….Nỗi đau chung từ đất nước chiến chinh
Góp tiếng văn chương làm lại cuộc Khởi hành
Bằng bút mực thay cho súng đạn
Gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận
Sao đến bây giờ rách tả tơi
Tấc son còn để với đời.…
Nhà thơ Cao Tiêu/ Đại Tá Cục trưởng Cục Tâm Lý chiến Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
ngày 17.9.1996
đăng trên tạp chí Khởi Hành-Hoa Kỳ nhân dịp ra mắt Số 1, tháng 11.1996
Đã lâu lắm, gần 30 mươi năm, tôi không còn viết phóng sự cho Từ một góc California, một mục do tôi phụ trách, phổ biến trên báo chí tại một số tiểu bang Hoa Kỳ như California, Texas, Virginia, Washington State, Oregon, Washington D.C., vv. trong khoảng gần hơn 2 năm, chuyên về các vấn đề thời sự, văn học và đôi khi, xen kẽ chính sự. Tôi ngưng mục này vào giữa năm 1997 khi nhiều việc làm khác không cho phép đủ thì giờ viết một mục hàng tuần hay hàng tháng. Đồng thời, tôi cũng bắt đầu làm Khởi Hành với nhà thơ Viên Linh vào tháng 11 năm 1996. Từ một góc California di chuyển sang Khởi Hành, biến thành Người và Việc, sửa đổi đôi chút, chọn lựa để tài hầu thích hợp với một nguyệt san chuyên về Văn Học Miền Nam mỗi khi tôi muốn đề cập đến một vấn đề thời sự cần có sự lưu tâm kịp thời. Dù có lúc không kèm đủ tài liệu như loạt phê bình văn học (cũng trên Khởi Hành), mục này cho phép tôi làm thêm bổn phận của Thư ký Tòa soạn hầu đảm nhận mục nhật ký văn nghệ, truyền thống của Văn Học Miền Nam. Người và Việc đã xuất hiện trên Khởi Hành-Sài gòn, đôi khi với tên Người và Vật. Tạp chí Khởi Hành-Hoa Kỳ đình bản vào tháng 5, 2018, một năm đáng nhớ khi tôi cũng suýt …đình bản vì Một trà một rượu một bệnh trầm kha/Ba cái lăng nhăng nó quấy ta (mượn thơ Trần Tế Xương) tròn nguyên cả một tháng 4 mê nhiều hơn tỉnh.
Bởi thế, tháng 4 năm nay tưởng như sắp trôi qua trong cơn sóng ngầm ngày 30 tháng 4. 2018, nhưng ngày 30 tháng 4 nào có thể yên lặng được cho riêng tôi hay cho cộng đồng tỵ nạn người Việt. Tôi không thể nào không nhận và không đọc nhiều phát biểu kèm thông tin từ độc giả, nhất là độc giả cũ của Từ một góc California hay Người Và Việc-Khởi Hành, từ thân hữu và ngay cả từ những người không thuộc vào các trường hợp nêu trên/all of the above. Trong số này, 2 đoạn của nhà văn Nguyễn Viện, Sài gòn rơi vào mắt tôi:
[.…] Cuộc chiến được thể hiện ở tầm thế giới là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai chủ nghĩa tư bản và cộng sản. Nó được bày ra bởi các nhà tài trợ của cả hai phía. Và ở tầm quốc gia là một cuộc nội chiến Nam – Bắc, phân tranh giữa những người đi theo hai chủ nghĩa đối nghịch ấy- NHỮNG NGƯỜI THẤT THẾ -Tuy nhiên, nhà tài trợ chính cho miền Nam, Mỹ đã biến cuộc chiến tranh ủy nhiệm ấy thành cuộc chiến của chính mình (.…) Cho đến tận bây giờ, phim ảnh hay sách báo, người Mỹ chỉ tự biện hộ như cách họ muốn chữa lành lương tâm của mình, nhưng đồng thời người Mỹ cũng chà xát nỗi đau đớn của đồng minh VNCH, những người thất thế không còn đất đứng. Một khước từ vô trách nhiệm và vô liêm sỉ. Tôi vẫn băn khoăn, không biết những người Việt tị nạn đã làm gì khả dĩ để lấy lại danh dự cho mình?.… [Nguyễn Viện, “Ngày 30/4. Vết thương hoại tử”, Diễn đàn Thế Kỷ, Ngày 30 tháng 4, https://www.diendantheky.net/2023/04/nguyen-vien-ngay-304-vet-thuong-hoai-tu.html]
Đoạn kế tiếp, từ một bài khác của ông, cũng tương tự như đoạn thượng dẫn:
[…] Điều tôi muốn nói thêm: Những người tự nhận là VNCH, đặc biệt là những người Việt tị nạn vì lý tưởng tự do phải làm gì khi Mỹ vẫn coi cuộc chiến tranh 1954-1975 là cuộc chiến của họ với người Cộng sản phía Bắc mà họ gọi là “Cuộc chiến tranh Việt Nam” (…) Những người tị nạn Việt Nam trong điều kiện có thể đã làm gì để lấy lại danh dự của mình trong cái nhìn của đối phương cũng như của đồng minh và thế giới?.… [Nguyễn Viện, “Trả lời phỏng vấn của Diễn đàn Thế Kỷ: Những câu hỏi cho ngày 30 tháng Tư”, Ngày 30. 4.2023, https://www.diendantheky.net/2023/04/nhung-cau-hoi-cho-ngay-30-thang-tu.html#more]
Phát biểu của Nguyễn Viện khiến tôi nhớ tới, tuy không liên quan, một đoạn cảm tưởng của giáo sư Lý Chánh Trung (người từng viết về Hồ Chí Minh trên báo Miền Nam đặng kỷ niệm ngày ông qua đời) cách đây hơn nửa thế kỷ:
[.…] Làm gì bây giờ, khi tất cả những mâu thuẫn giữa các lực lượng khổng lồ của thế giới đã đổ lên trên cái xứ sở tý hon này. Làm gì bây giờ khi tất cả những mâu thuẫn giữa người Việt và người Việt đã bùng nổ cùng một lúc và được nuôi dưỡng khai thác bởi những lực lượng trên.… [Lý Chánh Trung, “Làm chánh trị hay không làm chánh trị”, Ba năm xáo trộn, trang 120, Nam Sơn xuất bản, 1966]
Qua một chuỗi thời gian tràn ngập hình ảnh và tin tức, bỗng nhiên tôi nhớ lại Từ một góc California. Được sống sót, tôi sẽ nhìn lại xem chúng ta là ai giữa mùa thay đổi ấy (Thế Lữ) không chỉ riêng ta mà còn vài người khác. Hơn thế nữa, chúng ta đã làm gì bây giờ? Đây là lý do khiến tôi cũng kèm thêm 2 đoạn thượng dẫn từ nhà văn Nguyễn Viện vào bài này. Lý do ấy xuất phát từ một kinh nghiệm rất thực tiễn. Đó là, trước khi sửa máy in, máy scan, máy computer, máy hút bụi, máy xay trái cây, máy may trừ máy xe hơi, tôi thường hỏi Google trước khi làm phiền Ban Tham mưu bất đắc dĩ vì các ông có lẽ đang bận xem xét máy in, máy scan, máy computer, máy hút bụi, máy xay trái cây, máy may và cả máy xe hơi cho phu nhân của các ông. Trước thời Google, tôi đã làm phiền Ban Tham mưu khi không tìm được lý do xe hơi cứ mất dầu một cách bí mật hay tại sao đã thay bóng và soát lại cầu chì mà đèn không sáng. Nếu tôi phải đương đầu với những khổ nạn này, chắc chắn hàng ngàn người khác trong cộng đồng Google cũng đã có và sẽ giúp giải quyết.
