Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định, Phê Bình, Tự Lực Văn Đoàn- Phong Hóa- Ngày Nay Email bài này

Tự Lực Văn Đoàn Văn học và cách mạng (43)

0 bình luận ♦ 17.11.2021

Đời sống cách mạng Việt Nam ở Trung quốc

Chúng ta có rất ít tài liệu tin được viết về đời sống của các nhà cách mạng sống bên Trung Hoa trong giai đoạn 1940-1945, như thể có một bức màn che đậy, hình như những người trong cuộc cả hai bên quốc cộng đều không muốn nói rõ tình hình.

Nghiêm Kế Tổ (cùng Vũ Hồng Khanh) là đảng viên kỳ cựu của Việt Nam Quốc Dân Đảng, trốn sang Tàu sau khởi nghĩa Yên Bái, đến 1945 mới về nước. Ông viết cuốn Việt Nam máu lửa (Mai Lĩnh, 1954) về giai đoạn lịch sử 1945-1954, nhưng hầu như không nhắc đến thời kỳ 16 năm hoạt động ở Trung Hoa.

Nguyễn Tường Tam không viết lịch sử, mãi sau này trong tiểu thuyết Giòng Sông Thanh Thủy, Nhất Linh gián tiếp lên án những bạo lực của hai bên trong thời kỳ cách mạng.

Hoàng Văn Đào, trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, là nhân chứng bên phía quốc gia hiếm hoi viết về giai đoạn này, nhưng cần phải có một nhân chứng của bên Việt Minh để đối chất, thì mới có thể so sánh để tìm hiểu sự thật.

Hồi ký Những năm tháng ấy của Võ Nguyên Giáp có rất ít điều tin được.

Cuối cùng Hoàng Văn Hoan [1] là người viết rất kỹ về lịch sử đảng Cộng sản từ khi mới ra đời, và đặc biệt thời kỳ hải ngoại của Hồ Chí Minh trong cuốn hồi ký Giọt nước trong biển cả, do Nhóm tìm hiểu lịch sử, in năm 1991, tại Hoa Kỳ.

Giai đoạn mà chúng tôi đề cập đến ở đây là giai đoạn Hồ Chí Minh bị giam ở Liễu Châu [một huyện ở phía bắc tỉnh Quảng Tây] cùng với Nguyễn Tường Tam, cũng là thời kỳ “bí mật” nhất, vì thiếu thông tin, nên mọi người thường tìm cách chắp vá những mảnh vụn.

Là người trung thành với chủ tịch Hồ Chí Minh, có mặt ở Liễu Châu trong thời kỳ này và đã sống nhiều năm trên đất Trung Hoa, Hoàng Văn Hoan cho biết ông đã tham khảo “một số tài liệu gốc của Quốc Dân Đảng Trung Quốc về các hoạt động của Hồ Chủ tịch khi ở Liễu Châu năm 1942-1943, việc Hồ Chủ tịch gặp Tư lệnh không quân Mỹ Chen-nớt-tơ [Chennault] và các hoạt động khác ở Côn Minh năm 1945…”[2]

Phần Thứ Tư của tác phẩm Giọt nước trong biển cả, ông dành chương III: Hồ Chủ Tịch bị bắt ở Trung Quốc và những hoạt động của Người và chương IV: Hồ Chủ Tịch đi Côn Minh gặp Tư lệnh không quân Mỹ, để viết về, hầu như, toàn bộ hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn lưu vong 1942-1945.

Những điều Hoàng Văn Hoan viết về giai đoạn này, không thấy có ở đâu, và nếu so sánh với những chi tiết thấy trong sách Việt Nam Quốc Dân Đảng của Hoàng Văn Đào và hồi ký của Như Băng, đều ăn khớp.

Ông đề cao công lao của Hồ Chí Minh, trong những ngày ở Liễu Châu. Ông nói lên chủ đích, hành động và sự thành công của nhà lãnh đạo với những chi tiết đắt giá về tài liệu.

Tổng hợp thông tin trong sách của Hoàng Văn Đào và Hoàng Văn Hoan, ta biết thêm về giai đoạn đầu tiên ở Trung quốc, hai bên quốc cộng tuy có chống nhau, nhưng chưa thực thụ chia rẽ, mà còn cộng tác.

Trong phần thứ hai của chương này, chúng tôi dùng những bài viết của Nguyễn Tường Tam, Hồ Lễ và Đỗ Tốn trên báo Việt Nam, số 64, (30-1-1946) Tết Bính Tuất, để tìm hiểu đời sống các thanh niên cách mạng quốc gia, họ đã trốn cuộc ruồng bắt của an ninh Pháp những năm 1940-1941, như thế nào, họ trốn đi bằng phương tiện gì và sống như thế nào trên đất khách.

***

Phần thứ nhất: Liễu Châu 1942-1944

Hồ Chí Minh đi Trung quốc

Một số câu hỏi thường được đặt ra: Tại sao Hồ Chí Minh đi Trung quốc vào thời điểm ấy? Tại sao ông bị bắt? thường không tìm được câu trả lời thoả đáng. Vần đề Hồ Chí Minh gia nhập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, mỗi người bàn một cách, dường như mỗi người cũng chỉ nắm được một mẩu, không thể có cái nhìn toàn diện bằng Hoàng Văn Hoan.

Trong Giọt nước trong biển cả, ông vừa thuật, vừa giải, một cách mạch lạc rõ ràng, khiến chúng ta hiểu rõ hơn, không những hoạt động của Việt Minh, mà còn về cả tình hình chung của cách mạng Việt Nam ở Trung Hoa lúc bấy giờ.

Trước hết, ông viết về lý do tại sao Hồ Chí Minh đi Trung Quốc năm 1942:

Sự thật là sau hơn một năm lãnh đạo công tác ở Cao Bằng, Việt Minh đã phát triển rộng trên khắp các tỉnh Việt Bắc, cuộc chiến tranh chống phát xít trên thế giới cũng phát triển nhanh chóng, Hồ Chủ tịch thấy cần phải đi Trùng Khánh gặp Tưởng Giới Thạch và bà Tống Khánh Linh, Chủ tịch “Phân hội Phản xâm lược của Đồng minh Trung Quốc” để đặt mối quan hệ chính thức với phía Trung quốc, một trong năm nước lớn Đồng Minh chống phát xít.
Ngày 20-8-1942, anh Lê Quảng Ba đưa Bác đi từ Pác Bó đến biên giới Trung Quốc, rồi xếp đặt một đồng chí Trung Quốc đưa Bác đi, còn anh thì lại trở về nước. Khi đến phố Túc Vinh thuộc chuyên khu Thiên Bảo tỉnh Quảng Tây thì Bác bị bắt.
[3]

Sau đó ông cho biết: Hồ Chí Minh bị bắt ngày 2-9-1942 trên quãng đường giữa TịnhTây đến Thiên Bảo (trang 236); ông cũng nói rõ việc đi Trùng Khánh của Hồ Chí Minh là có một danh nghiã, một chủ đích rõ ràng:

Bác đi Trùng Khánh với danh nghĩa là đại biểu “Phân hội Phản xâm lược đồng minh Việt Nam” đi gặp Tưởng Uỷ viên trưởng [Tưởng Giới Thạch] để tỏ lòng tôn kính và gặp người phụ trách “Phân hội Phản xâm lược đồng minh Trung quốc [Tống Khánh Linh] để thương lượng công việc chống Nhật. Với danh nghiã như vậy, thì đáng lẽ Trung quốc đang chống Nhật thì phải tiếp đãi thân mật và hết sức giúp đỡ, nhưng trái lại, đương cục địa phương lại lấy cớ giấy tờ không hợp lệ, tuỳ tiện bắt giải đi như một người tù mà chẳng cần xét hỏi gì cả.[4]

Phân hội Phản xâm lược đồng minh Việt Nam là do Hồ Chí Minh tạo ra, phỏng theo Phân hội Phản xâm lược đồng minh Trung Quốc do bà Tống Khánh Linh lãnh đạo. Lúc đó Nhật là kẻ thù của Tàu, và Nhật ở trong trục Đức, Ý, Nhật. Hồ Chí Minh lập ra “Phân hội” này theo khẩu hiệu chống Nhật với chủ ý chính trị làm đẹp lòng đồng minh, nhất là Tưởng Giới Thạch.

