi nét mặt:
– Không phải.
Tôi tức giận đến cực điểm, gắt lên:
– Chả con cậu là con ai? Không cho con thì thôi! (…)
– Không phải, cái Quế nó là con thằng…” (NN số 133)

Cảnh này tiêu biểu cho lối viết đặc biệt của Nguyên Hồng khiến ta khâm phục: Ở trên, ông đã tả hàng cơm Tây của mụ chủ thầu nước gạo thành tình trạng ăn mày ba cấp của dân Việt. Ở đây, ông tả cảnh bà âu yếm cháu thành một bản tử hình con dâu mà người bà tuyên án dưới mắt cháu: gieo vào lòng thằng bé sự nghi ngờ người mẹ mà nó yêu quý nhất cái tội ngoại tình, phản bội. Cái ác của người bà, người mẹ chồng, ở đây, tàn phũ hơn tất cả mọi hình thức chửi rủa, đánh đập, vì thế Nguyên Hồng luôn luôn sâu sắc hơn tất cả các tác giả hiện thực khác cùng thời. Sự thực đáng sợ ông tung ra ở đây không nằm trong câu Thầy tôi làm cai ngục, mà ở mằn ở màn bà âu yếm cháu, lạ lùng, quái đản này.

Người mẹ trẻ khốn khổ ấy chỉ có mỗi một “tội” là chiều chiều, khi đội lính (với anh thổi kèn đẹp trai) đi qua; nàng dắt con ra sân đón “mắt sáng lên nhìn người thổi kèn và hai gò má ửng hổng khi mắt long lanh của người đàn ông chiếu tới”.

Ngoài cái nhìn này, nàng không làm gì cả. Bởi vì: “Quế chính là con cậu tôi, các anh họ tôi, các cô tôi, cả bà tôi và mấy người hàng xóm đều bảo như thế, sau này người cai kèn đổi đi nơi khác, không biết là ở đâu; mà mẹ tôi càng kính cẩn hầu hạ bà tôi, càng chiều chuộng thầy tôi và chăm nom anh em tôi. Nhưng từ ngày ấy, tôi ít thấy hai thân tôi trò truyện vui vẻ với nhau…” (NN số 134).

Mẹ ông, người đàn bà có hai đứa con với người chồng nghiện hút, bệnh hoạn, gấp đôi tuổi nàng, qua hai lần gần gụi — mà Hồng biết chắc là chỉ có hai lần ấy thôi — để thoả mãn đòi hỏi nối dõi tông đường của dòng họ.

Mẹ ông, nàng sống không tình yêu, không tình dục, trong sự lạnh lùng của người chồng, sự thù ghét của mẹ chồng và hai cô em chồng.

Mẹ ông, người con gái ấy, lấy chồng ở tuổi vị thành niên, chưa từng được hưởng một tia hạnh phúc nào, nàng phải trộm tìm ánh mắt của người lính thổi kèn đẹp trai qua đường.

Bà mẹ chồng cũng không làm gì cả, nhưng những câu hỏi vớ vẩn bà rót vào tai thằng bé cháu còn cay nghiệt hơn các thứ đòn phép tàn ác của các loại mẹ chồng bà tuần, bà án khác. Bởi vì, bà mẹ chồng này thám thính cả đến ánh mắt của con dâu, bà là thứ KGB nghiệp chướng, gieo nọc độc nghi ngờ vào đầu đứa cháu nội, để chia rẽ mẹ con nó.

Nguyên Hồng không viết Những ngày thơ ấu, để ca tụng những ngày êm đẹp của tuổi thơ như người khác, mà để ghi lại cuộc đời bất hạnh của người mẹ mà ông yêu quý nhất, và nói lên những sự thật hãi hùng trong một gia đình có người cha nghiện hút bệnh hoạn, nướng hết tài sản cho bàn đèn, chết trong lao đờm tủi nhục, chết trong thói tục hủ lậu, dẫn đến sự tàn tạ của gia đình. Một gia đình bị nô lệ trong ghen tỵ nàng dâu mẹ chồng, chị dâu em chồng, dẫn tới sự trả thù khốn nạn của người cô trên đầu đứa cháu mồ côi cha, mới mười ba tuổi.

Gần giỗ đầu thầy tôi. Mẹ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về. Trong đó nghe đâu mẹ tôi đi bán bóng đèn vào những phiên chợ chính, cả vàng hương nữa.
Tôi nói “nghe đâu” vì tôi thấy người ta bắn tin rằng mẹ tôi sinh nhai bằng cách đó, và một hôm kia cô tôi gọi tôi đến bên, tươi cười hỏi:
– Hồng, mày có muốn vào Thanh Hóa thăm mợ mày không? (…)
Tôi toan trả lời có. Nhưng khi nhận ra những ý nghĩa mỉa mai cay độc trong giọng nói và trên nét mặt tươi cười của cô tôi, tôi cúi đầu yên lặng không đáp.
Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô tôi chỉ có ý gieo rắc vào đầu tôi những sự hoài nghi khinh miệt và ruồng rãy một người đàn bà góa chồng, túng bấn và nợ nần nhiều quá, không thể ở tỉnh nhà nuôi con, đành phải bỏ chúng lại cho bà nội và cô nó, rồi đi tha phương cầu thực (…)
– Mày dại quá, cứ vào đi, tao cho tiền tầu.
Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ.
Nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đià ở cằm và cổ. Hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngọt ngào ngân dài ra cho thật ngọt ngào rõ ràng quả nhiên đã soắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô muốn.
Nhưng không phải vì thấy mẹ tôi chưa đoạn tang thầy tôi mà đã chửa đẻ với người khác mà tôi có những cảm giác đau đớn ấy. Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức tại sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến cổ hủ mà xa lià anh em tôi, để sinh nở một cách dấu diếm, trốn tránh như một kẻ giết người lúng túng với con dao đẫm máu của nó. Tôi cười dài trong tiếng khóc, hỏi cô tôi:
– Sao cô biết mợ con có con?” (NN số 136).

Chính những cái ác nhỏ trong gia đình, từ bà đến cô, chưa kể những ngọn roi dứ để “khảo của” (tiền đánh đáo) của người cha nghiện ngập, hay hình phạt tàn bạo của thầy giáo, bắt đứa học trò quỳ trong suốt hai tháng giời, vì một tội nó không phạm, tất cả đã sản xuất ra đứa nhỏ già trước tuổi, cha chết, mẹ đi lấy chồng, ở với bà và cô, hành nghề đánh đáo nuôi thân, rồi biến thành du dãng, vào tù từ tuổi 14, ra tù năm 16, trở thành nhà văn Nguyên Hồng với những tác phẩm hiện thực cực kỳ nhân bản.

Nguyên Hồng là một khám phá độc đáo của Tự Lực Văn Đoàn.

Hiện thực xã hội ở Nguyên Hồng, sâu sắc và có nghệ thuật hơn tất cả những ngòi bút hiện thực khác như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tô Hoài… Đứng cạnh Nguyên Hồng, các nhà văn này chỉ là những ngòi bút mô tả, đôi khi họ viết được những đoạn văn sống động, nhưng họ chưa chìm sâu vào mặt trái của con người, lật ra khía cạnh tối tăm trong một hành vi tốt đẹp, tính nhân bản trong những kẻ sát nhân, như Nguyên Hồng.

Bỉ vỏ

Là tiểu thuyết đầu tiên của Viêt Nam viết về xã hội trộm cắp.

Bỉ vỏ có cốt truyện éo le, đầy tình tiết, như Giông tố của Vũ Trọng Phụng, nhưng nghệ thuật hiện thực của Nguyên Hồng cao hơn nhiều.