Bởi thế, dựa trên kinh nghiệm Google ấy, những suy ngẫm cùng phát biểu không những của vài nhà văn trong nước mà còn thêm nhiều người trên diễn đàn khác về vấn đề hòa giải dân tộc, về thành tích của Việt Nam Cộng Hòa, về người Việt tỵ nạn, có thể cũng phản ảnh suy ngẫm của nhiều người thuộc đa số thầm lặng hơn mà tôi là một. Cơ hội ấy, trước hết, giúp tôi, người hội đủ 2 điều kiện “từ Việt Nam Cộng Hòa” và “tỵ nạn Cộng Sản”, được mạn phép mở rộng vấn đề, bầy tỏ thêm đôi điều với độc giả cũ vẫn thường liên lạc–chứ không chỉ như một hồi tưởng dành cho chính mình–cộng thêm một đoạn nhật ký văn nghệ nữa về Việt Nam Cộng Hòa, đồng minh Hoa Kỳ và Người Việt tỵ nạn.
1. Việt Nam Cộng Hòa và Tự do
Theo tôi, với Việt Nam Cộng Hòa, đây là cuộc quyết đấu giữa Tự Do và Cộng Sản. Cuộc quyết đấu này đã bắt đầu từ trước 1954, mở đầu bằng vụ Cải cách Ruộng đất long trời lở đất, vụ Trăm hoa đua nở, vụ tàn hại đảng viên thuộc các đảng phái khác. Khái Hưng bị thủ tiêu tại Miền Bắc, Hoàng Đạo gục xuống trơ trọi trong một chuyến tầu lưu vong tại Trung Hoa. Hồ Hữu Tường hoạt động tại Miền Nam, sau 1975, chỉ được thả về để qua đời ngay trước cửa nhà sau khi bị người Cộng Sản giam giữ. Những anh em, những đồng chí của nhiều đảng phái chống Cộng sản đã tranh đấu sống chết chỉ vì tự do. Nhóm Quan Điểm với Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng vv. di cư vào Nam. Nhóm Sáng Tạo với Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên vv. sẽ trả giá sau 1975 cùng toàn thể văn nghệ sĩ Miền Nam.
Phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa-Miền Bắc Cộng Sản, với chủ trương “Chống Mỹ cứu nước”, kèm khẩu hiệu “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” (và “Đánh cho tới còn cái lai quần cũng đánh”!), đóng xập bức màn tre. Việt Nam Cộng Hòa-Miền Nam Tự Do tiếp tục đến năm 1975 khi không còn được tiếp tục viện trợ vũ khí. Người Việt tỵ nạn Cộng sản trước tôi vào năm 1953-1954, như tôi vào năm 1975, và nhiều người khác nữa sau tôi, nhất là những người vượt biển vượt biên–gồm cả phụ nữ thanh nữ thiếu nữ dù biết trước sẽ có thể bị hãm hiếp tập thể trước mắt gia đình hay chồng con–đã liều chết ra đi. Trong bài này, qua nhân sự Miền Nam mà tôi dẫn chứng, “Tự Do” là vấn đề sinh tử của Miền Nam, được bầy tỏ càng rõ hơn qua sáng tác và phát biểu, nhất là từ những nhà văn nhà báo di cư từ Miền Bắc. “Tự Do” cũng sẽ là nguyên nhân chính khiến người Miền Nam bỏ nước ra đi sau 1975.