Xin nhắc lại, lúc ấy Tưởng Giới Thạch làm chủ nước Trung Hoa, cường quốc thứ tư thế giới, đóng đô ở Trùng Khánh, Mao Trạch Đông chưa có thanh thế gì. Muốn có sự hậu thuẫn để chống Pháp, cách mạng Việt Nam phải dựa vào sự giúp đỡ của Tưởng Giới Thạch. Về phiá quốc gia, sự giúp đỡ này là tự nhiên, vì Việt Nam Quốc Dân Đảng theo chủ nghiã Tam dân của Tôn Dật Tiên. Về phiá Việt Minh, mọi chuyện phức tạp hơn, muốn được sự giúp đỡ của Tưỏng Giới Thạch, Hồ Chí Minh phải tỏ ra là người không cộng sản, và hết sức chống Nhật.

Việc Hồ Chí Minh bị bắt, chỉ vì lúc ấy, ông chưa nổi tiếng, cảnh sát địa phương Trung Hoa chưa biết ông là ai, họ bắt vì giấy tờ không hợp lệ.

Theo Hoàng Văn Hoan, mãi đến tháng 10-1942, Tỉnh Uỷ Cao Bằng mới biết và vận động “các đoàn thể dân chúng và kiều bào hải ngoại liên danh viết thư đòi phía Trung quốc tha ngay nhà cách mạng lão thành Việt Nam đang lãnh đạo phong trào chống Nhật, một mặt phái anh Hoàng Đình Ròng đến biên giới lấy danh nghiã Phân hội Phản xâm lược đồng minh Việt Nam đánh điện cho Tôn Khoa, Viện trưởng viện lập pháp Trung Quốc yêu cầu tha ngay Hồ Chủ tịch.”[5]

Hoàng Văn Hoan viết tiếp là ông Tôn Khoa có can thiệp với Trùng Khánh và Trùng Khánh ra lệnh cho Trương Phát Khuê [Tư lệnh quân khu bốn] xử lý việc này, nhưng lúc đó, Hồ Chí Minh đang bị giải đi trên đường Đồng Chính-Nam Ninh, nên Trương Phát Khuê không tìm ra manh mối. Việc này chưa chắc đã xẩy ra như thế, bởi vì lúc đó Hồ Chí Minh chưa phải là nhân vật nổi tiêng.

Hoàng Văn Hoan gửi một bức thư cho Thông tấn xã Trung Quốc, đề ngày 15-11-1942.

Khi các thông tấn xã ở Trùng Khánh nhận được bức thư này thì Hồ Chủ Tịch đã bị giải đến Quế Lâm, nhưng qua một thời gian mấy tháng, Quế Lâm vẫn không điều tra ra manh mối, nên lại giải về cho Quân Khu bốn ở Liễu Châu để Quân Khu bốn xử lý. Quân khu bốn coi Hồ Chủ Tịch là một người tình nghi chính trị, giữ lại ở chỗ giam quân nhân, nhưng cung cấp ăn uống đầy đủ, được đọc sách báo và không bắt phải làm khổ công. Tháng 7-1943, Quân khu bốn quan sát biết là một nhân vật hoạt động quốc tế, Trương Phát Khuê liền chuyển về Bộ chính trị Quân khu và giao cho tướng Hầu Chí Minh, phụ trách việc “cảm hóa.[6]

Những điều này hoàn toàn phù hợp với lời kể của Như Băng trong hồi ký (xem chương Những ngày sóng gió): Hồ Chí Minh được biệt đãi, ở phòng riêng, trong khi Nguyễn Tường Tam ở chung phòng với Đỗ Tốn và hai người khác.

Hoàng Văn Hoan viết tiếp:

Đối với Hồ Chủ tịch, Hầu Chí Minh tỏ vẻ kính nể, thường cùng ngồi ăn uống và trò truyện rất bình đẳng, nhưng tìm hiểu về thân phận thì Hồ Chủ tịch cự tuyệt, không trả lời. Sau do sự phát giác của một nội tuyến (nội tuyến đây là tên phản đảng Trần Bảo) thì mới biết rõ Hồ Chí Minh là Lý Thụy, là Nguyễn Ái Quốc, là Hoàng Quốc Tuấn, là lãnh tụ cộng sản và lãnh tụ Việt Minh (trang 237).

Việc này cũng phù hợp với việc không ai biết Hồ Chí Minh là ai, bởi vì chính ông giấu vết tích cộng sản của mình. Hoàng Văn Hoan xác định lại một lần nữa sự ưu đãi này với chứng cớ bằng văn bản:

Trong bản báo cáo của Trương Phát Khuê gửi Trung Ương Quốc Dân Đảng hồi tháng 1- 1944 có đoạn nói: “Hồ Chí Minh từ lúc rời đến bộ Chính trị Quân khu vẫn được ưu đãi và được cảm hóa với một thái độ kính nể.” Lúc đó Trương Phát Khuê đã có ý định tha Hồ Chủ Tịch về Việt Nam[7].

Đó là tình hình của Hồ Chí Minh giữa năm 1943, qua sự tường thuật của Hoàng Văn Hoan.

Việc thành lập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội

Đến đây, Hoàng Văn Hoan đi ngược thời gian, trở lại việc thành lập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, năm 1942, lúc đó Hồ Chí Minh mới bị bắt ở Tịnh Tây:

Sau khi hai người Việt Nam Quốc Dân Đảng là Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ, được Trùng Khánh làm hậu thuẫn, từ Côn Minh đến Liễu Châu, thì Quân khu bốn chuyển hướng, chuẩn bị thành lập Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội với ý định hoàn toàn gạt Việt Minh ra ngoài.
Ngày 1-10-1942, Đại hội thành lập Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Cách) chính thức khai mạc ở Liễu Châu. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm bẩy người là: Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Trần Báo, Nông Kinh Du, Trương Trung Phụng; mà Uỷ viên thường vụ là Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh. Xem danh sách thì Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần có địa vị cao, sự thực thì Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ là người của Trùng Khánh, nắm ưu thế
[8].

Xin nhắc lại: Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ, là hai đảng viên kỳ cựu của Quốc Dân Đảng, đã chạy thoát sang Trung Hoa sau khởi nghiã Yên Bái. Họ được học quân sự ở Trung Hoa, có trách nhiệm và chức vụ trong hàng ngũ Quốc Dân Đảng Trung quốc, nên Hoàng Văn Hoan coi họ là “người của Trùng Khánh”, có thế lực hơn những nhà cách mạng khác.

Những thông tin về việc thành lập Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội và danh sách Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất, do Hoàng Văn Hoan cung cấp trên đây ăn khớp với những gì Hoàng Văn Đào viết, chỉ trừ ngày khai mạc, Hoàng Văn Đào ghi là 10-10-1942 và cho biết lý do quyết định lập Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, như sau: Tưởng Giới Thạch thấy tình hình cách mạng Việt Nam lưu vong phức tạp vì có nhiều đảng phái quá không thể trợ cấp riêng từng trường hợp được, nên ông giao cho Trương Phát Khuê quy tụ lại thành một tổ chức duy nhất, đó là: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội [9].

Lúc đó những đảng phái theo Việt Minh, ở Trung quốc cũng nhiều, nhưng không dám để lộ danh tính cộng sản. Khi Hồ Chí Minh được đưa về Liễu Châu, Hoàng Văn Hoan viết:

Một văn phòng của Đại biểu chỉ đạo [Đồng Minh Hội] được thành lập do Tiêu Văn làm Chủ nhiệm.
Tiêu Văn trao đổi ý kiến với Hồ Chủ Tịch về việc muốn triệu tập một cuộc đại hội để chỉnh đốn Việt Cách bằng cách đưa một số người mới vào ban lãnh đạo, trong đó có Hồ Chủ tịch
.[10]

Điều này chứng tỏ Tiêu Văn không biết Hồ Chí Minh là cộng sản, mặc dầu ông đã bị Trần Bảo tố giác. Hoặc Tiêu Văn không để ý, hoặc đối với ông việc ấy không quan trọng.

Hoàng Văn Hoan viết:

Hội nghị Đại biểu họp tại Liễu Châu từ ngày 25 đến ngày 28-3-1944, gồm 15 đại biểu các đoàn thể, trong đó có đại biểu hội giải phóng ở Vân Nam là Lê Tùng Sơn vốn đã theo Việt Minh, đại biểu Biệt Động Quân ở Nam Ninh là Nguyễn Thanh Đồng cũng là Việt Minh, đại biểu đảng Đại Việt là Nguyễn Tường Tam và đại biểu “Phân hội Phản xâm lược đồng minh Việt Nam” là Hồ Chí Minh [11].

Đây cũng là một tài liệu hiếm hoi vì Hoàng Văn Hoan viết rõ tên một số đại biểu tham dự đại hội, và ông nhận xét: “Những đoàn thể có đại biểu đến tham dự hội nghị lần này, trước kia không có chân trong Việt Cách“, câu này chủ ý chỉ Nguyễn Tường Tam và Hồ Chí Minh.