Bính là cô gái quê đẹp và hiền, bị một chàng trai thành thị dụ dỗ, có mang rồi bỏ. Không chịu nổi áp lực gia đình và những hình phạt quái ác của làng vì tội có con hoang, bố mẹ Bính đối với Bính ác hơn dã thú, bán đứa bé lấy mười ba đồng bạc; Bính phải bỏ làng ra đi. Ra Hải Phòng, Bính bị hãm hiếp, bị lường gạt, phải vào tù. Một mụ chủ chứa chuộc Bính về làm “nhà thổ”. Bính gặp Năm Sài Gòn, một tay anh chị khét tiếng. Năm chuộc Bính về làm vợ, hết sức yêu thương, chiều chuộng. Bính có mang. Năm bị bắt. Đồ đệ chăm sóc Bính tận tình. Bính sẩy thai. Năm được thả. Bính muốn cải hoá chồng, nhưng không được. Hai người bỏ nhau. Bính nhận làm vợ lẽ một tay mật thám gác xà lim để có 100 đồng nộp phạt cho bố mẹ khỏi bị tù. Một hôm tay này kể cho Bính biết y vừa bắt được tên trùm cướp của giết người khét tiếng. Biết ngay là Năm, Bính tìm cách giải cứu cho chồng, rồi trốn theo. Lần này, Bính hoàn toàn “nhập cuộc”, trở thành bỉ vỏ, con ăn cắp, nhanh như cắt, gan lì và tàn nhẫn như chồng. Lần cuối cùng, Năm cướp giật một đứa bé đeo khánh vàng trên tầu thuỷ rồi nhảy xuống sông, đem về, Bính nhận ra con mình, nhờ vết chàm trên trán. Đứa bé đã chết.

Bỉ vỏ có cấu trúc chặt chẽ, trừ lúc đầu, sự bất hạnh xẩy ra cho Bính ở Hải Phòng hơi giả tạo, phần còn lại hoàn toàn lô-gích. Mỗi cảnh đều được mô tả với ngòi bút nhà nghề trên ba mặt: nghệ thuật mô tả, văn chương điêu luyện và sự vận hành của xã hội cướp giật. Tác phẩm hay toàn diện cả về văn phong lẫn tư tưởng.

Bỉ vỏ mở đầu bằng câu:

Bữa cơm chiều nay khác hẳn mọi ngày, buồn bã và uể oải lắm.
Bính ngồi sát bức vách lâu ngày đã nứt nẻ loang lổ, cầm bát cơm đầy nhưng chẳng buồn và. Thằng Cun, cái Cút hai đứa em nhỏ của Bính sợ lây, lấm lét nhìn điã đậu phụng om tương vàng ánh mỡ, thèm quá mà không dám gắp. Những tiếng ho khàn khàn của bố chúng và cặp mắt toét nhoèn cau có của mẹ chúng luôn luôn lườm Bính, làm chúng càng rụt rè kinh hãi
.

Bi kịch đời Bính bắt đầu bằng những dòng như thế. Nghĩa là không có gì là bi kịch cả: Nhà Bính cũng không nghèo quá, không đói, cơm có đậu om mỡ là khá. Bố mẹ không quát tháo roi vọt. Vậy mà hai đứa nhỏ, thằng Cun con Cút lại sợ, chúng sợ lây cái gì mà mất vía không dám gắp đậu?

– Chúng sợ cái “không khí” bữa ăn: chúng sợ gián tiếp, sợ cái tai họa, ngầm, sẽ lây sang chúng. Cái mà chúng sợ không “có mặt” ở đây, nhưng nó hiện diện bằng những dấu hiệu: bức vách nứt nẻ, chị nó cầm bát cơm đầy nhưng không và, tiếng ho khàn khàn của bố đầy đe dọa và cặp mắt toét nhoèn của mẹ lườm chị, như muốn đánh.

Đó là nghệ thuật của Nguyên Hồng: ông luôn luôn dùng những sự không ngờ để nói lên cái bất ngờ, mà cái bất ngờ ở đây là: Bính đẻ con hoang. Khó có thể tìm thấy một cách sắp đặt nào hoàn chỉnh và bất ngờ như thế.

Điểm thứ hai: nhân vật của Nguyên Hồng, ngay từ đầu, cũng không trắng đen rõ ràng kẻ ác chỉ có ác, kẻ thiện chỉ có thiện. Tám Bính chính là nguyên mẫu con người Nguyên Hồng: sống trong môi trường độc ác, nhưng có tâm hồn cao thượng, cố ngoi lên, để sống còn. Nguyên Hồng thoát được và thành nhà văn, còn Tám Bính lỡ đò, thất vận.

Từ giã đứa con, mà bố mẹ quyết định bán nó, Bính đi vào mưa gió:

Bính tê mê nâng đứa con lên tận mặt, rít miệng vào má nó, vào trán nó, rồi Bính nhìn ngước lên như để phân trần với bóng tối nỗi đau đớn trong lòng. Sau đó Bính đăm đắm trông con thiêm thiếp ngủ. Dưới ánh đèn lù mù ở bên ngoài qua kẽ liếp lọt vào, da dẻ nó hồng hào biến thành xanh trong xanh bóng, mớ tóc đen láy, lơ phơ trở nên hung hung mốc mác khô cứng. Vệt chàm dài hơi giống hình con thạch sùng bò từ một bên trán đến mang tai xám ngắt hẳn đi như một vệt máu. Và cái vết lẹm trên mí mắt cũng ở bên phải thấy thương như một lốt dao chém vậy. (Chương 1, trang 8, bản điện tử)

Làm sao một thanh niên 17, 18 tuổi lại có thể viết được những dòng đậm tình mẫu tử như thế? Nếu như không phải đây chỉ là sự sống lại kinh nghiệm của đứa bé đã được người mẹ rứt ruột bỏ con, ra đi trong một hoàn cảnh khác: để tục huyền và kiếm ăn trong những ngày thơ ấu. Vết chàm thạch sùng trên mặt đứa bé, như đã vạch sẵn những nét định mệnh giang hồ của người mẹ.

Ở Hải Phòng, thủ đô “chạy vỏ” (ăn cắp), trong buổi họp lớn đủ mặt anh hùng tại nhà Năm Sài Gòn: sau chầu khai khói thuốc phiện, Chín Hiếc khoe khoang thành tích tối hôm kia hắn ăn cắp một người đàn bà sang trọng, bế con:

Mẹ vận quần lĩnh, áo nhiễu tây nâu, con mặc quần lụa hồng, áo gấm lam, đeo vòng khánh vàng và khóa xích bạc (…) cái thắt đớm [thắt lưng] của chị ta phồng lên một nấc, chắc chắn là nấc bạc giấy (…)

Sương đã xuống, trời tối mờ, hắn không rõ mặt người ấy. Mãi sau nhờ ánh đèn điện đằng xa, hắn mới nhận thấy đôi mắt rất sắc trên gương mặt trái xoan lóng lánh đôi hoa tai vàng. Đường thật là vắng vẻ. Một chiếc xe tay đi khỏi thì không còn một bóng người khác. Chín Hiếc vội rút giao ra, nhảy xổ lại bóp cổ dìm người đàn bà xuống đường. Thằng tiểu yêu theo sau bế ngay đứa bé chạy ra lối ao than. Người đàn bà không kịp kêu lên một tiếng, Chín đã cắt đứt ruột tượng. Sờ lên đôi hoa tai, hắn không tháo mà nghiến răng dứt nốt. Hắn lẳn gói bạc vào túi áo trong đoạn lần khắp người đàn bà. Nhưng không thấy tiền nong gì nữa, hắn bèn rút thắt ng, trói chân tay người ấy lại và lấy mùi soa nhét đầy miệng. Trong chớp mắt Chín đã đặt người ấy còng queo trong khu vườn hoang bên đường. (…) thằng “vỏ lỏi” (thằng nhỏ ăn cắp) bế đứa bé ra ao than chực tháo khánh và vòng xích thì có bốn “so quéo” (thằng ngù ngờ) ở trong ấy đi ra bắt gặp nó, nó hoảng hốt vội vứt đứa bé xuống một cái hố rồi chạy mất. (Chương VI, trang 24-25)

Hành động nhanh như cắt, bọn cướp giật này hoàn toàn dã man, không coi tính mạng con người ra gì, chỉ cốt chiếm vàng bạc. Nhưng mấy hôm sau, trong một “buổi họp” khác, ta thấy “tư tưởng” của chúng còn tàn bạo hơn. Tư-lập-lơ thông tin:

Người đàn bà mất tiền ấy là vợ một cớm chùng (mật thám) ở Hòn Gai mới đổi về đây, không biết “tiểu yêu” của mày làm sao để đến nỗi thằng bé rơi xuống hố, dập cả sống mũi, vào nhà thương được năm hôm thì chết.
Không một vẻ cảm động trên mười mấy khuôn mặt đen xạm, Năm Sài Gòn chậm rãi nói:
– Nó chết thì bố mẹ nó chôn, việc gì mình phải lo.
Ba Trâu Lăn và Ba Bay đồng thanh:
– Đúng đấy! (Chương VIII, trang 32)

Lời tuyên bố của Năm Sài Gòn và sự đồng tình của bọn đàn em chứng tỏ y không còn một chút lương tâm con người. Vậy mà Bính được y cứu khỏi cuộc đời đầy đọa, tận tình săn sóc cưu mang, với những lời yêu thương ngọt ngào tha thiết nhất.