Cộng sản đã sử dụng cái võ tuyên truyền đầu tiên, rằng chỉ có Chủ nghĩa Cộng sản mới thích hợp cho một quốc gia vừa gượng dậy từ bàn tay sắt của Đế quốc Tư bản, hầu thuyết phục thế giới tự do, điển hình như đại gia trong văn giới như Gabriel Marcía Márquez, rằng chỉ có thiểu số người Miền Nam tư bản có tài sản–khởi đi từ bọn “tạch tạch sè” (tiểu tư sản)– mới chống lại họ. Một số người Hoa Kỳ, thí dụ như bà Lady Borton, một thiện nguyện viên thiên Cộng thuộc Giáo phái Quaker phụng sự tại Miền Nam, đã rơi vào bẫy này để rồi, sau 1975, phụng sự họ rất trung thành. Sau 1975, Lady Borton được phép sinh sống tại Hà nội, được phép cúc cung tận tụy tham dự vào việc biên soạn mấy cuốn sách cho nhà nước mà có cuốn đã được (hay bị) nhà phê bình/dịch giả Đinh Từ Bích Thúy tặng cho bốn chữ do cô phát minh: “Nữ Quyền Dép Râu”. Chữ “dép râu” đã biến từ một chữ rất thường dân thành một điển tích chính trị gợi hình toàn vẹn trong văn chương:
[.…] Nàng Thơ Ngạo Mạn có dấu ấn “kosher” của guồng máy chính trị Việt Nam [.…] Trong thực tại, tiền đề Mác-xít vẫn áp đảo Nàng Thơ Ngạo Mạn. Lady Borton thẳng thừng áp dụng cái nhìn nữ quyền theo lý thuyết xã hội chủ nghĩa trong bài giới thiệu khá công phu về truyền thống lịch sử và thơ văn Việt Nam từ thời Thượng Cổ đến hiện đại […] Nàng Thơ Ngạo Mạn là một tuyển tập còn nhiều khiếm khuyết, nhiều sự vắng mặt. Là một nỗ lực đầu tiên về nền thi ca phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ 20 – đầu thế kỷ 21, tuyển tập này có lẽ đã qua nhiều chặng tuyển chọn hoặc kiểm duyệt, đã được “dịch” và “định nghĩa” qua Anh ngữ, và qua cái nhìn của hai nhà văn Hoa Kỳ là Lady Borton và Grace Paley. Người viết mong rằng sẽ có một tuyển tập đầy đủ hơn được xuất bản trong tương lai, với sự tham gia cởi mở và đồng thời nghiêm túc hơn giữa những nhà thơ, dịch giả phụ nữ trong và ngoài nước, đại diện cho tất cả các thời đại trong lịch sử Việt Nam, với những kinh nghiệm, phê bình đối chiếu, để cho cuộc đối thoại văn chương không chỉ là chuyện một chiều, hoặc là sự áp đặt cứng ngắc của chính trị, ngôn ngữ và kiến thức văn hóa. Đọc những nhà thơ trẻ trong tuyển tập, ta cũng đã thấy nhen nhúm một hoài bão được đối diện/đồng cảm với sự thật. [Đinh Từ Bích Thúy, “Nữ quyền dép râu”, Diễn đàn Da Màu, ngày 17.8.2007, https://damau.org/5919/nu-quyen-dep-rau]
Với tôi, Lady Borton không chỉ “dịch” lịch sử Thơ Nữ Quyền Việt Nam theo tròng kính Cộng Sản, bà còn “dịch” việc bỏ nước ra đi của một triệu người Đông Dương (người Việt chiếm đại đa số) sau 1975 là không kham nổi thiếu thốn khi con hùm Hoa Kỳ nổi giận. Số là, vào năm 1985, khi nhà cầm quyền Cộng Sản chưa chính thức đầu hàng vì viên đạn cấm vận, bà Lady Borton xỉ mạ đích danh người Việt tỵ nạn/ người Sài gòn trong một cuộc hội họp bàn về Chiến tranh Việt Nam qua chủ đề văn chương tại New York do Asia Society tổ chức từ ngày 7 tới ngày 9, tháng 5. 1985:
[.…] Lady Borton góp ý rằng lý do thực sự khiến có làn sóng một triệu người tị nạn Đông Dương không (xuất phát) từ sự thành lập các chế độ Cộng sản mà lại là chính sách đối ngoại rất khắc nghiệt của Hoa Kỳ tiếp liền sau sự thành lập các chế độ Cộng sản đó. Khi cắt đứt hoàn toàn viện trợ cho Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, Hoa Kỳ đã (đồng thời) chặt luôn những chiếc xe Honda của họ và mang người Sài Gòn vào ‘thời đại xe đạp’. Thế nên họ (mới) bỏ chạy … [Timothy J. Lomperis, “Reading the Wind“-The Literature of the Vietnam War, trang 20, Nhà Xuất bản Duke University Press, 1987] (1)
Trước và trong khi Lady Borton phát biểu, khoảng 1975-1985, Hoa Kỳ không còn là con cọp giấy như vẫn bị tuyên truyền trước 1975. Bị một cú lừa ngoạn mục trước thế giới bá quan văn võ qua Hiệp định Paris, họ trừng phạt chính phủ Cộng sản Việt Nam bằng sở trường của “đế quốc tư bản”, nghĩa là bằng cách cắt đứt giao dịch trên thương trường và phong tỏa kinh tế, nói nôm na là “cấm vận”. Do đó, Hà Nội không những không có cơ được “bồi thường chiến tranh” nếu yêu sách này thành công mà còn nằm trong danh sách “Kẻ thù nghịch của Hoa Kỳ”. Dân chúng Hoa Kỳ không được phép giao dịch với “kẻ thù nghịch” theo quốc luật đã đành, mà các quốc gia khác cũng nên cảnh giác vì Bạn của Kẻ thù ta chắc chắn không phải Bạn ta. Không còn Chiến tranh Việt Nam và Hiệp định Paris như con dao trủy thủ đâm vào sườn, Hoa Kỳ nay đích thực lộ nguyên hình “đế quốc tư bản” như từng bị Hà Nội nguyền rủa hầu lấy cớ xâm chiếm Miền Nam.
Không còn Honda, Suzuki để biểu diễn an toàn trên xa lộ, thanh lịch trong thành phố là đã còn may mắn! Họ đã dùng một thứ võ cổ điển khiến chính phủ Cộng Sản bị buộc chấp nhận cho phép hàng ngàn tù nhân chính trị cùng gia đình và một số người dân thuộc VNCH ra đi. Đúng, Cộng sản có vẻ đã thắng tại Việt Nam nhưng Tự Do mới là kẻ chiến thắng cuối cùng. Tại Hoa Kỳ, chúng ta có thể nói tư bản đã thắng vì thương mại/business đi trước ngoại giao/diplomacy theo sau. Tổng thống Hoa Kỳ phải bãi bỏ cấm vận trước hầu lấy xuống nhãn hiệu “kẻ thù nghịch” của một quốc gia đối địch rồi các sứ quán Hoa Kỳ mới có cơ khai trương. Vào năm 1995, Hoa Kỳ đã chấm dứt cấm vận và chính thức tái bang giao với Việt nam. Từ đó, người dân Việt Nam từ Nam chí Bắc “bỏ chạy” biến thành “khúc ruột ngàn dặm” thay vì bọn “ngụy liếm gót giầy tư bản” rồi người Việt tỵ nạn có tự do sinh sống, thành công nên có thể đổ tiền về cứu giúp thân nhân. Bởi thế, chúng ta đã chứng kiến các loại xe Vespa, Honda và các thứ xe hơi tân kỳ hơn trở lại Việt Nam đặng rước cô dâu Lady Borton, người tình si của chủ nghĩa Cộng Sản, ra khỏi “thời đại đồ đá” của chính bà.