Hoàng Văn Hoan viết tiếp:

Kết quả việc chỉnh đốn lần này là: Trước kia bẩy người trong Ban chấp hành Trung ương có Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nông Kinh Du, thì bây giờ ba người này chỉ ở trong Ban giám sát, ba người mới được thay vào là Lê Tùng Sơn, Bồ Xuân Luật và Trần Đình Xuyên. Hồ Chủ Tịch và Nguyễn Tường Tam được bầu làm Ủy viên Trung ương dự khuyết. Sau một thời gian, Trần Đình Xuyên bị gạt. Hồ Chủ tịch được trở thành Uỷ viên Trung ương chính thức. Thế là Hồ Chủ tịch đã có một địa vị vững chắc trong Việt Nam cách mạng đồng minh hội [12].

Danh sách mới này cũng đúng với danh sách Hoàng Văn Đào, tuy giọng hai bên khác nhau, Hoàng Văn Hoan viết rõ ràng hơn Hoàng Văn Đào.

Tóm lại: Tháng 10-1942, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, được thành lập với ban chấp hành đầu tiên, lúc đó, Hồ Chí Minh và Nguyễn Tường Tam chưa có mặt ở Liễu Châu.

Tháng 3-1944, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, được “cải tổ”, bầu lại, thêm nhiều đại diện mới, lần này Hồ Chí Minh và Nguyễn Tường Tam được bàu làm Uỷ viên Trung ương.

Chủ trương về Việt Nam của Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội

Hoàng Văn Đào viết:

Thời cuộc biến chuyển mau lẹ, cuối năm 1943, VNCMĐMH phát động phong trào tuyên truyền cổ động cho tổ chức vào nội địa Việt Nam; đồng thời thiết lập trạm giao thông liên lạc ở biên khu để thu lượm tin tức và tuyên truyền VNCMĐMH vào quốc nội.
Trước hội nghị, mọi yếu nhân các đảng phái quốc gia đều làm ngơ, không biết lợi dụng cơ hội đó để phát triển cơ sở, lợi dụng thế đồng minh lãnh trách nhiệm, phái cán bộ về nội địa phối hợp với các đồng chí để hoạt động mà mọi người đương mong đợi từ lâu.
Trước hội nghị duy có ông Hồ Chí Minh giơ tay xin xung phong. Ông Hồ liền được cấp đầy đủ giấy tờ và công tác phí là 20 vạn quốc tệ với 20 thanh niên cán bộ, do ông Hồ tự ý lựa chọn những phần tử để điều khiển, mà hầu hết là đảng viên VNPHĐMH [Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội].
[13]

Hoàng Văn Đào không viết rõ ngày Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội họp hội nghị để bàn chuyện “vào nội địa Việt Nam“, nhưng chắc chắn là sau đại hội bàu lại Ban chấp hành, vì đã có Hồ Chí Minh tham dự, vậy đại hội này xẩy ra sau tháng 3-1944.

Hoàng Văn Đào viết rất rõ :”mọi yếu nhân các đảng phái quốc gia đều làm ngơ (…).duy có ông Hồ Chí Minh giơ tay xin xung phong”, và ông đã thẳng cánh chỉ trích những người lãnh đạo quốc gia, trong đó có Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam, không biết lợi dụng cơ hội đó để phát triển cơ sở, việc Hồ Chí Minh giơ tay xin xung phong đã giúp ông thành công trong sự nghiệp cách mạng.

Hoàng Văn Hoan không ở trong phòng họp nên không biết chuyện này, lúc đó ông đã về Việt Nam, ông dựa vào tài liệu của Quốc Dân Đảng Trung Hoa để cho những thông tin khác:

Ngày 9-8-1944, Hồ Chủ tịch được Trương Phát Khuê để cho hoàn toàn tự do để chuẩn bị về nước.
Trước khi về nước Hồ Chủ tịch dự thảo kế hoạch công tác và một số yêu cầu viện trợ cụ thể đưa Trương Phát Khuê. Kế hoạch công tác là xây dựng hai căn cứ địa du kích ở dọc biên giới tương đối gần nhau để có thể dễ bề liên lạc. Hai căn cứ địa cần độ 600 khẩu súng; ngoài ra còn cần 400 khẩu súng nữa để tổ chức một số tiểu đội, động thì đánh du kích, tĩnh thì làm vũ trang tuyên truyền. Về kinh phí thì xin cấp cho hai vạn năm nghìn tiền Đông Dương để chi phí về tiền ăn trong hai tháng đầu và một số tiền Trung Quốc đủ dùng trong lúc đi đường từ Liễu Châu về đến Việt Nam.

Về phần cá nhân, Hồ Chủ tịch yêu cầu mấy việc như sau:

1- Yêu cầu Trương Phát Khuê viết một bức thư gửi các đoàn thể yêu nước Việt Nam.
2- Yêu cầu có một thư uỷ nhiệm của Trung Ương Việt Cách phái Hồ Chủ tịch về nước cộng tác.
3- Yêu cầu cho một bản địa đồ Việt Nam dùng cho quân sự.
4- Yêu cầu Trương Phát Khuê cho một chứng minh thư dài hạn để tiện việc đi lại.
5- Xin một số tài liệu tuyên truyền như quyển Tội ác giặc Nhật
[14] và môt số tranh ảnh.
6- Xin một khẩu súng nhỏ để tự vệ.
7- Xin một ít kinh phí cần thiết cho cá nhân trong buổi đầu.

Sau khi nhận được kế hoạch công tác và yêu cầu về cá nhân, Trương Phát Khuê liền cấp cho:
– Một cái hộ chiếu dài hạn để tiện cho việc đi lại, các thứ giấy tờ cần thiết khác và một số thuốc chữa bệnh.
– Bẩy vạn sáu nghìn tiền Trung Quốc.
Đến như số kinh phí để xây dựng căn cứ địa và một số tiểu đội du kích thì còn nghiên cứu chưa cung cấp ngay.
Ngày 20 tháng 9 năm 1944, Hồ Chủ tịch cùng 18 cán bộ rời Liễu Châu qua Long Châu, Tịnh Tây, Bình Mãnh về Cao Bằng” [in đậm trong nguyên bản
][15].

Những thông tin này rất quý giá, có lẽ ông chép thẳng trong hồ sơ của Quốc Dân Đảng Trung quốc. Hoàng Văn Đào cho biết thêm: “Sau khi Hồ Chí Minh trở ra biên khu, Nguyễn Tường Tam cũng rời bỏ Liễu Châu, trở lên Côn Minh (Vân Nam) liên kết với Hải ngoại bộ VNQDĐ[16].

Trong chương IV, kế tiếp, tựa đề : Hồ Chủ Tịch đi Côn Minh gặp Tư lệnh không quân Mỹ, Hoàng Văn Hoan viết về việc Hồ Chí Minh đi Côn Minh (Vân Nam) cuối năm 1944, gặp tướng Chen-nớt-tơ (Chennault) Tư lệnh không quân Mỹ ở Vân Nam. Hồ Chí Minh nói với vị tướng Mỹ: “Các tổ chức chống Nhật ở Việt Nam đều gia nhập mặt trận Việt Minh” và “Hiện nay tổ chức chống Nhật ở Việt Nam phát triển rất rộng. Nếu Mỹ giúp vũ khí đạn dược và phương tiện thì Việt Nam sẽ có lực lượng nhiều hơn để đánh phá quân Nhật“.

Đây cũng là một chương quan trọng trong hồi ký lịch sử Giọt nước trong biển cả của Hoàng Văn Hoan.

***

Phần thứ hai: Số phận một số thanh niên trốn sang Tàu

Từ Việt Nam sang Trung quốc, có ba tuyến đường chính:

– Phía tây bắc, đi lối Lào Cai, Hà Giang sang Vân Nam.

– Phía đông bắc, đi lối Cao Bằng, Lạng Sơn, sang Quảng Tây.

– Phía biển đông, từ Hải Phòng đi tàu sang Quảng Châu (thủ phủ của Quảng Đông).

Ở thời điểm 1940, khi quân Nhật đã chiếm một phần nước Tầu và đang cầm chân quân Pháp tại Việt Nam, việc sang Tàu bằng đường biển do Nhật đảm bảo, đi từ Hải Phòng sang Quảng Châu. Nước Tàu lúc đó chia ra từng vùng: Tầu và Nhật. Riêng Quảng Châu, thủ phủ tỉnh Quảng Đông có sông Châu Giang, có khúc chia hai: một bên là Tàu, một bên là Nhật. Những người Việt Nam mới trốn sang Tàu, ở vùng thuộc Nhật. Họ tìm cách sang sông qua phía Tàu, để lên Liễu Châu, miền bắc Quảng Tây, nơi có nhiều nhà cách mạng Việt Nam tụ tập.