Vụ cướp của, giết trẻ con này liên quan đến vợ con một người mật thám, nên cả bọn bị họa lây, tất cả giới đội xếp, mật thám Hải Phòng thắt chặt vòng vây bọn côn đồ du đãng, khiến chúng không làm ăn gì được. Lại thêm vụ: bọn tù nhân lập toà án xử một tên “phụ cớm”, buộc y phải xúc phân ăn, vụ việc lọt ra ngoài, bọn “cớm” quyết bắt hết bọn “yêu vỏ”. Trong tình trạng khẩn cấp, Tư-lập-lơ nói khích:

– Mình để cho người ta chém tức là mình kém, mình chém người ta rồi ngồi tù mới giỏi chứ, và mình sả cả “cớm” mới can trường hơn. Nội bọn ta đây, tôi dám hỏi rằng ai là tay chơi, ai can trường, quyết bênh vực anh em mà thí cho “cớm” vài nhát nào?
Năm Sài Gòn nóng sôi người lên, nghiến răng, nắm chặt bàn tay đập mạnh một cái xuống giường, làm rung chuyển cả chân niễng:
– Chú muốn thịt ai?
– Đội “cớm” Minh, “cớm chùng” [mật thám] Hiếu và các thằng Xếp Bảy mề đay anh lạ gì, còn phải hỏi?
Năm đã đỏ tiá mắt lên, vùng dậy rút lưỡi dao sáng loáng cài trên đình màn xuống, xăm xăm chực đi. Bính chạy xổ ra, run cấm cập, ôm chặt lấy Năm, ríu lưỡi kêu:
– Đừng hung tợn thế!… Em van mình! Đừng hung tợn thế!… Em van mình!… Em van mình!…
Năm gỡ tay Bính, mắt sáng quắc, long lên, miệng sùi bọt mép:
– Mặc tôi! Mặc tôi!
– Em lạy mình đấy! Thương em chứ!
Năm toan gạt Bính ra bên nhưng Bính nằm lăn ra đất và giữ lấy ống quần Năm khóc nức nở. Năm vội cúi xuống, ẳm bổng Bính đặt lên giường, thì Bính vòng hai tay qua nách, túm chặt lấy áo Năm:
– Em lạy mình! Đừng hung tợn thế! Em van mình! Mình thương em! Giời ơi!…
Mấy giọt nước mắt của Bính qua lần lụa mỏng thấm vào da thịt Năm Sài Gòn. Một cảm giác ghê lạ chuyển khắp người Năm khi bụng Bính ép vào lưng Năm. Hắn ngoái cổ trông lại. Mắt long lanh vừa gặp mắt Bính chan hoà, Năm Sài Gòn cực chẳng đã thở hồng hộc ngồi xuống giường:
– Ừ, thì mình cứ buông tôi ra.
– Để mình đi à?
– Không, tôi không đi đâu, mình đừng sợ.” (Chương XIX, trang 34-35)

Những dòng trên đây bộc lộ lương tâm Bính, tha thứ cho Bính. Cái bào thai trong bụng mẹ đã giữ chân Năm không cho đi giết người, lần này. Bính là cô gái quê hiền lành, đầy lòng trắc ẩn, lạc vào cái bể hung bạo, bốn bề trùng trùng không lối thoát. Tất cả được xếp đặt một cách tế nhị mà chi li, lạ thường.

Đêm khuya rồi, Bính muốn chớp mắt ngủ, song không được (…) Bất giác Bính quay nhìn Năm Sài Gòn ngủ bên cạnh. Nhờ ánh đèn vặn to, Bính nhận rõ từng nét mặt Nam. Năm đen cháy, cằm bạnh, xạm râu, hai mắt sếch, mé trên mắt bên phải vẹt hẳn một nửa lông mày dưới vết dao chém sâu hõm. Trên má Năm, trên trán Năm, mấy cái sẹo nữa chằng chịt như những vết rạn của chiếc vại sành…
Bính lắc đầu, thở dài… Bính ngạc nhiên cho cách đối đãi lạ lùng của Năm, đã săn sóc Bính từ miếng cơm, từ hớp thuốc, suốt mấy tháng ròng, Bính nằm liệt giường liệt chiếu. Nhất là mấy tháng nay Bính có mang, Năm càng nâng nhấc chiều chuộng.” (Chương XIX, trang 35)

Nhưng Năm Sài Gòn, tay côn đồ cùng hung cực ác, cũng có một tâm hồn nhân đạo giấu kín bên trong.

Rồi Tám Bính không cảm hoá được Năm Sài Gòn. Vụ xử tội Ba Bay chứng tỏ sự thất bại của Bính, nét nhày nhụa của tội ác theo đuổi Bính đến cùng: Ba Bay hớt tay trên của đàn anh một món bở. Năm biết, tìm cách đoạt lại “của” của mình:

Chợt Năm ngẩng đầu lên, nheo mắt nhìn hút một bóng người thất thểu trên đường về lối Bến Đò Niệm. Năm nghển lên nghiêng nghé rồi hét lên một tiếng, cắm cổ chạy. Bính nhận ra ngay là Ba Bay bèn vội chạy theo.
Thoáng cái Năm đuổi kịp Ba. Ba chưa kịp quay đầu lại nhìn đã bị Năm bóp chặt cổ vật xuống đường. Ba Bay ú ớ muốn kêu song không sao cất tiếng lên được vì hai bàn tay sắt của Năm khoá khít lấy họng.
Biết đã vỡ chuyện, Ba hết sức giãy dụa khư khư giữ túi tiền. Năm nóng mặt nghiến răng thoi luôn ba bốn chiếc trúng mạng mỡ Ba. Ba phải dùng tận lực đấm trả vào mặt Năm. Năm hoa cả mắt vẫn không chịu buông tay. Dưới đầu gối Năm, Ba Bay thở không ra hơi, xương ngực Ba như sắp gãy hết mất. Nhìn mắt Năm long sòng sọc, Ba Bay rởn cả da thịt, cảm thấy hết mọi sự ghê gớm sắp xảy ra.
Nhưng, Ba nhất định giữ chặt ví tiền. Còn Tám Bính run cầm cập xanh mắt nhìn chồng và bạn chồng vật lộn.
Mấy phen Năm mím môi thích mạnh khuỷu tay xuống cổ Ba, luồn tay xuống lưng Ba, cố lập sấp Ba đi để rút cái ví tiền gài trong túi dưới nách áo, nhưng Năm đều bị Ba co đầu gối thúc vào chỗ hiểm, Năm Sài Gòn đã sôi máu, rút lưỡi dao giắt ở bắp đùi ra giơ thẳng cánh, dằn tiếng nói:
– Có đưa mau không?
Ba Bay lắc đầu. Năm Sài Gòn nghiến răng nói một lần nữa.
Cánh tay Năm rung rung. Lưỡi dao nhọn lấp lánh dưới trăng mờ…
Tám Bính hốt hoảng chạy xô đến định gỡ hộ cho Ba thì Năm liền hắt bắn vợ đi. Ba Bay thừa cơ toan giật lấy dao, Năm đã đâm thẳng xuống ngực hắn, chẳng để hắn kịp cất một tiếng van lơn xin nhượng bộ.
Máu tươi phọt lên, Năm Sài Gòn nghiêng đầu tránh, rồi bồi thêm một nhát trúng cổ họng Ba.
Ba trợn ngược mắt. Sau hai tiếng ằng ặc, hắn giãy lên một cái đoạn nằm thẳng cẳng, cái ví tiền giờ mới rơi ra ngoài. Nam rút mùi xoa lau máu đẫm bàn tay, đoạn nhặt ví tiền nhét vào túi và khẽ gọi Bính:
– Ba “củ” rồi mình ơi!
Bính chạy lại, cuốn quít lay người Ba. Thấy Ba cứng đò, máu ở ngực, ở cổ họng cứ tuôn ra. Bính ríu lưỡi nói:
– Thế này thì chết cả mất!
Nghe Bính nói không nên tiếng, Năm cười rộ lên, rồi lạnh lùng xốc Ba Bay lên vai, chạy lùi lũi về phía bờ ruộng tận đằng xa.
Mảnh trăng vừa nhô ra khỏi đám mây xám, trút xuống cảnh vật một làn ánh sáng xanh trong xanh bóng lẫn với sắc xanh đặc của ruộng rì rào.
Tám Bính chỉ chực khuỵu xuống. Bính hoa mắt trông thấp thoáng trong sương xác Ba Bay rũ trên vai Nam, Bính rợn cả người, sực nhớ tới bức tranh vẽ một người tội lỗi lúc chết bị ma quỷ lôi kéo đi. Bức tranh này treo trên tường ở buồng ông Cố Đạo già giải tội cho Bính dạo năm xưa. (Chương XXIV, trang 86-87-88).