Cách nhìn tiêu biểu rằng cuộc chiến (hay nội chiến) của Việt Nam đã “được bày ra bởi các nhà tài trợ của cả hai phía” (Nguyễn Viện) hay “những mâu thuẫn giữa các lực lượng khổng lồ của thế giới đã “nuôi dưỡng khai thác” “những mâu thuẫn giữa người Việt và người Việt” (Lý Chánh Trung) là cũng có thực. Việt Nam chỉ là nơi thử lửa của 2 cường lực, mỗi bên quy tụ một nhóm anh hào, có khi ác chiến thay cho họ. Với tôi, vấn đề không chỉ dừng lại ở đó vì, trong khi Nga xô và Trung Cộng hợp tác với Miền Bắc trong kỷ luật sắt của các chế độ độc tài nên có thể “tài trợ” vô điều kiện và trong bí mật, nhưng Hoa Kỳ–nguồn “tài trợ” chính nên được biết đến nhiều nhất cho Miền Nam–thì phải công khai trong những điều kiện bị ràng buộc ba-bên giữa chính quyền, quốc hội và những công ty sản xuất vũ khí họp thành hệ thống Military-Industrial Complex. Dĩ nhiên, khỏi nói sâu xa hơn, một thứ “tài trợ” như thế có thể chấm dứt bất cứ lúc nào vì tùy thuộc vào 1 yếu tố thập phần quan trọng bao trùm tất cả: người dân Hoa Kỳ. Họ quyết định thành phần lãnh đạo, nghĩa là chính quyền và quốc hội. Chúng ta có thể so sánh khối vũ khí tối tân từ Nga Xô và Trung Cộng cộng thêm 300.000 cố vấn và quân lính Trung Cộng (nếu tin này là đúng) tại Miền Bắc với vũ khí không được tối tân bằng (lúc đầu), không dồi dào và nửa triệu quân nhân Hoa Kỳ tại Miền Nam. Như thế, không ai biết Miền Bắc đã có cố vấn của cả Nga Xô lẫn Trung Cộng và quân lính Trung cộng hiện diện; trong khi đó, sự có mặt của quân lính và cố vấn Hoa Kỳ tại Miền Nam lên truyền thông khắp nơi. Người Cộng Sản có thể dùng khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu Nước” nhắm cổ động rất thành công, không những với thế giới, mà còn với chính dân chúng Miền Bắc (bị bưng bít tin tức) và với một số người Miền Nam mà Lý Chánh Trung chỉ là một thí dụ điển hình. Ông đã đề cập tới Sài gòn trong đoạn sau đây:
[.…] Phải tuyệt vọng hay sao? Tôi nghĩ rằng: nếu sau 20 năm chinh chiến, trong một thành phố đĩ thõa như Saigon…” (Lý Chánh Trung, “Lời nói đầu-Ngày 30-12-66”, Ba năm xáo trộn, trang 11]
Từ những ngày xa xưa, tôi vẫn thường tự hỏi lý do nào khiến Lý Chánh Trung dám đăng đàn gọi Sài gòn là một “thành phố đĩ thõa”? Còn là một người trí thức, không hiểu ông đã làm gì cụ thể để cứu thành phố mà ông đang sống, đang hưởng thụ sự bình yên? Có điều chắc chắn: Ông chính khách này đã có thể ca ngợi Hồ Chí Minh ngay tại thủ đô của một quốc gia đối nghịch với chính phủ Hồ Chí Minh, chỉ vì chính thể VNCH tại Miền Nam cho phép.
Hậu quả hiển nhiên của hai thứ tài trợ khác xa như thế là Việt Nam Cộng Hòa thua trận khi Hoa Kỳ quyết định rút lui. Không còn vũ khí để tự vệ hoặc phản công trước xe tăng (vâng, xe tăng nên chiến thuật “du kích” của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ là 1 huyền thoại), chứ đừng nói tới tấn công, Việt Nam Cộng Hòa phải sụp đổ. Dẫn đến việc hơn 1 triệu người dân Việt bỏ nước ra đi. Theo những thống kê sơ sài, đã có từ khoảng 200.000 tới nửa triệu người Việt chìm xuống biển Đông. Dịch giả Phùng Thăng và nghệ sĩ ngâm thơ Hồ Điệp (Ban Tao Đàn) bị hạ sát khi trốn bằng đường bộ vv. Bao nhiêu người chết như thế nữa? Thế nên, thật khó để mà kết luận tất cả liều chết bỏ chạy chỉ vì theo chủ nghĩa Tư bản.
Còn những người sống sót ra sao? Là một trong những người sống sót, tôi xin trình bày một số hiểu biết riêng vào những vấn đề trên, không ngoài mục đích cung cấp thêm tài liệu.
2. Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa trước 1975
Tại Hoa Kỳ, trong những năm chiến tranh, một số diễn viên, nhạc sĩ, văn sĩ, nghệ sĩ, lãnh đạo tôn giáo và, đặc biệt, một số nữ văn sĩ tự nhận tranh đấu cho nữ quyền, đã mỗi người quệt một nhát cọ xám ngoét vào bức tranh Miền Nam. Họ biến thành phát ngôn viên đắc lực và họp thành một phường xiếc trang bị nhiều cái loa phường tuyên truyền cho Miền Bắc. Tuy không ai có thể từ chối mối thành tâm và lòng thiện chí, nhưng sự thiếu kiến thức và nhiều khi, ngây thơ quá mức–biểu tỏ bằng sự lập lại lời tuyên truyền dối trá như một thứ Thánh Kinh không cần kiểm chứng–đã ngăn cản họ nhìn xa hơn thứ tin tức một chiều được cung cấp bằng chính Miền Bắc hoặc những kẻ nằm vùng hoặc thiên Cộng ngay tại Sài gòn. Tôi thường đọc thấy những tin tức động trời được cái-gọi-là Student’s Union of Saigon/ Tổng hội sinh viên Sài gòn cung cấp, nhất là cung cấp cho các bà ngoại quốc xà xuống Sài gòn như một đám ong vò vẽ. Nhà nữ quyền Germaine Greer viết rằng cái-Tổng-hội này cho biết “có khoảng 200.000 gái bán bar, gái điếm, và gái bao dành cho người Mỹ tại Sài gòn. Hà nội nói rằng có tới 400.000 cô…”[Germaine Greer, The Madwoman’s Underclothes: Essays and Occasional Wrtings, trang 97, 1986] (2). Trong một cuốn khác do hai bà tác giả biên soạn, tôi còn đọc thấy con số 200.000 rồi 400.000 tăng lên 500.000! Dân số Sài gòn lúc đó có bao nhiêu người kể cả phụ nữ lão ấu?!
Họ đã gây thiệt hại trực tiếp cho cuộc chiến đấu giữa Miền Nam và đồng minh Hoa Kỳ bằng chính danh tiếng và thế lực trong các ngành chuyên môn của họ. Ngày nay, nhập vào đời sống văn hóa “thượng lưu”/highbrow lẫn mọi thứ bị liệt vào loại văn học dân gian/ đại chúng/lá cải/lowbrow cộng thêm sự may mắn được tốt nghiệp tại một đại học tại đây, tôi mới cảm nhận hết được sự tinh vi và nguy hiểm của chiến dịch tuyên truyền mà người Cộng Sản Việt Nam dành cho cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam Cộng Hòa. Đó là chiến dịch nội công ngoại kích.