Những câu chuyện dưới đây kể về việc trốn sang Tàu cùa một số thanh niên theo Đại Việt Dân Chính và Việt Nam Quốc Dân Đảng, là hai đảng chủ trương chống Pháp, thân Nhật. Vị trí của họ thật bấp bênh, bởi vì Nhật là kẻ thù của Tàu.

Họ nhờ Nhật giúp đỡ để rời Việt Nam. Nhưng sang đến đất Tàu, họ lại tìm cách trốn sang vùng Tưởng Giới Thạch để nhờ sự giúp đỡ của Tưởng Giới Thạch cũng như Hồ Chí Minh. Vì vậy, khi đến Liễu Châu, họ bi bắt giam bởi vì đi từ vùng Nhật sang, Nguyễn Tường Tam bị bắt trong trường hợp đó.

Những thanh niên Việt đến Quảng Châu, rồi tìm cách đi Liễu Châu. Tới nơi bị giam nhiều tháng. Khi được thả, lại theo đường bộ từ Liễu Châu trở về Việt Nam. Một hành trình gian nan mà vô ích, vì không làm được việc gì, đã gây những rạn nứt sâu xa trong lòng những thanh niên yêu nước còn quá trẻ.

Trên báo Việt Nam, số 64, 30-1-1946, Tết Bính Tuất, đặc biệt có ba bài viết về tình trạng trốn sang Tàu của một số thanh niên vì sự ruồng bắt của Pháp:

– Tết đầu tiên ở hải ngoại của Nguyễn Tường Tam, viết về nơi trú ẩn của ông ở Quảng Châu, cùng với 12 đồng chí, tại trụ sở của đảng. 12 người chỉ có 4 người sống sót trở về nước.

– Những ngày phiêu bạt của Hồ Lễ, kể lại chuyến đi từ Hải Phòng sang Quảng Châu tháng tám năm 1941, của nhóm Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ba ngày sau, tầu cập bến Hoàng Phố (một hải cảng của Quảng Đông). Ít lâu sau, trốn lên Liễu Châu, bị bắt giam hơn bốn tháng. Được tha, trốn về Nam Ninh, vào học trường quân sự. Khi Nhật tấn công Quảng Tây, được chính phủ Trung Hoa cấp giấy phép cho trở về nước. 9 người ra đi còn lại 5.

Ả Hẩu của Đỗ Tốn, mô tả những ngày ở Quảng Châu năm 1941, rồi trốn lên Liễu Châu bị bắt giam hơn bốn tháng, sau đó một mình trốn về nước. 9 người ra đi từ Quảng Châu còn lại 3.

Ba truyện ngắn này, có tính cách nghệ thuật và lịch sử, giúp ta chọc thủng tấm màn bí mật, để biết rõ hơn về một thời kỳ tối tăm, mà ta có rất ít tin tức tin được, để hiểu rõ lịch sử Việt Nam.

Tết đầu tiên ở hải ngoại của Nhất Linh

Trong chương trước, chúng tôi đã xác định Nhất Linh sang Tầu vào khoảng đầu tháng 10 năm 1940, tuy chưa biết chắc ngày nào, bởi vì ông ghé Đài Loan trước, và không biết ông ở lại Đài Loan bao lâu.

Trong chương Con đường cách mạng, tôi dùng thông tin trong điện thư Aki Tanaka gửi ngày 7-9-2020, trong có câu:

Komaki Omi (Tên thật: Omiya Komaki) viết hồi ký rằng ông đã giúp Nguyễn Tường Tam sang Tàu. Lúc đó qua Đài Loan (hồi đó là thuộc địa của Nhật) rồi mới sang Tàu.

Tôi vừa nhận được điện thư ngày 3-11-2021, Aki Tanaka đính chính:

Hồi ký đó là không phải của Komaki Omi, mà của Komatsu Kiyoshi (làm cố vấn cho nhà văn hóa Nhật). Komatsu Kiyoshi đã tiểu thuyết hóa những gì ông đã trải nghiệm khi ông ở Việt Nam giúp cho việc giải phóng dân tộc Việt Nam, trong đó, tên của Komaki Omi được đổi thành Shimura.

Vậy tôi xin viết lại thông tin này như sau:

Komatsu Kiyoshi (cố vấn cho nhà văn hóa Nhật), đã viết trong tiểu thuyết rằng Shimura [tức Komaki Omi, trong tiểu thuyết đổi tên thành Shimura] đã giúp Nguyễn Tường Tam sang Đài Loan.

Thành thật xin lỗi Tanaka Aki, vì đã không báo cho chị biết trước khi đưa tin này vào bài viết của tôi, để chị sửa lại, và xin độc giả lượng thứ.

clip_image002

Tết đầu tiên ở hải ngoại với bàn thờ Tổ quốc, Việt Nam số 64, tranh của Nhất Linh

Tài liệu đầu tiên viết về việc Nhất Linh ở bên Tầu là bài Tết đầu tiên ở hải ngoại của Nguyễn Tường Tam in trên báo Việt Nam, số 64, 30-1-1946, Tết Bính Tuất.

Nguyễn Tường Tam viết:

Hồi đó, tất cả mười hai anh em đồng chí chúng tôi cùng chung sống ở trụ sở của đảng; một cái nhà ở trong cùng một cái ngõ con. Chung quanh không có người Việt Nam nào khác nữa. Năm ấy, gần Tết, trời rét một cách phi thường, và mưa bụi suốt ngày bay là qua cửa sổ buồng chúng tôi ngồi nghiên cứu và in sách, báo.
Cảnh buồn rầu về cuối năm ở nơi đất người, lòng tưởng nhớ nước nhà làm cho chúng tôi uể oải trong công việc, chỉ nghĩ đến việc ăn Tết, ăn tết thế nào cho thật long trọng mà tiền không phải mất. Sau cùng một anh đề nghị:
– Lập một ban thờ Tổ quốc cho oai, còn ăn thì vẫn ăn muối ớt như ngày thường (…)
Một anh khác đề nghị:
– Chỉ lập một bàn thờ Tổ quốc thôi, còn bàn thờ Tổ tiên thì cấm hẳn.
Mọi người đều tán thành. Thế là vì nước quên nhà, đúng tinh thần cách mệnh lắm.

Bàn thờ nhỏ, chỉ có chỗ cho 20 bài vị. Tổ Hùng vương ở trên cao nhất. Bên cạnh các bài vị anh hùng cứu quốc, có “hai ghế” cho Phạm Hồng TháiNguyễn Thái Học. Chiều 30 Tết, họ đem bài vị Phạm Hồng Thái ra mộ thắp hương, rồi đem hương ở mộ về, châm lên bàn thờ Tổ quốc.

Lúc đó ai cũng thấy nhói ở tim nghĩ đến nước Tổ hiện đương còn ở trong vòng giam hãm.
Chiều mây một trời buồn thê lương. Tôi đứng trên gác ba cúi nhìn gió lạnh lật những mặt sau trắng bạc của những cây lá gai mọc cạnh tường bên căn vườn trước nhà: lòng tôi trong một lúc hiu hắt nhớ quê hương, nhớ người mẹ già tóc bạc phơ giờ này chắc cũng đương ngong ngóng đợi con về (…)
Ngày mồng 3 chúng tôi hạ bàn thờ. Trước khi hạ còn bao nhiêu nến chúng tôi cùng đốt tất cả một lúc cho thật sáng rồi 12 anh em đứng thành vòng tròn xát cánh và quặt tay ra hai bên nắm chặt lấy tay nhau cùng thề trước bàn thờ Tổ Quốc là cùng nhau như một hy sinh phấn đấu để mong cứu nước ra khỏi vòng lầm than, người nào cũng rơm rớm nước mắt. Cái vòng đoàn kết mười hai người ấy đến nay về tới nước nếu có kết lại thì nhỏ bé quá: trong mười hai chỉ còn sống sót lại bốn người.
Nhưng thực ra vòng đó bây giờ lại rộng ra không biết đến thế nào. Tết này nếu có thể được cùng mấy nghìn vạn anh em chiến đấu, kết vòng lại mà đứng trước bàn thơ Tổ quốc thì cái vòng đó có lẽ vòng quanh bao trùm được cả đất nước”. N.T.T.