Xã hội côn đồ được Nguyên Hồng mô tả bằng một ngòi bút tài hoa thơ mộng đầy bạo lực kinh hoàng, không phải để cho ta thù ghét, khinh bỉ, mà cho ta hiểu hơn những con người này: họ cũng là ngươi, cũng biết “trọng nghĩa khinh tài”. Nhưng khác người lương thiện ở chỗ: họ kiếm tiền với bất cứ giá nào, miễn là khỏi phải làm việc.

Vì tiền họ giết người, vì tiền họ cũng có thể thí mạng như Ba Bay. Và có tiền là phải “tiêu” ngay, tức là làm ba việc: cờ gian bạc lận, hút thuốc phiện và đi “nhà thổ”. Vì cờ gian bạc lận tàn phá bao nhiêu gia đình mà Ba Bay bị giết không ai thương xót. Nhờ nhà thổ mà Năm Sài Gòn gặp được Tám Bính. Năm không thể cưỡng lại được cái thú là cứ có tiền phải chui vào sòng bạc ngay, có khi chỉ một đêm là sạch túi.

Bỉ vỏ không phải là tác phẩm bênh vực người lao động, cùng đinh, vì đói khổ mà hoá thành trộm cắp như nhiều ngưởi tưởng.

Bỉ vỏ nhận diện phường trộm cướp như một lối sống, lối kiếm tiền không cần lao động, có tiền phải thủ tiêu ngay trong trận địa đỏ đen, sẵn sàng giết người đoạt của và sẵn sàng thí mạng để giữ tiền. Loại xã hội đen này có mặt khắp nơi, không cứ gì dưới thời Pháp thuộc.

Tám Bính, tín đồ thuận thành đạo Chúa, chưa bao giờ chối bỏ lòng nhân. Bính “bán mình” để chuộc mẹ cha, hai kẻ tán tận lương tâm, bán cháu lấy mười ba đồng bạc. Bính lọt vào xã hội vỏ, muốn cải hóa nó, nhưng thất bại. Rồi chính Bính cũng bị sa lầy. Cái chết khủng khiếp của Ba Bay ám ảnh tâm trí Bính, trông đâu Bính cũng thấy xác Ba Bay rũ trên vai Năm dưới bóng trăng nhợt nhạt.

Cuối cùng, Bính gặp lại xác con với vết thằn lằn trên trán, trong một vòng luân hồi oan nghiệt: gieo ác thì phải đền tội. Ở đây cả Chúa lẫn Phật đều có mặt. Tác phẩm có giá trị đạo đức cao siêu mà những tiểu thuyết thường được gọi là hiện thực phê phán, không mấy ai đạt được.

Trong trường thiên tiểu thuyết Sóng gầm (1961), Nguyên Hồng chỉ thành công nửa đầu, khi ba mẹ con Thanh [Thanh là hình ảnh của Nguyên Hồng] dọn ra Hải Phòng, nương náu trong một xóm nghèo. Với những nhân vật lạ lùng như cụ Ứớc, ông đã lột tả được những nét nhân từ, bác ái, tiên phong, đạo cốt của một ông lão cùng đinh. Với những cụ Cam, cụ Coóng, mẹ La…ông diễn tả được tình yêu trăm mặt, sự đùm bọc lẫn nhau trong cảnh lầm than, đói khổ, ông vẽ nhũng chân dung con người thành thật, bộc trực, hy sinh, can đảm. Ông tả được điều kiện làm việc ghê rợn của những người thợ mỏ ở Hải Phòng.

Nhưng ông không thành công khi mô tả giai cấp bóc lột, những nhân vật Thy San, Giáng Hương, Đờ-Vin-Xi chỉ là những nét phóng, hời hợt, không thuyết phục. Giống như Nhất Linh không viết được về người nghèo, Nguyên Hồng cũng không viết được về người giàu. Ngay cả chân dung những người cách mạng tù Côn Đảo trở về, cũng chỉ nhàn nhạt, không ai rõ nét, nổi trội cả. Tóm lại, khi Nguyên Hồng rời khỏi những mảnh đời có thực mà ông đã sống để đi vào địa hạt hoàn toàn tưởng tượng, ông thất bại.

Nguyên Hồng kể lại chuyện viết Bỉ vỏ

Tại sao tôi viết Bỉ Vỏ là bài tự thuật đầu tiên về việc viết Bỉ vỏ, cũng là bài viết thứ ba của Nguyên Hồng in trên Ngày Nay số 104 (3-4-38), sau khi Bỉ vỏ trúng giải Tự Lực Văn Đoàn 1937. Bài này mở đầu như sau:

Năm ấy, tôi mười sáu tuổi [1934] hết hạn tù, được tha. Mẹ tôi lên tận nơi đón tôi. Nhưng chúng tôi không về Nam Định — quê hương của chúng tôi — mà giắt nhau ra Hải Phòng.
Khi tôi đi tù, đoạn tang thầy tôi, mẹ tôi bước đi một bước nữa. Nên lúc rời bỏ cái tỉnh đã chứng kiến bao nhiêu việc không hay kế tiếp phá tan gia đình tôi, sự ngậm ngùi của mẹ tôi bắt tôi nghĩ đến lòng héo hắt của một người đàn bà cải giá trước sự khinh bỉ, rẻ rúng của họ hàng nhà chồng, và trước sự ghê tởm của mọi người quen biết đối với con mình, mới một dúm tuổi mà đã trải hết lao này sang lao khác (…).
Ra Hải Phòng chúng tôi càng khổ sở. Trông vào vài hào làm vốn buôn trầu cau, mẹ con tôi được bữa sớm mất bữa tối. Lắm phen, luôn mấy hôm, chỉ một bữa cháo lót lòng.
Bao nhiêu ngày tháng, bị câu thúc thân thể và bắt buộc phải làm những công việc bẩn thỉu, nặng nhọc quá sức mình, tôi tưởng khi thoát khỏi cảnh tù tội, đầy ải ấy sẽ sống một sự no ấm hơn… ngờ đâu!
Vì thế, xác thịt tôi dần suy nhược; ôm cái ngực thỉnh thoảng đau nhói lên, tôi cảm thấy đời tôi đã bị rút ngắn đi, và một ngày rất gần kia sẽ hết! Thế là tâm trí tôi bị một ám ảnh ghê sợ, khủng bố: “chết!” (…) Tôi chết đi, mới mười sáu tuổi, sẽ làm cho mẹ tôi đau đớn biết chừng nào! Và trong cái phút cuối cùng của một đời sớm tắt ấy, tôi sẽ quằn quại như con bướm non bị hai ngón tay giữ [dữ] tợn kẹp chặt, vừa lúc nó đánh thấy mùi nhị hoa thơm ngát.
Những lúc lo sợ, bối rối, đau đớn quá, trong tâm trí người ta hay nẩy ra những ước muốn khác thường. Tôi, tôi muốn sẽ có một cái gì để an ủi mãi mãi mẹ tôi, và để tỏ lòng tôi mến tiếc và thương nhớ những người và vật đã làm tôi vui thích đến say mê.
Nghiã là tôi phải để lại một cái gì tinh khiết của hồn, xác tôi cho cõi đời mà tôi yêu mến!
Ý quyết viết tiểu thuyết thụ thai trong trí tưởng tôi mỗi ngày một mạnh mẽ thêm, lan rộng mãi ra“. (NN số 104).

Và Nguyên Hồng đã viết, viết trong hoàn cảnh khốn khó cùng cực của gia đình, rồi người mẹ phải đi Vinh vay tiền làm vốn, bà trở về với hai sọt trầu vỏ. Gia đình không đói nữa, đã có tiền mua một thếp giấy để viết.