2.1 Chiến dịch nội công ngoại kích với Việt Nam Cộng Hòa
Các hãng thông tấn và ký giả ngoại quốc được tự do hầu như vô hạn tại Miền Nam nên được phép lùng sục vào thành phố và chiến trường. Họ đã phổ biến hình ảnh và tin tức không luôn luôn thuận lợi cho Miền Nam. Hiện tượng một thiểu số trí thức, ký giả, báo chí, biểu tình, tuyên bố không tín nhiệm, thậm chí muốn thay thế chính quyền đã phản ảnh một số kết luận của một số người Hoa Kỳ trước đây về Miền Nam như tham nhũng, ăn chơi xa xỉ, không đủ tinh thần chiến đấu vv. không thể nào khác hơn, nhưng là người Miền Nam, chúng ta có đồng ý với kết luận đó không? Muốn xét đoán cho công bằng hơn, hãy trở về với chính báo chí của Miền Nam, một phần của nguồn cung cấp tin tức cho báo chí Hoa Kỳ.
2.1.1 Báo chí thân Cộng Sản-Một thời ảo tưởng
Là một người từng sinh sống tại Miền Nam, lại viết về Văn Học Miền Nam (VHMN) nên tôi vẫn thường hân hạnh được nhiều bạn trẻ trong và ngoài nước tin cậy để… tra hỏi một cách thẳng thắn về sự tự do xem ra quá mức của VNCH. Lắm khi, sự tự do ấy lại bị nghi ngờ hoặc hiểu lầm về khả năng áp dụng quyền lực của chính phủ. Nếu không có dịp nhìn thấy một số báo thời Miền Nam, chính tôi và có lẽ nhiều độc giả không thể tưởng tượng được chính thể VNCH có thể chủ trương tự do đến mức độ như thí dụ điển hình sau đây. Tuần báo Công Lý đề nghị chính phủ VNCH và kêu gọi Mặt Trận Giải phóng Miền Nam ngưng chiến.
“Chúng tôi đề nghị: CHÍNH-PHỦ CỘNG-HÒA V.N.
Chúng tôi kêu gọi: MẶT TRẬN GIẢI -PHÓNG M.N.
Tạm ngưng chiến ở Miền Trung”
Tuần báo Công Lý, số 5, khoảng tháng 11.1964
Tài liệu của Đại học Cornell
Trong tình cảnh tự do ấy tại Miền Nam, Đảng Cộng Sản sử dụng Mặt Trận Giải Phóng làm mặt nạ hầu xâm lấn bằng võ lực trong khi hàng loạt những tạp chí thân Cộng hay nằm vùng được tự do “xung kích” ngay trên diễn đàn văn học nghệ thuật Sài gòn. Nhiều độc giả càng có thể sửng sốt khi nhìn thấy hình bìa tạp chí Đất Nước số 14, tháng 10. 1969 và tưởng lầm đã được xuất bản tại Miền Bắc. Không, số này xuất bản và phát hành ngay tại Sài gòn, qua mặt Sở kiểm duyệt rất tài tình.
Đất Nước số 14, tháng 10. 1969
Tài liệu của nhà sưu tầm Joan Kim, Sách Xưa
Một bạn đọc gửi cho tôi một bài báo chụp lại của Ngô Ngọc Ngũ Long, đăng trên một tờ báo tại Sài gòn sau 1975, có rất nhiều chi tiết về số 14. Tuy không có ngày tháng đăng hay toàn thể trang báo, những tin tức cung cấp trong bài rất chính xác vì tác giả thuật lại theo lời một thành viên quan trọng của cả Đất Nước lẫn Trình Bầy hiện vẫn còn sống tại Sài gòn. Bởi thế, tôi xin trích lại một đoạn trước của Đất Nước để cho thấy nền tự do của Miền Nam đã nổi bật ra sao khi cho phép những người như Thế Nguyên/Trần Trọng Phủ (thuộc Đất Nước và Nhóm Trình Bầy) tiếp tục hoạt động nhiều năm:
[.…] Sau khi Bác mất, tất cả anh em ngồi lại với nhau thấy bằng mọi giá phải có một số báo tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vậy là, trong số báo có 4 bài lớn, một của Trần Trọng Phủ với bài ‘Một người nằm xuống’ trích dẫn tất cả những tin tức của báo chí trong nước và ngoài nước (…) Bài thứ hai của một tác giả người Pháp Jean Lacouture (…) do Diễm Châu dịch (…) Bài thứ ba ‘Từ con người cụ Hồ Chí Minh đến sự hình thành của Đảng cộng sản Đông Dương’ của Nguyễn Khắc Ngữ đã trình bày gần 20 trang (…) Bài viết thứ tư ‘Nói chuyện với người đã khuất’ của GS Lý Chánh Trung như lời tự sự đầy thành kính của một công dân Việt Nam trước một con người vĩ đại của dân tộc.… [Ngô Ngọc Ngũ Long, “Về một tạp chí ca ngợi Bác Hồ viết trong lòng địch”)
Cũng theo Ngô Ngọc Ngũ Long, Giáo sư Lý Chánh Trung làm chủ bút nguyệt san Đất Nước (sđd). Tác giả cho biết, nhờ có nhà in riêng ngay tại tư gia Thế Nguyên kiêm tòa soạn tại số 291 đường Lý Thái Tổ, nhóm chủ trương in được khoảng 4.000 số trong 3 ngày. Sau đó, họ phân tán ngay qua ngả bè bạn, người quen và chỉ dành “khoảng hơn trăm cuốn mới nộp lưu chiểu”. Dĩ nhiên, sở kiểm duyệt tịch thu hết và cấm phát hành nhưng đã muộn. Tác giả bài này có thể sai một chi tiết về ngày đình bản của Đất Nước. Theo Ngô Ngọc Ngũ Long thì “tất nhiên tờ báo bị đóng cửa”, nghĩa là vào tháng 10.1969, nhưng tôi đã nhìn thấy hình tờ Đất Nước số 18, tháng 2 & 3.1970 trên Diễn Đàn Sách Xưa. Họ lại tái xuất hiện lộ liễu hơn vào giữa hay cuối năm 1970 với tờ Trình Bầy. Tôi sẽ cho một thí dụ nữa, lần này bằng Trình Bầy:
Trình Bầy số 39, tháng 4.1972
Tài liệu của nhà sưu tầm “mac quan co”, Sách Xưa