Nhất Linh không viết rõ, nhưng ta chắc là Tết Tân Tỵ 1941. Bài viết thể hiện tinh thần của người lãnh đạo, nhưng vẫn ngụ tình cảm chân thật của một “người thường”. Nhất Linh không cho biết trụ sở của đảng địa chỉ nào tại Quảng Châu. Có phải là chỗ trú của Đỗ Tốn và Hồ Lễ không?

Những ngày phiêu bạt của Hồ Lễ

Như trên đã nói: Lúc bấy giờ Trung Hoa do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo là một trong bốn cường quốc đồng minh. Nước này đang bị Nhật xâm chiếm. Nhiều tỉnh một nửa là của Tưởng, một nửa đã bị Nhật chiếm. Quảng Châu là như vậy, bên này Châu Giang thuộc Tưởng, bên kia thuộc Nhật. Nhật chiếm một phần bờ biển nên độc quyền hàng hải. Người Việt sang Tầu, nếu muốn bớt nguy hiểm, chỉ có cách lấy tàu Nhật từ Hải Phòng sang Quảng Châu. Hồ Lễ ghi lại:

Mùa hè năm 1941, sau khi tốt nghiệp ở trường ra, tôi thấy chán nản một cuộc đời quá ư bình thản. Thời ấy công cuộc Cách mệnh đã ngấm ngầm lan trong dân chúng. Được một người bạn thân giới thiệu, tôi không ngần ngại gì, xin gia nhập V.N.Q.D.Đ.
Cách đó ít lâu, Pháp hàng Nhật, đảng phái tôi và một ít đồng chí ra Hải ngoại, để điều tra và liên lạc với tất cả các đảng phái Cách mệnh. Rồi một buổi sáng mưa tầm tã, ngày 9 tháng 9 năm 1941, tôi cùng năm đồng chí thanh niên trốn ra Hải phòng để đáp một chiếc tàu Nhật đi Quảng Châu (…) Lúc ấy vào khoảng hai giờ chiều ngày 11 tháng 8 năm 1941. Chúng tôi lên boong tầu nhìn theo mãi quê hương cho đến khi không còn trông thấy nữa (…) Sau ba ngày lênh đênh trên mặt biển, tầu cập bến Hoàng Phố, một hải cảng của Quảng Đông và ở đấy, chúng tôi đáp ô tô đi Quảng Châu.

Tại Quảng Châu, được Ngô Thành, là đồng chí của Phan Bội Châu hướng dẫn thăm thành phố và thăm “các nhà cách mệnh Việt Nam của cụ Cường Để.

Ba tháng sau,

Công cuộc cách mạng trong nước bị vỡ lở, một ít đồng chí bị bắt, chúng tôi bị nghẽn đường tiếp tế và vì thế chúng tôi trải bao nỗi khổ sở thiếu thốn gian nan về vật chất cũng như tinh thần. Sau nhờ có anh N.T.T ra và nhờ sự lãnh đạo khéo léo của anh, lòng chúng tôi ai nấy lại phấn khởi.
Nhưng sau hơn một năm trời, và thấy công cuộc cách mệnh không ăn thua gì chúng tôi liền bỏ trốn sang đất Tưởng Giới Thạch.

Hồ Lễ là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, vậy khi viết “nhờ sự lãnh đạo khéo léo của N.T.T,” thì có lẽ NTT này chưa chắc đã là Nguyễn Tường Tam Nhất Linh. Nhóm của Hồ Lễ, chỉ rời Quảng Châu một năm sau, tức là cuối năm 1942. Và bị bắt ở Liễu Châu, bị giam trong hơn 4 tháng. Phải chăng bất cứ ai từ vùng địch (vùng Nhật) vào Liễu Châu (vùng Tưởng Giới Thạch) trong thời gian ấy, cũng bị giam hơn 4 tháng? Nhưng điều kiện giam cầm của nhóm Hồ Lễ khác hẳn những gì Như Băng mô tả trong hồi ký của bà. Hồ Lễ viết:

Những ngày ở Liễu Châu là những ngày đau đớn nhất cho chúng tôi vì ở đây chúng tôi đã mất hai đồng chí, hai thanh niên hăng hái đã mắc bệnh chết trong ngục. Trong số 9 người đã chết mất hai, và hai người mất tích trong lúc rời Quảng Châu.
Còn lại năm. Chúng tôi ở đây đều bị giám thị, thành thử công cuộc cách mệnh không hoạt động được. Chúng tôi liền quyết định trốn về để xem xét tình hình trong nước.
Rời Liễu Châu chúng tôi đi bộ mất năm ngày tới Nam Ninh [thủ phủ Quảng Tây, cách Việt Nam 180 km]. Quãng đường này rất nguy hiểm vì dạo ấy nước Tầu có rất nhiều cướp đường có súng ống hẳn hoi (…)
Ngày thứ ba chúng tôi tới Cô-Lôn-Quan, nơi trước kia có cuộc xung đột kịch liệt nhất giữa quân đội Trung Nhật. Địa thế ở đây thật là hiểm trở, hai bên là núi cao ngất giữa chỉ có con đường độc đạo, và cũng là con đường nổi tiếng, vì nhiều giặc cướp (…) Đương lo lắng và sẵn sàng đợi tai nạn xẩy đến, chúng tôi gặp ngay một cái xác chết trần truồng máu hãy còn tươi người đó mới bị giết cách đó độ mười lăm phút thôi.
Trong tay không một thước sắt, chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau. Quay đi quay lại không một bóng người, không một tiếng chim, gió lùa vào những rừng thông rít lên từng hồi ghê rợn. Chúng tôi mỗi người chặt một cái gậy đi sát nhau, rảo bước, mặc số mệnh (…) Đến Nam Ninh muốn phá tan sự nghi ngờ của những nhà đương cục và cũng để luyện tập công cuộc tác chiến, chúng tôi gia nhập quân đội Trung Hoa.
Sáu tháng sau Nhật tấn công vào Quảng Tây. Chúng tôi vì là người ngoại quốc nên chính phủ cấp giấy cho về nước. Trong những ngày chờ đợi để có đủ khoản lộ phí, chúng tôi phải xoay ra bán thịt lợn.

Hồ Lễ về đến Hà Nội, nghỉ ngơi hai tháng. Khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, người sinh viên mới ra trường này lại nhận nhiêm vụ lên đường hộ tống đoàn đại biểu sang Vân Nam rồi đi Trùng Khánh.

clip_image004

Ả Hẩu của Đỗ Tốn, VHNN số 11

Ả Hẩu của Đỗ Tốn

Đỗ Tốn viết truyện ngắn Ả Hẩu, in trên báo Việt Nam số 64 (30-1-1946) Tết Bính Tuất. Nhưng sau vào Nam, ông viết thêm, dài hơn, với những chi tiết đáng chú ý về lịch sử, in trên Văn Hoá Ngày Nay [17] từ số 9 đến số 11.

Ả Hẩu, có hai câu thơ mở đầu, thắm thiết:

Chiều nay giở lại trang tình cũ.
Ta viết ra đây một quãng đời.

Và Đỗ Tốn đã viết về quãng đời đó bằng bút pháp xứng đáng Hoa vông vang.

Ả Hẩu, bản in trên nhật báo Việt Nam, chỉ có một nhân vật chính là Ả Hẩu, người hầu, người làm, nàng tiên với tấm lòng vàng như trong giấc mơ, Đỗ Tốn suốt đời không quên được.

Ả Hẩu, bản in trên Văn Hoá Ngày Nay có hai nhân vật: Ả HầuSài Điền.

Sài Điền, là chuyện tàn ác trong cách mạng, đối trọng của Ả Hẩu.

Sài Điền

Đỗ Tốn sang Trung Hoa năm 1941, theo đường dây của Sài Điền:

Hầu hết chúng tôi đều là những thanh niên trên dưới 20 tuổi, đương bị nhà đương cuộc Pháp ở trong nước lùng bắt nên phải lẩn tránh sang Quảng Châu. Ai đã giúp chúng tôi xuất ngoại: đó là một người tên Sài Điền – khi quân Nhật tấn công và chiếm đóng tỉnh Lạng Sơn vào hồi năm 1940 thì Sài Điền là vị Đại tá nắm quyền chỉ huy vùng chiếm đóng đó. Sài Điền nói tiếng Việt Nam thông thạo và tự giới thiệu là người Việt Nam đã sang Nhật lâu năm, nay trở về nước để giúp các người cách mạng V.N. giành lại nền độc lập cho Tổ Quốc. Cũng vì Sài Điền là người V. N. nên dân chúng ở Bắc Việt hồi đó đồn ầm lên rằng y là con trai ông Cường Để. Ở địa vị đó Sài Điền đã liên lạc được với một số đảng viên các đảng cách mạng Việt Nam hồi đó.