Mấy truyện ngắn tôi đã viết xong từ lâu, và phóng sự tiểu thuyết “Bỉ vỏ” trải bao nhiêu ngày tháng đã dàn xếp kỹ càng trong đầu óc tôi (…)
Bỉ vỏ đã viết xong trên một cái bàn kê bên khung cửa trông ra những vũng nước đen ngàu bọt, và chuồng lợn ngập ngụa phân tro, “Bỉ vỏ” đã viết xong trong một căn nhà lụp xụp cứ đến chập tối là ran lên muôn vàn tiếng muỗi.” (NN số 104).

Bỉ vỏ nhận được giải thưởng trị giá 50 đồng. Trong hoàn cảnh người mẹ buôn bán mỗi ngày chỉ kiếm được mấy hào, thì số tiền 50 đồng này quý giá là nhường nào, đối với người thanh niên Nguyên Hồng thời ấy. Theo quy định đăng trên Ngày Nay, sách dự thi giải 1937, phải gửi đến toàn soạn trước ngày 30-12-1936, việc này phù hợp với lời Nguyên Hồng ghi cuối sách: Viết trong năm 1935-1936. Vậy Bỉ vỏ được sáng tác khoảng 1935 -1936, năm ông 17-18 tuổi.

Hồi ký Bước đường viết văn

Trong cuốn hồi ký Bước đường viết văn[12], Nguyên Hồng viết sau này, rất khác.

Dưói đây là một số chi tiết trong hồi ký, không có trong bài Tại sao tôi viết Bỉ Vỏ, in trên Ngày Nay số 104 (3-4-38):

– Tập truyện ngắn đầu tay Những linh hồn đầy đọa hay Những linh hồn đau khổ và truyện thứ nhì Cát bụi lầm, không đâu đăng.

– Truyện ngắn đầu tiên Linh hồn, đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy khoảng tháng 9 tháng 10 năm 1936 (trang 1148-1952).

– Đây là đoạn ông viết về Bỉ vỏ, không giống những điều ông đã viết trong bài Tại sao tôi viết Bỉ vỏ, năm 1938:

Tôi được sống một cách căn cơ và lại còn được viết, viết đều hơn, viết nhiều hơn!
Tôi sửa chữa lại mấy truyện trong tập Những linh hồn đau khổ. Tôi viết những truyện mới. Tôi viết bản thảo lần thứ hai, thứ ba, Bỉ vỏ. Và tôi đã gửi bài lên nhà báo trên Hà Nội:Tiểu thuyết thứ bẩy.”(trang 1200) (Chúng tôi in đậm).

– Và đây là những dòng ông viết về bài “Tết trong trại trẻ con” mà một người bạn cho ông biết là đã được đăng trên Ngọ Báo 1935:

Anh đưa cho tôi một tờ báo gấp tư mà hai cột rành rành chữ in có tên tôi dưới một đầu đề rất lạ. Tôi vồ ngay lấy, chỉ một loáng mắt, tôi đọc cả một đoạn đầu, rồi xuống gần hết đoạn cuối. Người tôi như sốt. Bừng bừng hết cả mặt mày và da thịt. Phải! Từng chữ, từng câu một đúng là của tôi mà tôi nhớ lại rành rành. Có khác là bài báo ngắn hơn, ngắn hơn vì bị bỏ một vài đoạn.
“Cảm tưởng của một người học trò nhỏ sau khi thôi học bị tù”.
Cái khác chính còn là cái đầu bài trên đây thay đi thành: “Trong trại tù trẻ con”.
Bài này tôi đã viết cùng lúc với những truyện ngắn trong tập “Những linh hồn đau khổ”. (trang 1215-1216).

Như chúng ta đã thấy ở trên: bài Tết trong trại “trẻ con,” được in trên Ngày Nay số 96 (30-1-38). Ở đây biến thành Ngọ Báo năm 1935. Không lẽ bài này đăng hai lần, cùng bị đổi tên như vậy? Báo Ngày Nay có chấp nhận đăng lại như vậy không?

– Trong suốt cuốn hồi ký, không thấy ông nhắc gì đến tác phẩm Những ngày thơ ấu, in trên Ngày Nay từ số 133 (22-10-38) đến số 140 (10-12-38); nên tôi đoán Những linh hồn đau khổ chính là Những ngày thơ ấu, bởi vì được ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

– Nhưng lạ nhất là đoạn dưới đây, ông thuật lại việc ông “nhận được thư của Tiểu Thuyết Thứ Bảy“, vào đúng thời điểm Tự Lực Văn Đoàn phát giải thưởng 1937 cho Bỉ vỏ:

Tôi vẫn vừa dạy học, vừa viết. Vào khoảng tháng bảy năm ấy (1937), tôi nhận được thư đặc biệt của Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Phong bì đã viền xanh, lại còn viền mấy đường chỉ màu, tên và chỗ ở nhà báo in rất to. Giấy viết thư thì màu lụa mỡ gà, vân kiểu giấy bạc, mấy đường viền trong đây còn rực rỡ hơn, đúng là băng tam tài, còn cái thư thì như một cái bằng đấu sảo, địa chỉ và tên báo, chức vị chủ báo in toàn chữ nổi đen nhánh. Thư đánh máy, chính ông chủ nhà báo kiêm chủ nhà xuất bản ký tên.
Tôi đã hoa cả mắt, run rẩy cả tay và cả người, đọc đi đọc lại, cố hiểu thật sâu thật hết mọi ý của từng lời từng câu trong thư.
Thư nhà báo hoan nghênh tôi, mong muốn tôi viết tiếp nhiều truyện cho nhà báo. Để đáp lại sự cộng tác chặt chẽ đó, nhà báo sẽ trả tiền bài cho tôi bắt đầu từ ngày viết thư này. A ha! Thế là tôi thành một người viết báo có tiền nhuận bút, một văn sĩ mà các truyện viết ra không phải chỉ được đăng mà còn được trả tiền. Tôi sẽ có thể, rất có thể sống bằng viết báo, viết truyện. Tôi thành văn sĩ nhà nghề. Tôi là trợ bút của hẳn một tuần báo to, có tiếng bên cạnh những văn sĩ có tên tuổi, vào bực đàn anh trong làng văn làng báo lúc bấy giờ! Tôi đã tranh được một sự làm ăn mà bao nhiêu người viết văn khác mơ ưóc, trong số đó có nhiều kẻ đã phải tìm các thứ mánh khoé, mưu mẹo, cày bảy, luồn lọt, chạy chọt, thậm chí bán rẻ cả tài năng của mình để thực hiện ý đồ.
Tôi không khoe việc này với ai cả, kể cả mẹ tôi và em gái tôi. Nhưng có lẽ vì sự sung sướng hân hoan không thể nào không lộ liễu của tôi, và hình như em gái tôi đã đọc trộm đươc bức thư của toà báo ấy, nên cả hai người cũng vui ra mặt, và trong những câu nói với nhau, tôi thấy còn bàn tính cả đến sự sắm sửa chi tiêu của nhà từ nay trở đi. Hơn thế nữa, những bà con xóm lán thân thuộc cũng thì thào và tỏ ý mừng cho sự làm việc chịu thương chịu khó, cặm cụi đêm ngày của tôi đã tới lúc khấm khá (…) Tôi bắt đầu mặc Tây (…) Tôi thôi dạy học, bỏ hẳn nhà, lên Hà Nội. Tôi lên Hà Nội để đi học. Tôi lại đi học. (Trang 1231-1233)

Ngoài mấy chữ Tự Lực Văn Đoàn được đổi thành Tiểu Thuyết Thứ Bảy, còn tất cả nội dung đoạn văn này xem ra rất thành thực, và cho ta biết, hồi đó giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn có thể thay đổi cuộc đời một nhà văn nghèo như thế nào.

Nguyên Hồng viết hồi ký “cải biến” như thế, có lẽ vì trong thời điểm đó, cái tên Tự Lực Văn Đoàn gây nguy hiểm cho những người “liên hệ”, khiến Những ngày thơ ấu cũng phải đổi tên thành Những linh hồn đau khổ, vì đã đăng trên Ngày Nay.

Bây giờ, thời điểm đó qua rồi, chúng ta nên tái lập sự thật, bởi vì hồi ký Bước đường viết văn của Nguyên Hồng đã tái bản và phát hành rộng rãi.

Đôi dòng về lối viết hiện thực xã hội

Trường phái Hiện thực (Réalisme) phát sinh giữa thế kỷ XIX ở Âu châu, chủ trương trình bày sự vật đúng y như thực tế, không thăng hoa hay lý tưởng hoá và là cha đẻ của trường phái Tự nhiên (Naturalisme).