Khỏi cần là một nhà phê bình hội họa cao cường cỡ Huỳnh Hữu Ủy, một thường dân cũng hiểu được tính chất tuyên truyền đậm trong bìa báo với mầu đỏ (cờ của Miền Bắc Cộng sản hay màu máu lửa) làm khung cho một hàng chữ kết án Hoa Kỳ “Những tàn phá của Mỹ tại Đông-Dương” choán một diện tích rất lớn. Hình ảnh người đàn bà ôm con khóc bằng những quả bom Hoa Kỳ làm nền cho hàng chữ đỏ đập ngay vào mắt người đọc. Người Cộng sản và những kẻ theo họ rất khôn…lỏi. Họ sẵn sàng sử dụng phụ nữ Việt Nam vào mục đích của họ. Nếu cần gợi lòng khâm phục của thế giới, họ sẵn sàng tung hình ảnh phụ nữ trẻ trung, tóc kết thành bím trong “đoàn quân tóc dài” lăm lăm cầm súng sẵn sàng bắn bỏ “Mỹ Ngụy”. Nếu cần thuyết phục thế giới về sự phá hoại của ‘Đế quốc Mỹ”, họ lại có thứ bìa báo thượng dẫn, minh họa một bà quá tuổi xuân thì, mặt mũi hốc hác, võ vàng kiểu Khi xưa em gầy gò (.…)Trông như con mèo khờ/Chờ bàn tay nâng đỡ (Nguyễn Tất Nhiên, Chỉ chừng đó thôi). Thay vì AK 47 và hầm chông, các bà mẹ Việt Nam này sẽ võ trang bằng 1 hay nhiều đứa con nheo nhóc. Trong khi đó, quý ông, bố những đứa nhỏ đó, không bao giờ thấy xuất hiện. Họ đang ngồi ở La Pagode tán gẫu hay trốn chui trốn nhủi ở địa đạo Củ Chi? Có lẽ tất cả những cô diện mini-jupe lái Honda vèo vèo như tôi, dưới mắt một số các bà ngoại quốc bị đầu độc, đều có thể là gái ăn sương, gái bán bar hay gái bao cả. Bởi thế, tôi không ngạc nhiên với cảm tưởng của Ngô Ngọc Ngũ Long về bài viết của Lý Chánh Trung trên Đất Nước:
[.…] nhưng từ những ngày bị kiềm tỏa trong vòng vây của cả một hệ thống mật vụ công an với những nhà tù và bộ máy kiểm duyệt gắt gao của địch, dám viết nên những dòng như thế này quả là một sự dũng cảm đáng nể của người cầm bút.…”[Ngô Ngọc Ngũ Long, sđd]
Trên thực tế, “dũng cảm” kiểu đó trong một quốc gia vẫn còn tự do báo chí thì có yêng hùng gì, nên một câu hỏi vẫn thường được nhiều người, nhất là các bạn trẻ nghiên cứu xuất thân từ Miền Bắc hay sinh trưởng tại hải ngoại đặt ra cho tôi: Hệ thống luật pháp của VNCH tổ chức và thi hành thế nào? Tại sao những tờ báo như vậy lại có thể nhơn nhơn xuất bản và phát hành tại ngay Sài Gòn? Họ không thể tưởng tượng nổi đã có những “tờ báo” lộ liễu đến thế mà chủ nhiệm, chủ bút và tác giả không bị cùng nhau “xộ khám” hay “tóm gọn”.
Sở dĩ có sự “tréo cẳng ngỗng” ấy, tôi nghĩ, vì chân dung VNCH không chỉ có bộ mặt của loại báo nằm vùng hay thân Cộng. Chân dung ấy còn gồm cả sinh hoạt phản ảnh mọi khía cạnh của một xã hội có tự do, có pháp luật dù có hạn chế tại Miền Nam. Do đó, muốn trả lời thắc mắc ấy tương đối đầy đủ dù giới hạn trong một bài viết, tôi tìm hiểu, không phải về các tờ báo nằm vùng, mà về một tờ báo không-Cộng sản và không-nằm vùng của Miền Nam đã đụng độ với chính quyền. Đó là nhật báo Sóng Thần và sự kiện tờ báo này, cùng tờ Đại Dân Tộc và tờ Điện Tín, bị Chính phủ VNCH Nguyễn Văn Thiệu truy tố vì tội “Công khai phỉ báng và mạ lỵ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa” vào năm 1974. 3 tờ báo nêu trên không chỉ là những tờ báo duy nhất bị truy tố và tịch thu. Thời đó, chính phủ thắt chặt vòng kiểm soát bằng cách bắt buộc báo phải ký quỹ hàng chục triệu bạc làm giới báo chí vô tội điêu đứng, nhưng báo của hội đoàn hiệp hội thì được tha. Các tạp chí văn học chuyển thành “giai phẩm”. Việc tịch thu báo xẩy ra thường xuyên hơn nhắm làm sạt nghiệp chủ báo có tiếng chống đối.
Sở dĩ tôi chọn Sóng Thần vì lý do của vụ kiện xuất phát từ việc họ và 2 tờ báo khác đăng tải “Bản Cáo Trạng Số 1” gồm 6 điểm chống Tham nhũng của “Phong Trào Nhân dân chống Tham nhũng” do Linh Mục Trần Hữu Thanh dẫn đầu, nhưng mọi sự đã không dừng ở đó. Phần lỗi lầm của chính phủ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khi lạm dụng quyền Hành Pháp nhắm đàn áp báo chí đã rõ rệt, nhưng phần nhật báo Sóng Thần ra sao? Có đúng họ đại diện cho làng báo hay dân Miền Nam lúc bấy giờ khi gần như biến thành một thứ loa cho Phong trào trong khi chỉ có 3 nhật báo lớn đăng bản “Cáo trạng số 1” và các cáo trạng hay tuyên cáo tiếp theo của Linh Mục Trần Hữu Thanh? Lý do nào khiến họ đẩy mạnh việc yêu cầu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức? Tại sao linh mục Trần Hữu Thanh có thể kết án, hoặc đặt nghi vấn, không những chỉ với viên chức chính phủ mà còn chỉ đích danh Tổng Thống (và phu nhân) Nguyễn Văn Thiệu? Chính phủ VNCH đối xử cách nào với cuộc vận động của Sóng Thần và những phong trào hay tổ chức có liên hệ? Ngày nay, với nhiều tài liệu hơn, ít nhất tôi có thể trình bày nhiều sự kiện liên quan đến các câu hỏi trên dù, nếu muốn, cũng chưa hay không bao giờ có thể trả lời được một cách thỏa đáng.