Sau đó ít lâu người Nhật trao trả lại cho Pháp tỉnh Lạng Sơn, làm cho hàng ngàn người V.N. phải bạt chạy lẩn tránh sang Tầu và bao ngàn người khác bị Pháp bắt bỏ tù; rồi đến khi người Pháp ruồng bắt chúng tôi ở Hà Nội thì Sài Điền liên lạc đưa chúng tôi lên tàu binh Nhật để sang Quảng Châu; nhóm ra đi chúng tôi hầu hết là thanh niên ngoại trừ vài người cầm đầu. Vì chúng tôi còn trẻ, ưa hoạt động, nhiều hiếu thắng, thích xa lạ, nên khi Sài Điền hứa đi Quảng Châu rồi sẽ đưa chúng tôi sang học trường quân sự tại Nhật thì chúng tôi nhận lời ngay.

Khi đã tới Quảng Châu, Sài Điền thuê một căn nhà cho chúng tôi ở, căn nhà này có hai tầng gác (…) Sài Điền dạy chúng tôi văn ngữ Nhật; hắn dạy rất giỏi, rất có thứ tự mạch lạc. Chúng tôi hấp thụ rất mau được văn mẹo Nhật ngữ, với tin tưởng rằng rồi đây sẽ vào trường Quân sự Nhật”[18].

Sau hơn nửa năm ở Quảng Châu, đang bị nạn đói hoành hành, Sài Điền không cho các thanh niên này hoạt động chính trị và bản thân ông ta cũng không động tĩnh gì. Họ lại được biết thêm: “Chính phủ Tưởng Giới Thạch đã treo giải thưởng cho ai lấy được thủ cấp của hắn vì hắn là một tên gián điệp lợi hại của Nhật. (…) Hắn cần nắm vững chúng tôi trong tay, không phải cốt để hại chúng tôi mà cốt chỉ tỏ cho nhà đương cuộc Nhật thấy là các nhà cách mạng Việt Nam liên lạc với hắn chặt chẽ. Hắn ở giữa, lấy tiền của nhà đương cuộc Nhật nói là để nuôi chúng tôi, rồi hắn lại lấy cả tiền của chúng tôi đem theo và cả tiền anh em ở trong nước gửi ra cho chúng tôi nữa.

Nhóm Đỗ Tốn họp nhau và quyết định thoát khỏi sự kiềm toả của Sài Điền. Họ bèn đòi Sài Điền đưa về nước, nhưng Sài Điền vẫn lấy hết cớ này đến cớ khác, kéo dài trong nhiều tháng, khiến họ quyết định “phải giết hắn đi” để trong nước không bị lừa thêm, và họ được giải thoát để tìm đường về nước hoặc đi chỗ khác hoạt động:

Cuối cùng số lớn anh em trong bọn đi đến quyết định là phải giết hắn đi dù có phải đổi mạng. Cần phải hành động như vậy, một là để mở đường thoát cho một số anh em đi nơi khác hoạt động. Hai là để các anh em còn ở trong nước khỏi bị lừa thêm mãi, có hại lớn về sau.

Trong một buổi họp, anh X., người cầm đầu bọn chúng tôi lên tiếng hỏi: “Ai tình nguyện giết?” Tôi còn đương trẻ măng [21 tuổi], tôi cảm thấy tôi không thể đưa tay lên giết một mạng người, tôi không đủ can đảm!… Có lẽ ra lệnh cho tôi thì tôi sẽ giết đấy, nhưng “tình nguyện” thì không! Tôi ngồi im lặng. Giây phút nghiêm trọng như có điện trong không gian. Tôi không rõ thời gian nhanh chậm ra sao nữa nhưng tôi nhớ rồi có hai cánh tay giơ lên, tôi nhận ra Danh và Tiết.

Danh mới 21 tuổi đầu, và Tiết mới 18. Danh giơ tay thì tôi không lạ, nhưng còn Tiết… Tiết là con một gia đình buôn bán khá lớn ở Hà Nội lại là người công giáo sùng mộ, ngày ngày vẫn đi nhà thờ cầu kinh và trên cổ lúc nào cũng đeo ảnh Đức Mẹ! Tôi cúi đầu im lặng, tôi không thể hiểu được những động lực sâu xa của lòng dạ con người, thực tôi chưa thể hiểu được[19].

Quyết định, nhưng trong nhiều tuần lễ, chưa thi hành. Một buổi sáng, Danh dạy sớm, rủ các bạn đến nhà Sài Điền, nói là để hối thúc hắn việc về Việt Nam.”Bọn chúng tôi có 9 người nhưng chỉ có 4 người tới nhà Sài Điền” là Danh, Tiết, Lễ và Tốn.

Cuộc sát hại xẩy ra tàn bạo, không thể chép lại ở đây.

Sau đó Danh trốn ngay sang khu Tưởng Giới Thạch. Tiết ở lại nhân tội. Lễ và Tốn đi báo cảnh sát Tàu địa phương. Người thư ký của Sài Điền điện thoại báo Hiến binh Nhật.

Hiến binh Nhật từ tứ phía gươm tuốt trần, súng lục lăm lăm ở tay, ùa chạy tới bắt chúng tôi dẫn đi.
Tại trại Hiến binh, người Nhật đối đãi với chúng tôi rất nhã nhặn. Thấy chúng tôi còn ít tuổi nhất là Tiết mà quần áo còn đẫm máu sát nhân, bọn Nhật lại tỏ vẻ mến phục mới kỳ chứ.
Sau khi ngồi ở trại Hiến Binh Nhật độ một giờ đồng hồ thì có một thượng sĩ Hiến binh Nhật ở ngoài đi vô. Hắn tiến tới chỗ chúng tôi và ngỏ lời khen Tiết làm sao anh đã hạ nổi một người giỏi võ và kiếm như Sài Điền được?”
[20]

Nửa giờ đồng hồ sau.

Vị Thiếu tá chỉ huy hiến binh bước tới đứng trước mặt chúng tôi rồi cất tiếng hỏi:
– Các anh tới Quảng Châu có mục đích gì?
Chúng tôi nghiêm chỉnh đáp:
– Mục đích của chúng tôi là tranh đấu để dành lại nền độc lập cho nước chúng tôi.
Nghe xong hắn gật gù khen “tốt, tốt.

Chiều hôm đó họ lấy khẩu cung, rồi bị giam một đêm, đến 3 giờ chiều hôm sau, được tha về: “Vị Thiếu tá đưa mắt nhìn chúng tôi một lượt đoạn hắn chậm chạp nói:

– Người Việt Nam xung đột với người Việt Nam, đó là chuyện nội bộ của các anh, người Nhật không muốn dính dáng tới. Tuy nhiên tôi khuyên các anh rằng từ nay trở đi đừng để xẩy ra những chuyện như thế nữa… Người Nhật cần giữ trật tự ở nơi đây (.…)
Thưa Thiếu tá, thế còn số phận chúng tôi ra sao?
– Các anh được tự do
.[21]

Đêm hôm ấy, “… tôi bỗng cảm thấy một nỗi buồn xa vắng mênh mông từ đâu từ từ trở về xâm lấn cả tâm hồn; căn phòng thiếu Danh (đã trốn) càng lạnh lẽo thêm.

Tôi nằm được một lát thì thấy Tiết từ phòng bên đi tới… Tiết nói:
– “Em ngủ chung phòng với anh được không?”

Người sát thủ trẻ tuổi trở lại thành cậu bé sợ ma:

“Nằm phòng bên kia một mình em hơi rợn sợ anh ạ.”
Tôi trạnh nghĩ đến Danh, chẳng hiểu giờ phút này Danh đương rét mướt nằm ngủ trốn tránh ở một xó chợ nào, hay ở một gậm cầu nào hay ở đâu… và rồi bổng nhiên tôi thấy tủi thân muốn ứa nước mắt… tôi thấy tôi thương hại cho tất cả chúng tôi.”[22]

Giết được Sài Điền, ít lâu sau họ tổ chức vượt Châu Giang sang bên kia sông thuộc khu Tưởng Giới Thạch, rồi đi về Liễu Châu.