Hiện thực xã hội chủ nghiã (Réalisme Socialisme) là một chủ nghiã có điều luật quy định, ra đời trong Đại hội nhà văn Liên-xô 1934, chủ yếu đòi hỏi văn nghệ sĩ phải có nhiệm vụ cải huấn và giáo dục người lao động theo con đường xã hội chủ nghiã.

Ở Việt Nam, năm 1943, ông Trường Chinh viết bản Đề cương văn hoá theo tinh thần đó. Nhưng bản Đề cương văn hoá 1943, chưa được quảng bá rộng rãi. Phải đến ngày 19-7-1948, khi ông Trường Chinh đọc bài Chủ nghiã Mác và văn hoá Việt Nam tại Đại hội văn hoá toàn quốc lần II ở Việt Bắc, thì mọi sự mới rõ ràng: bài này chỉ định đường lối văn nghệ hiện thực xã hội của Việt Nam, gồm các yếu tố: Văn nghệ thi đua, văn nghệ tuyên truyền, phục vụ công nông binh, phân biệt ta-địch, vv… Văn kiện này gây đổ vỡ: Nguyễn Hữu Đang lúc đó còn là cánh tay phải của cụ Hồ, bỏ về Thanh Hóa và sau này ông cầm đầu phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, như ta đã biết.

Nhưng từ thời kỳ đổi mới đến nay, chủ nghĩa hiện thực xã hội, không còn được nhắc đến như một quy luật sáng tác nữa, nhà văn có quyền sáng tác theo những chiều hướng khác, tuy nhiên cụm từ “văn học hiện thực phê phán” vẫn còn thông dụng và vẫn được tôn sùng, người ta vẫn cho Nguyễn Công Hoan là chủ soái, mặc dù chữ phê phán hoàn toàn phản văn học, vì nhà văn không phải là quan toà, nhà văn chỉ có nhiệm vụ trình bày hiện thực như đã xẩy ra.

Chủ nghĩa hiện thực xã hội, trong thời điểm được áp dụng triệt để tại miền Bắc, đã đưa đến sự độc tôn phái hiện thực và loại bỏ những cách viết khác. Thí dụ Nguyễn Tuân, đã phải từ bỏ những tác phẩm hay nhất của ông như Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Chùa đàn.

Trong bao nhiêu năm ở Pháp, mỗi lần có bạn văn trong nước sang Paris, tôi đều hỏi chuyện văn chương, sự trả lời hầu như bất biến: Chí Phèo của Nam Cao là đỉnh cao.

Sự độc tôn một lối viết, một nhà văn, cũng giống như các sự độc tôn khác, thường đưa đến sai lầm. Vũ Trọng Phụng cũng được lên đài vinh quang, sau những thăng trầm vì lý do chính trị. Nguyên Hồng không có trong bảng vàng này.

Vì vậy, ở đây, tôi muốn so sánh giá trị của Nguyên Hồng với Nam Cao và Vũ Trọng Phụng.

Nguyên do như thế này: Tất cả những kiệt tác của nhân loại đều có khuynh hướng nâng cao đạo đức của con người. Chữ đạo đức ở đây, hiểu theo nghĩa triết học, tức là chữ nhân của Không Tử, chữ nhân ái trong đạo Phật, đạo Chúa, chữ lương tri trong triết học Kant, chữ lương thức[13] trong triết học hiện sinh. Chữ đạo đức này nằm trong mỗi lựa chọn của con người, đặc biệt nhà văn khi cầm bút. Nói khác đi, nhà văn trong tận cùng chiều sâu của tử tưởng, luôn luôn có tính cách nhân bản.

Vũ Trọng Phụng và Nguyên Hồng

Về Vũ Trọng Phụng, chính tôi cũng bị lầm, nên đã viết những bài khen ngợi quá đáng, sau này đọc lại thấy không đúng, phải rút xuống, không để trên mạng thuykhue.free.fr nữa.

Vũ Trọng Phụng nổi trội trong hai địa hạt: phóng sự và tiểu thuyết. Về phóng sự, trong chương Ngày Nay phóng sự tôi đã chứng minh: Phóng sự của Tam Lang và Vũ Trọng Phụng, dù viết rất sống động, lôi cuốn, nhưng hoàn toàn tưởng tượng (nói nôm na là bịa), nên không thể có giá trị như phóng sự điều tra thực thụ của Trọng Lang. Kết quả, những phóng sự này, vì tưởng tượng, nên sự tố cáo của nó cũng trở thành vô dụng: không ai tố cáo cái điều mình bịa ra.

Còn lại tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, mà hai cuốn tiêu biểu là Số đỏ Giông tố.

Số đỏ là cuốn tiểu thuyết hoạt kê, có tính sáng tạo. Trước hết, Vũ Trọng Phụng tạo ra hai câu nói đầu lưỡi của cậu Phước (con cầu tự): em chã, em chã, và của cụ cố Hồng (lẩm cẩm): biết rồi khổ lắm nói mãi, hết sức thần tình. Chỉ hai câu này cũng đã tả được bộ mặt lố lăng nham nhở của những nhân vật trong Số đỏ. Hoảng Hải Thủy sau này phổ biến ngôn ngữ Số đỏ thành một thứ “kinh-điển-bình-dân-ngôn-ngữ-miệng”.

Nhưng tư tưởng của tiểu thuyết Số đỏ là con dao hai lưỡi: Nếu chủ đề của nó chống lại xã hội lai căng thời Pháp thuộc, qua nhân vật chính Xuân tóc đỏ, ma cà bông, nhờ phong trào bình dân hô hào thể thao, may quần áo mốt, mà trở thành vô địch quần vợt và anh hùng dân tộc, thì Số đỏ còn có một phần giá trị.

Nhưng Số đỏ cũng đem những chủ trương canh tân của Tự Lực Văn Đoàn ra làm trò cười, thì lại khác: Vũ Trọng Phụng cổ vũ con đường bảo thủ, chống lại tất cả những hình thức tiến bộ mà Văn Đoàn này đề ra.

Còn lại tiểu thuyết Giông tố.

So sánh Bỉ vỏ của Nguyên Hồng với Giông tố của Vũ Trọng Phụng (hai tác phẩm chính của hai nhà văn hiện thực nổi tiếng, cả hai đều có nhiều tình tiết éo le) ta thấy nghệ thuật của Nguyên Hồng cao hơn Vũ Trọng Phụng rất nhiều.

Sự thăng trầm của Bính, người đàn bà bị hiếp dâm, trở thành con ăn cắp trong Bỉ vỏ, bám chặt tâm ta, bởi vì Bính rất thật, bởi vì Tám Bính sống lại những khổ đau bầm vập của cậu bé Nguyễn Nguyên Hồng từ những ngày thơ ấu.

Còn sự thăng trầm của Thị Mịch, cũng bị hiếp dâm trong Giông tố, khó tin ngay từ đầu:

Tại sao Nghị Hách, tối đó, trên đường về nhà, có mười một nàng hầu trẻ đẹp đang chờ, mà lại đi hiếp dâm Thị Mịch, cô gái gánh rạ bên đường? Hách bị bệnh cuồng dâm chăng, nên mới không “nhịn” được? Tại sao bệnh này không thấy tái phát lần nào nữa?

Nhân vật Nghị Hách xa rời thực tế, vì Việt Nam không có “loại” người nào như thế: Miền Bắc chỉ có một ông tỷ phú Bạch Thái Bưởi, được mọi người kính trọng. Còn các nghị viên chỉ làm bù nhìn, báo Phong Hóa Ngày Nay chế giễu suốt, vì họ không có quyền thế gì cả.

Tính cách ly kỳ quá đáng và hành động đầy sơ hở của Nghị Hách lại nhiều chỗ rất hề. Vũ Trọng Phụng vẽ chân dung các nhân vật bằng cách phóng họa, chứ ông không quan sát thực tế và sống với con người, để tạo thành nhân vật, như Nguyên Hồng.