(Còn tiếp)
bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc
- Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng Sản: Cựu Chiến Binh Không Quân Trần Tam Tiệp và Trung Tâm Văn Bút Hải Ngoại (kỳ chót)) - 29.12.2025
- Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng Sản: Cựu Chiến Binh Không Quân Trần Tam Tiệp và Trung Tâm Văn Bút Hải Ngoại (kỳ 6) - 18.12.2025
- Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng Sản: Trương Vũ (kỳ 5) - 08.12.2025
- Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng Sản: Trương Vũ (kỳ 4) - 07.12.2025
- Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng sản: Phùng Nguyễn (kỳ 3) - 29.11.2025
- Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng sản: Tạ Chí Đại Trường (kỳ 2) - 21.11.2025
- Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong và ngoài Trại Giam Tù Cải Tạo của Cộng sản: Tạ Chí Đại Trường (kỳ 1) - 21.11.2025
- Tình Ca - 27.02.2025
- Rồng rắn lên mây - 14.02.2025
- Nhà thơ Viên Linh: Khởi hành từ Thủy Mộ Quan (kỳ chót) - 24.12.2024
- Nhà thơ Viên Linh: Khởi hành từ Thủy Mộ Quan (kỳ 4) - 23.12.2024
- Nhà thơ Viên Linh: Khởi hành từ Thủy Mộ Quan (kỳ 3) - 20.12.2024
- Nhà thơ Viên Linh: Khởi hành từ Thủy Mộ Quan (kỳ 2) - 19.12.2024
- Nhà thơ Viên Linh: Khởi hành từ Thủy Mộ Quan (kỳ 1) - 18.12.2024
- Từ một góc California: Nhà văn kiêm dịch giả Mặc Đỗ, một đời ngược gió - 10.05.2024
- Từ một góc California-Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: Cuốn sổ bình sanh công với tội (kỳ 9) - 15.03.2024
- Từ một góc California-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Trận Chiến Mậu Thân (kỳ 8) - 08.03.2024
- Nhật ký Tham dự Gian hàng Hội ta - 12.02.2024
- từ một góc california – gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 7) - 15.11.2023
- từ một góc california – gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 6–phần B) - 10.11.2023
- từ một góc california – gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 6–phần A) - 09.11.2023
- từ một góc california – gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 5) - 17.10.2023
- từ một góc california – gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 4) - 09.10.2023
- từ một góc california – gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 3) - 22.09.2023
- từ một góc california – gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 2) - 19.09.2023
- Những tử thi đi giữa chúng ta - 27.06.2023
- Sọ người và chim - 16.03.2023
- Một Bức Ảnh, Bảy Nhân Vật: Nhà Xuất Bản Kim Anh trong Tình Cảnh Xuất Bản tại Miền Nam (Kỳ 6) - 27.09.2022
- Một Bức Ảnh, Bảy Nhân Vật: Nhà Xuất Bản Kim Anh trong Tình Cảnh Xuất Bản tại Miền Nam (Kỳ 5) - 26.09.2022
- Một Bức Ảnh, Bảy Nhân Vật: Nhà Xuất Bản Kim Anh trong Tình Cảnh Xuất Bản tại Miền Nam (Kỳ 4) - 23.09.2022
- Một Bức Ảnh, Bảy Nhân Vật: Nhà Xuất Bản Kim Anh trong Tình Cảnh Xuất Bản tại Miền Nam (Kỳ 3) - 22.09.2022
- Một Bức Ảnh, Bảy Nhân Vật: Nhà Xuất Bản Kim Anh trong Tình Cảnh Xuất Bản tại Miền Nam (Kỳ 2) - 21.09.2022
- Một Bức Ảnh, Bảy Nhân Vật: Nhà Xuất Bản Kim Anh trong Tình Cảnh Xuất Bản tại Miền Nam (Kỳ 1) - 20.09.2022
- Nhà văn/Trung Tá Tâm lý chiến Văn Quang trên hành trình cùng Văn Nghệ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (phần III) - 07.06.2022
- Nhà văn/Trung Tá Tâm lý chiến Văn Quang trên hành trình cùng Văn Nghệ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (phần II) - 06.06.2022
- Nhà văn/Trung Tá Tâm lý chiến Văn Quang trên hành trình cùng Văn Nghệ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (phần I) - 03.06.2022
- Nhà văn Bùi Bích Hà [1.1938-7.2021]- Từ Tràng-An báo, Huế, Việt Nam đến Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ (kỳ 5–hết) - 14.01.2022
- Nhà văn Bùi Bích Hà [1.1938-7.2021]- Từ Tràng-An báo, Huế, Việt Nam đến Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ (kỳ 4) - 13.01.2022
- Nhà văn Bùi Bích Hà [1.1938-7.2021]- Từ Tràng-An báo, Huế, Việt Nam đến Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ (kỳ 3) - 12.01.2022
- Nhà văn Bùi Bích Hà [1.1938-7.2021]: Từ Tràng-An báo, Huế, Việt Nam đến Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ (kỳ 2) - 11.01.2022
- Nhà văn Bùi Bích Hà [1.1938-7.2021]: Từ Tràng-An báo, Huế, Việt Nam đến Phương trời khác, Little Saigon, Hoa Kỳ (kỳ 1) - 10.01.2022
- Từ Giải khăn sô Cho Huế của Nhã Ca đến Mourning Headband for Hue của dịch giả Olga Dror: Hồi Kýhay Truyện Ký? - 30.03.2015
- Nguyễn Tà Cúc diễn thuyết về đề tài "Nhân vật nữ trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Đỗ, Viên Linh" - 20.09.2014
- Trăm năm Văn học Tự do: Văn học Miền Nam hay “Văn học Đô thị Miền Nam 1954-1975”? - 01.08.2014
- Vài tương đồng chính trong Văn học Việt Nam qua hai cuộc lánh nạn Cộng sản - Nhà văn Miền Nam và Mặc Đỗ trong Văn học Miền Nam Biển ngoài - 09.07.2014
- Trăm năm Mặc Đỗ- Mặc Đỗ và Văn học Miền Nam - 27.06.2014
- II-VĂN HỌC VIỆT NAM BIỂN NGOÀI -Cuộc di tản ra khỏi Việt Nam, tháng 4. 1975/ Sống và viết trên một quê hương mới - 20.06.2014
- II-Mặc Đỗ trăm năm: VĂN HỌC VIỆT NAM BIỂN NGOÀI -Cuộc di tản ra khỏi Việt Nam, tháng 4. 1975 - 13.06.2014
- Trăm năm Mặc Đỗ: Những "con người hào hoa" của Cõi tự do - 06.06.2014
- Văn học Miền Nam, tờ Tự Do, Nhóm Quan Điểm và Văn học Hải ngoại- MẶC ĐỖ TRẢ LỜI (thêm phần đính chính của Nguyễn Tà Cúc) - 23.05.2014
- Nguyễn Xuân Hoàng và vài "ý nghĩ trên cỏ" - 23.08.2013
- Từ Áo dài “Lemur” đến Thái độ tiêu cực của Tự lực Văn đoàn với Nữ đồng nghiệp cấp tiến Miền Nam - 18.07.2013
- Nguyễn Tà Cúc trả lời độc giả Phùng Nguyễn - 12.05.2009
- Bài Ca Của Rắn - 23.01.2009
4 Comments To "Từ một góc California – Gìn giữ tấm dư đồ như nâng niu áo trận (kỳ 1)"
#1 Comment By Long Nguyen On 14/09/2023 @ 6:14 pm
Sử học, History
Người Việt thường xem Sử là môn học sự kiện qua các thời kỳ triều đại chính thể. Học Sử để làm gì? Để “tự hào”. Vậy thôi. Thật ra với đặc tính nghiêm khắc thẩm tra – critical examination các nguồn tài liệu sự kiên, lịch sử còn là môn học của vô số đề tài khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực.