Chúng tôi bị giữ tại trụ sở Cảnh bị Tư lệnh bộ, nhưng được đặc biệt ở trong một phòng vẫn thường dành cho khách vãng lai, vật chất thì không thiếu thốn lắm, nhưng mất tự do.[23]

Đó cũng là nơi giam Nguyễn Tường Tam và Hồ Chí Minh. Tại đây Đỗ Tốn gặp Như Băng, trung uý truyền thông làm việc trong dinh tướng Trương Phát Khuê, và sẽ là ngưòi bạn đường tương lai. Sau Tết độ 2 tháng, Đỗ Tốn một mình lên đường về nước. Đó là mùa xuân năm 1943. Gần một tháng sau về đến Việt Nam.

Sài Điền là ai?

Theo những mô tả của Đỗ Tốn:

Sài Điền rời Việt Nam từ 11 tuổi, do các nhà tiền bối cách mạng đưa đi. Vì ở Nhật quá lâu và đưọc hấp thụ nền văn hoá Nhật, nên đã trở thành người Nhật.

Sài Điền là một tay kiếm cừ khôi, đã từng dự các cuộc đấu kiếm, tranh giải, và là giáo sư dạy lịch sử các đảng cách mạng thế giới ở trường đại học Oa Sê Đa ở Nhật.

Rất giỏi Hán Văn, nói tiếng Tàu quan hỏa như các nhà trí thức Tàu. Trước kia Sài Điền đã giả danh người Tầu, giữ một địa vị quan trọng trong Bộ Ngoại Giao Tầu, làm tình báo cho Nhật, báo cho Nhật biết những bí mật của Tầu trong trận Lư Câu Kiều [7-7-37, được coi là trận mở đầu chiến tranh Trung-Nhật]. Khi việc vỡ lở, Sài Điền kịp chạy về Nhật.

Khi Nhật đánh chiếm Lạng Sơn, năm 1940, thì Sài Điền là Đại tá. Và sau đã “tự nguyện” đưa người Việt trốn Pháp, sang Tàu[24].

Sài Điền chính là Shibata, hay Trần Phước An, Trần Văn An, nhân vật mà Khái Hưng và Nhất Linh tìm gặp trong tháng 4-1941, và được tình báo Pháp ghi nhận trong bản Note Công an số 23670, ngày 3-11-1941, do François Guillemot ghi lại, chúng tôi đã đưa ra trong chương Con đường cách mạng:

Ngày 31-10 vừa qua, cảnh sát đặc biệt Hà Nội đã bắt được nhà báo Trần Khánh Giư tại trụ sở của nhật báo Ngày Nay trước, ở số 80 Quan Thánh (…), cựu cộng tác viên của tờ báo này và lãnh đạo đảng Đại Việt Dân Chính. Đương sự nhận ngay liên hệ của mình với đảng.
Lời thú nhận của y xác nhận những thông tin ta đã thu lượm được từ trước về y, chủ yếu là chuyến đi tại/tới (à) Quảng Đông và Đài Loan cùng Nguyễn Tường Tam, trên một chiếc máy bay quân sự của Nhật vào tháng 4 vừa qua [4-1941] để gặp Trần Văn An tức Shibata (Trần Phước An)
[25].

Nhất Linh Khái Hưng tìm gặp Shibata tức Sài Điền trong tháng 4 năm 1941 để làm gì? Có phải để nhờ y tổ chức đưa các thanh niên Việt Nam sang Tầu không? Hay là lúc đó hai người đã nghi ngờ Shibata rồi? Đến gặp y để kiểm soát lại sự thể? Theo François Guillemot, nhà đương cuộc Pháp chỉ được thông báo có nhiều nhóm nổi dậy, kể từ tháng 7-1941[26]. Vậy sự lùng bắt gắt gắt gao có lẽ chỉ bắt đầu từ tháng 7-1941.

Nhóm Đỗ Tốn có lẽ là một trong những nhóm đầu tiên, sang Quảng Châu bằng sự tổ chức của Shibata, đi tàu Nhật. Hồ Lễ đi tháng 8 năm 1941, cũng đi tầu Nhật, nhưng chắc theo một diện khác. Hình như hai nhóm không biết nhau. Nhưng khi nhóm Đỗ Tốn biết sự phản bội của Sài Điền, quyết định giết y, thì chắc phải báo cáo Nguyễn Tường Tam (anh X. trong truyện Ả Hẩu) và chính anh X. đã hạ lệnh thi hành bản án.

Về việc này, Hoàng Văn Đào ghi:

Sau thời gian vài tháng chiến đấu chống Pháp, Trần Trung Lập, Đoàn Kiểm Điểm, Vũ Chương cùng hàng trăm đồng chí bị Pháp bắt rồi sát hại tại thành Lạng Sơn. Còn Trần Phúc An cùng quân đội Nhật Bản rút khỏi Lạng Sơn về Hà Nội, bị Nguyễn Tường Tam ra lệnh giết chết 27].

Thông tin của Hoàng Văn Đào sai, vì Nhất Linh và Khái Hưng còn gặp lại Trần Phúc An tháng 4 năm 1941, và theo truyện Ả Hẩu của Đỗ Tốn, Sài Điền bị ám sát vào khoảng cuối năm 1942, để giải thoát cho nhóm Đỗ Tốn chạy sang Liễu Châu.

Một chuyện lạ nữa, Sài Điền là mật thám của Nhật, vậy mà sau khi y bị ám sát, hai viên sĩ quan Nhật lại tỏ vẻ khen ngợi, không bỏ tù, có lẽ vì thông cảm cho những thanh yêu nước còn quá trẻ và cảm phục lòng can đảm của họ.

Ả Hẩu

Đỗ Tốn đang ốm, nằm bẹp trên gác một căn nhà ở Quảng Châu. Họ đến đây đã được một thời gian, trong thành phố Quảng Châu “thời ấy có thể gọi là cảnh địa ngục trần gian. Quân Nhật thì chỉ chiếm đóng được một vùng độ ba bốn chục cây số chung quanh thành phố” mà nạn dói đang hoành hành. “Ngày nào cũng có hàng trăm người chết đói“. Những “cậu công tử” đi làm cách mạng, mượn một “người ở” trông nom cơm nước giặt giũ. Nhưng từ khi Pháp lùng bắt cách mạng ở trong nước, việc tiếp tế trở nên “tắc nghẽn”, nhóm họ rơi vào cảnh túng thiếu phải ăn cơm với rau, với muối vừng, thì bà ở đã bỏ đi.

Hôm nay có “một đồng bào” ở đây, bỏ tiền ra thuê giúp cho một người ở mới, nàng là Ả Hẩu.

Ả Hẩu vào nhà đám con trai xa nhà, sống cẩu thả lười biếng, cuộn quần áo bẩn để riêng một xó, mặc hết đồ sạch, đem ra “mặc lại”. Nàng “bắt” họ ăn phải ở sạch sẽ, nàng lau chùi phòng họ nhẵn bóng. Nàng bỏ tiền ra mua thức ăn cho họ. Tiền đâu ra? Họ dò hỏi người quen nàng mới biết: khi thì nàng đi vay, khi vừa mới lĩnh lương, có khi nàng bán cả hoa tai mua thức ăn cho họ. Có người mướn trả tiền công lớn nàng từ chối. Họ không có tiền trả lương, nàng ở không công. Họ đi trốn, nàng theo dẫn đường. Họ vào tù, nàng cũng vào theo để chăm nom cơm nước.

Hôm chia tay về nước ở Liễu Châu, “nàng dặn dò tôi nhiều điều, nàng nhắc tôi từ chiếc bàn chải đánh răng đến viên thuốc trừ cảm“. Sau khi kiểm soát hành lý, “nàng ra đi mua về cho tôi một lọ dầu Nhị Thiên Đường và một hộp dầu cao Con Hổ.

Có một lúc Ả Hẩu hỏi tôi về số tiền lộ phí của tôi- và theo ý nàng thì số tiền đó hơi eo hẹp, vì tôi thấy nàng ấn vào tay tôi một số tiền khá lớn… tôi gạt ra thì nàng không bằng lòng, nhất định nàng ấn tiền vào túi tôi bằng được, thân thiết nàng bảo:

– “Ông nên cầm lấy để mà phòng thân… tính mạng các ông nên giữ gìn cẩn thận để mà giúp nước các ông…”

Tôi thấy một nỗi gì đau đớn quặn lên trong lòng, như muốn trào ra mí mắt… một nỗi đứt rách, nhầu xé, đau xót, như muốn bật lên thành những tiếng nức nở…”[28]

Trên đường phiêu lưu, người thanh niên ấy đã trải bao khó khăn trở lực, nhưng cũng gặp những nghiã cử không ngờ: Đi từ Quảng Châu đến Liễu Châu, trên rừng gặp tên thổ phỉ, thương bọn thư sinh, y chia cho tiền mãi lộ; khi chia tay, y bắn phát súng hùng tráng lên trời làm quà ly biệt.