Vũ Trọng Phụng còn theo quy luật huyết thống (rất cổ hủ): cha tồi sinh con tồi (Long là con Nghị Hách) cha hay sinh con hay (Tú Anh là con Hải Vân). Ta tưởng Vũ Trọng Phụng viết Giông tố để chống Pháp và chế độ thực dân, thực ra ông không chống Pháp: Ông dành cho viên Công sứ những hàng thầm kín khen ngợi. Tất cả xấu xa ông đánh vào đầu Nghị Hách: một viên trọc phú, dân biểu, hiếp dâm thị Mịch, trong một bối cảnh vô lý. Đoạn Hải Vân tố cáo cuộc đời tồi bại hai mươi nhăm năm trước của Nghị Hách, cũng được viết rất tuồng:

Nghị Hách còn đương trố mắt ngạc nhiên thì bỗng Tú Anh ngã lăn đánh huỵch xuống sàn gác. Cả bọn quay lại… Trên miệng Tú Anh thấy ứa ra một chén máu. Người ta không kịp để ý xem Tú Anh uất mà thổ huyết hay cắn lưỡi tự tử… Nghị Hách chạy lại đỡ Tú Anh dậy, thất thanh kêu:
– Con ơi!… Ối con ơi!…
Nhưng bà Nghị cong cớn:
– Con mày! Thôi đi! …Mày đừng có nhầm!”[14]

Những tình tiết khác trong Giông tố cũng được móc nối hời hợt như thế cả, cho nên Giông tố chỉ là một tiểu thuyết có tình tiết éo le, lôi cuốn, mà thôi.

Nam Cao và Nguyên Hồng

Tác phẩm chính của Nam Cao là Chí Phèo[15] trong đó ông vẽ chân dung Chí Phèo và Thị Nở hết sức độc đáo. Chí Phèo và Thị Nở trở thành biểu tượng của lớp người cùng đinh, bị xã hội khinh rẻ, đàn áp. Câu nói nổi tiếng của Chí Phèo “Ai cho tao lương thiện!” thường được dẫn chứng để cho thấy Chí Phèo phẫn uất, hung bạo, vì bị bóc lột tới cực điểm.

Thực ra, nếu đọc kỹ tác phẩm, ta sẽ thấy Nam Cao không có ý ấy:

Chí Phèo bị bỏ rơi từ thuở lọt lòng, một kẻ thả lươn lượm được, bán cho một người đàn bà goá mù, bà này bán lại cho một bác phó cối. Bác phó chết, Chí bơ bơ, đi ở hết nhà này đến nhà khác. Năm 20 tuổi, Chí làm canh điền cho bá Kiến, được vợ ba bá Kiến gọi lên xoa bụng, đấm lưng… Nghe đồn Chí bị tù, không biết bao lâu. Khoảng bảy, tám năm sau, Chí về làng, trở thành Chí Phèo, say rượu, rặch mặt, chửi đổng cả làng.

Cho tới đây, Nam Cao chưa cho ta thấy Chí Phèo bị ai áp bức gì cả, ngay chuyện đi tù, tác giả cũng lập lờ không cho biết lý do. Chỉ nghe đồn Chí tư tình với vợ ba, hoặc ăn cắp, hoặc cả hai, và xem kỹ ra Bá Kiến cũng không dây dưa gì đến chuyện Chí bị tù.

Giai đoạn hai, Chí Phèo về làng hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thit chó suốt từ trưa đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà bá Kiến gọi tận tên tục ra mà chửi“. Lý Cường, con trai bá Kiến đi về, thấy thế tát cho một cái. Hai bên đấm đá nhau. “Bỗng “choang” một cái… hắn đập cái chai vào cột cổng… Hắn vừa chửi vừa kêu làng như bị người ta cắt họng. Ồ hắn kêu!

– Ối làng nước ơi! Cứu tôi với… Ối làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó đâm chết tôi! Thằng lý Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!… Và họ thấy Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu, vừa lấy mảnh chai cào vào mặt. Máu ra loe loét trông gớm quá!

Màn này cho ta thấy rõ: Chí Phèo vừa đánh trống vừa ăn cướp. Những vết cào trên mặt hắn là do hắn tự làm. Không ai cào hắn. Bố con bá Kiến vô can.

Nhưng Bá Kiến khéo léo, biết dây với thằng khùng vô ích, nên thu xếp, cho hắn tiền, thỉnh thoảng sai hắn làm mấy việc mờ ám: đòi nợ hoặc đe dọa đánh đấm ai. Theo “nhận định” của Thị Nở khi nhìn Chí Phèo ốm nằm vật ra: “Muốn ác, phải là kẻ mạnh. Hắn đâu còn mạnh nữa… Xưa nay hắn chỉ sống bằng nghề giật cướp và dọa nạt. Nếu không còn sức mà dật cướp, dọa nạt thì ra sao?“, ta lại thấy rõ thêm “lối sống” của Chí Phèo: Hắn đàn áp người chứ hắn không bị người ta đàn áp.

Màn cuối cùng càng tỏ rõ bản chất của Chí Phèo. Lần này, hắn lại đến nhà bá Kiến sinh sự. Bá Kiến đã để sẵn năm hào để cho và chửi:

Rồi ném bẹt năm hào xuống đất, cụ bảo hắn:
– Cầm lấy mà cút đi đi cho rảnh. Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi à?
Hắn trợn mắt, chỉ tay vào mặt cụ:
– Tao không đến đây xin năm hào.
Thấy hắn toan làm dữ, cụ đành dịu giọng:
– Thôi cầm lấy vậy, tôi không còn hơn.
Hán vênh cái mặt lên, rất là kiêu ngạo:
– Tao đã bảo tao không đòi tiển
– Giỏi! Hôm nay mới thấy anh không đòi tiền. Thế thì anh cần gì?
Hắn dõng dạc:
Tao muốn làm người lương thiện!
Bá Kiến cười ha hả:
– Ồ tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ.
Hắn lắc đầu:
– Không được! Ai cho tao lương thiện! Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không! Chỉ có một cách… biết không!… Chỉ có một cách là… cái này! Biết không!…
Hắn rút dao ra, xông vào. Bá Kiến ngồi nhỏm dậy. Chí Phèo đã văng dao tới rồi. Bá Kiến chỉ kịp kêu một tiếng. Chí Phèo vừa chém túi bụi vừa kêu làng thật to.” [16]

Màn án mạng này soi rạng toàn diện con người Chí Phèo: chính hắn tự rạch mặt, rồi đổ vạ. Hắn lại còn hỏi: Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Như thể bá Kiến bắt hắn làm bậy, nên mới bị người ta chém nát mặt. Sự thực thì Chí Phèo thường đến nhà bá Kiến vòi tiền uống rượu. Lần này hắn dở chứng, không lấy tiền, mà giết bá Kiến.

Màn Chí Phèo giết Bá Kiến trên đây là một màn sát nhân vô cố, khác hẳn màn Năm Sài Gòn giết Ba Bay trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng: Năm Sài Gòn giết Ba Bay vì y cướp tay trên món mồi của y, mà trong giới anh chị, tội phản bội không tha thứ được. Năm cũng chỉ đòi cái ví tiền, nếu Ba Bay thả cái ví ra, chưa chắc đã chết.

Còn bá Kiến — dù có làm những việc ám muội — đối với Chí Phèo, vẫn là “ân nhân”. Không có chi tiết nào chứng tỏ bá Kiến đáng tội chết, và cũng không có bằng chứng nào cho thấy Chí Phèo bị bóc lột tàn nhẫn.

So sánh với Bỉ vỏ của Nguyện Hồng, riêng việc sát nhân thôi, Chí Phèo cũng không thể bằng Năm Sài Gòn: Năm giết người có lý do, còn Chí Phèo giết người không có lý do. Và làm sao so sánh Chí Phèo với Tám Bính được? Sự khác biệt là như thế: Tám Bính có lòng nhân ái, là nạn nhân của một gia đình độc ác, một xã hội mù loà, rơi vào tay bọn côn đồ, nhưng vẫn luôn luôn muốn ngoi lên để trở về với cuộc đời lương thiện.

Cho nên, nếu coi Chí Phèo là nhân vật tiêu biểu cho những người cùng đinh bị bóc lột là lầm.

Nhược điểm chính của Nam Cao là đây: Với Chí Phèo, ông mô tả sự tàn ác vô cố. Bởi không có lý do gì khiến Chí Phèo phải tàn ác. Y tàn ác, vì y khùng hoặc vì y lựa chọn như thế: Chí là một chàng lực điền, mạnh mẽ, có thể tìm được việc, có thể làm ăn lương thiện, nhưng y đã chọn sai đường, nên phải vào tù, rồi sau, y thích theo bá Kiến, thích làm việc ác. Thế thôi.