History, as a discipline, is traditionally centred on peoples, cultures, countries, and regions, but everything has a history that can be described and studied. Examples of these histories include deaf history, the history of movies, the history of Arabia, the history of science, the geologic history of Earth, the history of the organization of work, the history of logic, the history of early Christianity, and the history of coffee, among many others.
Sử, là một môn học, theo truyền thống thường tập trung vào các dân tộc, văn hóa, quốc gia và khu vực, nhưng mọi thứ đều có lịch sử có thể được mô tả và nghiên cứu. Ví dụ về những lịch sử này bao gồm lịch sử điếc, lịch sử điện ảnh, lịch sử Ả Rập, lịch sử khoa học, lịch sử địa chất của quả địa cầu, lịch sử tổ chức công việc, lịch sử lý luận, lịch sử Thiên Chúa Giáo nguyên thủy và lịch sử của cà phê, trong số nhiều môn lịch sử khác.
Do vậy, không chừng thay vì chỉ loay hoay lịch sử chính trị các chính thể và hận thù hòa giải được mất thắng thua, thì khi đọc lại một công trình nghiên cứu nào đó về lịch sử nền hành chính công quyền, cải lương, tân nhạc, báo chí, giáo dục, y tế, lúa Thần Nông IR-8, v.v của VNCH giai đoạn chiến tranh 1954-1975, người ta có thể sẽ có nhiều kiến thức thêm hơn. Cũng vậy, tại sao không viết ra lịch sử, thí dụ, dân tộc Kinh, nghề đánh cá, đường biên giới, ca khúc, tuồng chèo, v.v. dưới thời VNDCCH. Biết đâu sẽ mở rộng tri thức và tầm nhìn về con người VN hơn. 😊🙂
https://www.britannica.com/topic/history
#2 Comment By Nguyễn Tà Cúc On 08/11/2023 @ 9:04 am
Tôi cũng xin lỗi đã không hồi đáp được ngay vì bận đi xa trong thời gian qua. Tôi không dám bàn về Sử vì không có khả năng, nhưng đồng ý rằng lịch sử của một dân tộc không nên hạn chế vào các cuộc chiến tranh. Vấn đề còn lại, cho người Việt ngoài nước như chúng ta, vẫn là tài liệu, nhất là về một quốc gia (như Việt Nam Cộng Hòa) không những không còn hiện hữu, mà còn bị thất thoát nhiều thứ. Dù vậy, tôi rất lạc quan về sự thành công của bất cứ ai muốn nghiên cứu “về lịch sử nền hành chính công quyền, cải lương, tân nhạc, báo chí, giáo dục, y tế, lúa Thần Nông IR-8, v.v của VNCH giai đoạn chiến tranh 1954-1975” (như Long Nguyễn gợi ý) vì, ngày nay, sự đi lại giữa bên ngoài và Việt Nam đã dễ dàng hơn nếu muốn trở lại tìm kiếm, đồng thời các đại học Hoa Kỳ chắc chắn cũng lưu trữ được khá nhiều tài liệu. Sau nữa, tôi cảm thấy, qua chính kinh nghiệm của mình, càng biết sang các lãnh vực nghiên cứu khác ngoài lãnh vực đã chọn thì càng tốt hơn, vì có khi vừa tránh được những suy nghĩ một chiều vừa khám phá được hướng đi mới đặng giải quyết vấn đề đang bế tắc. Một lần nữa, cảm ơn Long Nguyễn đã cho ý kiến xác đáng. -Nguyễn Tà Cúc
#3 Comment By Hồ Thanh Nhàn On 17/09/2023 @ 1:32 pm
Nếu được, đề nghị tác giả đăng lại Bản Cáo Trạng Tham Nhũng số 1. Cảm ơn
#4 Comment By Nguyễn Tà Cúc On 08/11/2023 @ 7:35 am
Tôi xin lỗi đã không hồi đáp được sớm hơn vì có chuyến đi xa mới trở về. Thật ra, lúc mới sửa soạn cho phần bài này, tôi cũng đã có ý nghĩ tương tự, là đăng lại các bản cáo trạng đó. Nhưng càng tìm thấy nhiều tài liệu hơn–thí dụ như hồi ức của Đinh Từ Thức sau 1975 và phản bác của Phan Nhật Nam trước 1975–, tôi càng nhận ra một trong những khía cạnh của vấn đề không còn chỉ là tệ nạn “Tham nhũng” mà là phản ứng của giới báo chí và vài nhật báo không thân Cộng sản về tình hình đất nước lúc ấy. Trước đây, chúng ta tương đối đã có nhiều tài liệu về nhân sự, báo chí hoặc tạp chí thân Cộng/Thành phần Thứ Ba/Đứng giữa. Nay tôi muốn chuyển sang phần báo chí/tạp chí Không-Thân Cộng để có thể nhìn lại một quãng Việt Nam Cộng Hòa một cách đầy đủ hơn nhắm phân tích một chế độ tự do nay đã lùi vào quá khứ. Trân trọng cảm ơn Hồ Thanh Nhàn đã góp ý-Nguyễn Tà Cúc