Một mình trên đường về nước, đến biên giới, mượn được hai người Thổ dẫn đường, họ thuộc lòng từng khe núi, từng ngõ ngách, trong vùng đồi núi âm u bất trắc, họ đã dẫn người thanh niên lưu lạc về tới Bắc Giang vô sự, và họ đã quay trở lại, biến vào rừng xanh như hai vị Sơn Thần.

Rồi ngày 11 tháng 11 năm 1944, Liễu Châu bị Nhật chiếm.

Chẳng hiểu Ả Hẩu có thoát khỏi chết trước cuộc tấn công vũ bão của quân đội Nhật vào Liễu Châu không? Gặp các bạn đã cùng tôi phiêu bạt tôi vẩn thường lẩn thẩn hỏi thế (…) Tôi cảm thấy tôi cần gặp lại con người vàng ngọc ấy để mà tạ ơn… Tôi sẽ nắm lấy tay người, mà chẳng nói năng chi.

Trung quốc mênh mang lớn rộng vô chừng đường đi từ tỉnh này qua tỉnh khác -nhất là trong vùng Quảng Đông, Quảng Tây- thường phải đi nhiều ngày qua núi rừng vắng vẻ mà tính mệnh con người đặt trong tay các “ông thổ phỉ”. Ra đi Quảng Châu chín người chúng tôi, nay chỉ còn ba. Những bạn cùng đi, sống thì đã về, những ai vắng mặt đã gửi xác nơi đất khách. Tuy nhiên nhiều lúc tôi cứ đinh ninh tưởng như còn có một người rất cao quý, sao cứ nấn ná chưa chịu trở lại đất nước này để cùng tôi ôn lại những kỷ niệm của quãng đời gian nan.

Lẩn thẩn có khi tôi nghĩ: “hay đó chỉ là một nàng tiên ẩn mình trong một tấm thân mộc mạc trời sai xuống để giúp chúng tôi trong những ngày phiêu bạt?”

Mà biết đâu không có lẽ!…

Tôi còn nhớ bóng dáng nàng hôm tối từ biệt, chập chờn trong đêm sương mờ toả, ẩn hiện bềnh bồng đi dưới ánh trăng mờ rọi qua lá cây, để rồi tan loãng vào bóng đêm sực nức mùi dạ hương huyền ảo như một bóng yêu tinh vậy.

Nàng là Tiên hay yêu ma? Mà sao lúc đó gió đêm lạnh mà tôi lại choáng váng ngất ngây! Thực kỳ dị.” [29]

Ả Hẩu là một truyện tình người, cao cả, vượt trên giới tuyến chiến tranh, quốc gia, dân tộc, xác định Đỗ Tốn như một nhà văn vô cùng nhân bản.

(Còn tiếp)

Thụy Khuê
thuykhue.free.fr


[1] Hoàng Văn Hoan (1905-1991) (tên thật là Hoàng Ngọc Ẩn, sang Thái Lan đổi tên Thái là Nai Thông, khi về nước, lấy tên là Hoàng Văn Hoan (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 39). Ông sinh năm 1905, tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. “Năm 1924 giác ngộ cách mạng. 1926, được tổ chức đưa đi Quảng Châu dự lớp huấn luyện do Hồ Chủ trịch chủ trì“. Xong lớp này được vào tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội và đuợc gửi về nước hoạt động. Năm 1928, trốn qua Xiêm. Năm 1930, gia nhập đảng cộng sản Xiêm. 1936, qua Trung Quốc, cùng một số đồng chí chí ở Nam Kinh thành lập Viêt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh). Năm 1940, Hồ Chí Minh từ Diên Án về Côn Minh. 1941, Hồ Chí Minh về Pác Bó, Hoàng Văn Hoan được lệnh đi Long Châu [thuộc Quảng Tây, phiá tây giáp giới Cao Bằng] lập Biện sự xử Việt Minh ở Long Châu, rồi về Tịnh Tây [thuộc Quảng Tây], cùng với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng, Cao Hồng Lĩnh và một số người ở trong nước ra, công khai hoạt động dưới danh nghiã Việt Minh. 1942, ông hoạt động ở Liễu Châu, được Trương Phát Khuê [Tư lệnh quân khu 4] mượn làm dịch thuật viên cho “Trung-Việt biên khu chính trị công tác đội” ở Tịnh Tây. Ít lâu sau, ông bỏ Tịnh Tây về nước, hoạt động ở Cao Bằng, Lạng Sơn, góp phần xây dựng chiến khu Việt Bắc. Năm 1950, ông được cử làm Đại sứ Việt Nam tại Trung quốc và Triều Tiên. Tháng 4-1957, ông về nước làm Phó Trưởng ban Thường vụ Quốc Hội. (Theo tiểu sử Hoàng Văn Hoan in cuối sách Giọt nước trong biển cả).

Năm 1957, Lê Duẩn ra Bắc, trở thành Tổng Bí Thư. Cuộc tranh chấp giữa phái thân Trung Quốc và phái thân Liên Xô xẩy ra. Là một đảng viên kỳ cựu, Hoàng Văn Hoan thuộc nhóm thân Trung Quốc, đối đầu trực tiếp với Lê Duẩn. Năm 1976, nhóm thân Trung Quốc bị khai trừ khỏi Trung Ương Đảng. Sự chia cắt càng sâu xa. Ngày 26-6-1979, Hoàng Văn Hoan bị kết án tử hình vắng mặt. Sau khi thoát ly sang Tàu, ngày 9-8-1979, ông viết lá Thư gửi toàn thể đồng bào Việt Nam kể tội “Lê Duẩn phản bội”. Ông viết hồi ký lịch sử Giọt nước trong biển cả, hoàn thành tháng 2-1986, ở Bắc Kinh. Phần Thứ Bảy 1957-1979, cũng là phần cuối cùng của cuốn sách, tựa đề: Cách mạng Việt Nam với sự phản bội của Lê Duẩn.

[2] Hoàng Văn Hoan, Lời nói đầu, tháng 2 năm 1986 ở Bắc Kinh, Giọt nước trong biển cả, Nhóm tìm hiểu lịch sử in năm 1991 tại Hoa Kỳ, trang 4 và 5.

[3] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 234-235).

[4] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 235.

[5] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 235.

[6] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 237.

[7] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 238.

[8] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 238-239.

[9] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 181.

[10] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 239.

[11] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 240.

[12] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 240.

[13] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 185.

[14] In đậm trong nguyên bản.

[15] Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, trang 241-242.

[16] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 186.

[17] Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh, tại Sài Gòn, số 1 ra ngày 17-6-58, đến số 11, ngày 21-4-59, thì đình bản.

[18] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay 9, trang 13.

[19] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay số 9, trang 15.

[20] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay số 10, trang 34.

[21] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay số 10, trang 35.

[22] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay số 10, trang 35-36.

[23] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay số 11, trang 65.

[24] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay số 9, trang 12-13.

[25] Nguyên văn tiếng Pháp: “Le 31 octobre écoulé, la police spéciale de Hanoi a arrêté au siège de l’ancien journal “Ngày Nay”, no 80 avenue du Grand Bouddha, le publiciste Trần Khánh Giư […] ex-collaborateur de ce journal et dirigeant du parti “Đại Việt Dân Chính”. L’intéressé n’a fait aucune difficulté pour reconnaître son affiliation au parti. Ses aveux confirment les renseignements précédemment recueillis sur son activité, notamment en ce qui concerne le voyage qu’il a effectué à Canton et à Formose en compagnie de Nguyễn Tường Tam, à bord d’un avion militaire nippon au mois d’avril dernier pour y rencontrer Trần Văn An dit Shibata [Trần Phước An]” Note Công an số 23670, Hà Nội ngày 3-11-1941, về Đại Việt Dân Chính “Hoạt động quốc gia chống Pháp”, CAOM, Toà Công Sứ Bắc Kỳ; in trong François Guillemot, Đại Việt, indépendance et révolution au Viêt-Nam, L’échec de la troisième voie (1938-1955) (Đại Việt, độc lập và cách mạng ở Việt Nam, sự thất bại của con đường thứ ba (1938-1955), Nxb Les Indes savantes, 2012, Paris, t. 87.

[26] François Guillemot, Đại Việt, indépendance et révolution au Viêt-Nam… trang 87.

[27] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 181.

[28] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay số 11, trang 67.

[29] Ả Hẩu, Văn Hoá Ngày Nay số 11, trang 69- 70.

bài đã đăng của Thụy Khuê

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)