Trong truyện ngắn Nghèo[17], Nam Cao mô tả cảnh anh đĩ Chuột vì nghèo đói và ốm đau, treo cổ tự tử. Một hành động có thể hiểu theo hai nghĩa: hoặc anh hy sinh để vợ con sống còn, hoặc anh ích kỷ, chỉ muốn thoát thân, để vợ một mình, đương đầu với nghịch cảnh. Dù trong trường hợp nào, anh đĩ Chuột cũng chưa đến nỗi phải tự hủy như thế, vì anh vẫn còn có vẻ “khoẻ mạnh”, tức là anh vẫn ăn cơm được, vẫn đi lại được. Nhược điểm ở đây là thiếu quan sát và không xác định được lý do tự tử.

Trong truyện ngắn Trẻ con không được ăn thịt chó[18] Nam Cao trình bày một người cha tàn ác, ích kỷ, tồi bại, thèm rượu, bẫy giết con chó nhà, rồi mời bạn đến đánh chén, nhưng nhẫn tâm ăn nhẵn hết cả một con chó mà không để lại một miếng cho vợ con, đang đói, chờ dưới bếp. Không hiểu tác giả muốn nói gì với truyện ngắn này?

Truyện ngắn Cái chết của con Mực[19] hoàn toàn vô luân: người con cả là Du, đi xa, sắp về, bà mẹ quyết định để dành con chó Mực (mà Du là chủ cũ của nó) làm tiệc mừng. Nam Cao tả tỷ mỷ việc giết con Mực: phải dụ nó, bẫy nó, đánh đập tàn nhẫn đến ba lần trong hai ngày (vì nó thoát ra được) với những hình ảnh cực kỳ dã man, mới giết được con Mực. Chủ, con ở và lũ trẻ đều góp phần vào cuộc hành hạ, sát sinh con vật trung thành, không ai có chút động lòng. Nhưng kinh hoàng nhất là chính Du cũng có ý tưởng quái đản này: “Sau cùng thì chàng bực mình: chàng nhận thấy rằng một con chó đã làm mất sự bình tĩnh của tâm hồn chàng. Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người. Phải dám giết mà không run tay khi cần phải giết. Còn làm được trò gì nữa nếu chỉ giết một con chó mà tim cũng đập[20]

Có thể vì thế mà Vũ Ngọc Phan không đưa Nam Cao vào bộ Nhà văn hiện đại. Dù sao chăng nữa, chúng ta cũng nên tương đối hóa giá trị hiện thực của Nam Cao, bởi vì ông đã viết những đoạn văn dã man vô cố.

Nguyên Hồng có truyện ngắn Con chó vàng (in trong tập Những ngày thơ ấu) hay vô cùng. Ông thuật truyện hai đứa trẻ ăn cắp, thằng Điều và thằng Tý, theo dõi một ông già ăn mày mù, để cướp cái bị quần áo có gói tiền. Nhưng chúng không thể hành sự được vì con chó vàng dắt chủ đi ăn xin rất khôn ngoan, không cho ai đến gần chủ nó để giật cái bị. Nó can trường bảo vệ chủ đến cùng, đến khi nó bị bọn ăn cắp đánh bả chết. Ông già mù khóc nấc lên, nằm lăn bên xác chó, cái bị cũng lăn ra. “Một luồng khí lạnh chạy ran khắp người Điều. Điều run cầm cập lùi dần bước. Thì nhanh như cắt, Tý sáu đến cướp cái bị“. Linh hồn con chó đã đột nhập vào thằng ăn cắp, chạy ran khắp người nó, bắt nó phải tức thời xám hối.

Vì vậy, tôi xin nói lại một lần nữa: Tính nhân bản trong tác phẩm của Nguyên Hồng nổi trội hơn tất cả các tác giả hiện thực khác, cùng thời.

Việc đề cao quá đáng một số tác giả như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài… và không nhận diện đúng mức những tác phẩm có giá trị của Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Bùi Hiển… là rất đáng tiếc. Chưa kể những tác phẩm “ngoài lề” như tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, viết về những ngày sôi bỏng Hà Nội đào hầm sửa soạn chiến tranh, trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội và kịch Những người ở lại, cũng của Nguyễn Huy Tưởng nói lên suy tư của những trí thức lựa chọn ở lại trong thành.

Vấn đề ở đây là vẫn theo lối mòn, đề cao văn học hiện thực phê phán mà Nguyễn Công Hoan là chủ soái. Không phân biệt giá trị hay dở của tác phẩm, tác giả. Đánh đồng các nhà văn có trình độ khác nhau. Co cụm lại trong một số tên tuổi được “chính thức” công nhận. Bỏ qua những mảng văn học lớn như Tự Lực Văn Đoàn, Văn học miền Nam.

Đất nước thống nhất đã gần nửa thế kỷ, chúng ta cần chấn chỉnh lại cách làm văn học, thì mới mong có được cái nhìn toàn diện về văn học Việt Nam, một nền văn học cực kỳ đa dạng với với những tác giả và tác phẩm giá trị.

(Còn tiếp)

Thụy Khuê
thuykhue.free.fr


[1] In trên Ngày Nay số 32 (1-11-36) và số 33 (8-11-36), 34 (15-11-36), 35 (22-11-36).

[2] Chồng Con, nxb Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2000, trang 77.

[3] Chồng Con, trang 111.

[4] Chồng Con, trang 197.

[5] Chồng Con, trang 268.

[6] Cùng giải với kịch Kim tiền của Vi Huyền Đắc và tập thơ Tâm hồn tôi của Nguyễn Bính được khuyến khích (NN số 80, 10-10-37).

[7]Tết trong trại “trẻ con”, NN số 96 (30-1-38); Cơm tây… một xu, NN số 97 (18-2-38); Tại sao tôi viết Bỉ Vỏ, NN số 104 (3-4-1938); Hai nhà nghề, NN số 122 (7-8-38); Bài tường thuật Khương Hữu Tài diễn thuyết (về truyện Kiều), NN số 131 (8-10-38); Những ngày thơ ấu, in từ NN số 133 (22-10-38) đến số 140 (10-12-38); Tết của người đi đầy, NN số 149, Báo Xuân (15-2-39).

[8] Tức là bản Hồn bướm mơ tiên, in lần đầu năm 1933. Bản này chỉ có tám chương. Khi tái bản, Khái Hưng đã sửa lại câu văn và tăng thành 9 chương.

[9] Nguyễn Thạch Kiên, Đốt lò hương ấy…, in trong tập Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, cuốn 1, nxb Phượng Hoàng, Cali, 1997, trang 16-17.

[10] Mi-nơ tiếng Pháp là mineurs, trẻ vị thành niên

[11] Lời giới thiệu Những ngày thơ ấu của Thạch Lam, trên NN số 133 .

[12] Chúng tôi dùng bản Bước đường viết văn in năm 1970 của nhà xuất bản Văn Học, in lại trong bộ sưu tập Những tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh, từ trang 1108 đến trang 1365, tài liệu của Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.

[13] Chữ conscience tiếng Pháp có hai nghiã: lương tâmý thức. Sartre chủ trương: ta phải vận hành cả lương tâm lẫn ý thức trong mỗi lựa chọn. Điều này ngụ ý ta không thể chọn cái ác. Và đó là giá trị đạo đức của triết học hiện sinh, mặc dù Sartre vô thần.

[14] Giông tố, Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tập I, nxb Văn Học, Hà Nội, 1996, trang 477.

[15] Chí Phèo, tên cũ là Đôi lứa xứng đôi, nxb Đời Mới, 1941, in lại trong Tuyển tập Nam Cao, tập I, nxb Văn Học, Hà Nội, 1987.

[16] Chí Phèo, Tuyện tập Nam Cao, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1987, tập I, trang 130-131.

[17]Nghèo ký tên Thúy Rư, in trên Tiểu thuyết thứ bày, số 158 (5-6-37), in lại trong Tuyển tập Nam Cao, tập I, trang 73).

[18] In trên Tiểu thuyết thứ bảy, số 444 (19-12-42), in lại trong Tuyển tập Nam Cao, tập I.

[19] Ký tên Xuân Du, in trên Hà Nội Tân Văn (14-5-40), in lại trong Tuyển tập Nam Cao, tập I.

[20] Cái chết của con Mực, Tuyển tập Nam Cao, tập I, nxb Văn Học, Hà Nội, 1987, trang 95.

bài đã đăng của Thụy Khuê

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)