Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Huyền Thoại – Phần II: Từ Tro Than Chiến Bại

 

Bà đã không bắt đầu như thế. Hơn ba mươi năm về trước, bà là người vợ trẻ có chồng đi xa. Bà là người mẹ có con đi xa. Bà là người em có anh đi xa. Rất xa và không hẹn ngày về. Người đàn bà, cô đơn và sợ sệt trong những ngày đầu của dâu bể, nay phải đương cự với những thảm họa vô cùng lớn lao, một mình. Nước mất nhà tan,  người chồng, người cha đang gánh vác gông xiềng ở một xó rừng nào đó, không hẹn ngày về. Và những đứa con thơ phải nuôi nấng, phải bảo bọc. Ngoài kia, cùng với những khẩu hiệu ồn ào sắt máu vọng ra không ngưng nghỉ  từ loa phóng thanh, là cả một hệ thống bạo lực võ trang tận răng sẵn sàng nghiến nát tất cả những gì có thể được xem là chướng ngại của chế độ. Và đêm đến, là tiếng chân dọa nạt, tiếng gõ cửa rụng tim, tiếng quát tháo rợn người, và tiếng than van uất nghẹn. Nhưng người vợ trẻ, nạn nhân của một thời điêu linh cùng cực, giữa gọng kềm của một thế lực hung bạo, sau cùng đã không cho phép mình gục ngã. Bởi vì có quá nhiều điều cần phải được chống đỡ bởi chính bờ vai mỏng manh trên tấm thân gầy yếu vì đói khát của nàng. Và bằng vào tình yêu và sự can trường không thể giải thích được, nàng gượng dậy và bắt đầu cuộc chiến đấu mới. Và chiến thắng. Nỗi đau nước mất nhà tan, nỗi đau sinh ly tử biệt, nàng nuốt ngược vào. Nỗi kinh hoàng dành cho thế lực hung tàn, nàng đạp xuống. Núi đồi hiểm trở, nàng bước lên, vượt hàng ngàn cây số để tìm đến chồng đến cha đến anh và mang đến họ thẻ đường, bịch muối, những gừng cay, những khô mặn, và trên hết,  hy vọng. Vào những buổi tối, phía sau bức vách rách nát hoặc trống trải ở một nơi nào đó giữa lòng đô thị cũ đông đúc hay vùng kinh tế mới hoang vắng, từng mảnh và từng mảnh, nàng tháo gỡ những nọc độc văn hóa đang tìm cách xâm nhập trí não đứa con thơ bởi nền giáo dục hồng hơn chuyên. Và như thế, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng tháng khác, năm này qua năm khác, nàng gìn giữ cho mình, cho người chồng đi xa, xuyên qua đứa con, ước mơ về một tương lai tươi sáng.  Người đàn bà, đối diện với những thử thách vô cùng to lớn, những đe dọa vô cùng khủng khiếp, đã không cho phép mình gục ngã. Nàng nhìn thẳng vào nỗi sợ, và khuất phục nó. Nàng đã từ chối làm nạn nhân.

Trích từ Huyền Thoại phần I: Người Đàn Bà Phía Bên Kia Đường

Phần II: Từ Tro Than Chiến Bại

Điều gì đã biến người đàn yếu ớt nhưng can trường của chúng ta thành một người  nhăn nhúm, giận giữ, và tuyệt vọng đang vung vẫy lá cờ vàng và luôn miệng nguyền rủa trong hàng ngũ những người biểu tình ở phía bên kia đường, bạn hỏi. Xin thưa, chính là cái "nỗi đau vĩnh cửu, bất khả xâm phạm, bất khả tư nghì" nói trên. Nó bắt đầu bởi một niềm tuyệt vọng, được tô điểm vẽ vời theo năm cùng tháng tận, và sau cùng trở thành một điều không thực và trong cùng một lúc, được tin vào! Nó bắt đầu như thế nào? Như một điều rất gần với những câu thơ của Cao Tần:

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng uất hận gối lên nhau
Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới:
"Ta làm gì cho hết nửa đời sau?" …

Khoảng đầu năm 1996, dưới "screen name" PN, tôi trích dẫn bài thơ này để diễn tả tâm trạng của người Việt tị nạn vào những năm 90’s. Bài viết có tựa “Những cảm nghĩ rời nhân đọc thơ Cao Tần” và đăng trên soc.culture.vietnamese, một diễn đàn Việt ngữ ở đó những tranh cãi giữa những người khác chính kiến diễn ra hầu như vô tận. Bài viết, tôi nghĩ rằng, đã nói lên phần nào tâm trạng của người tị nạn xa xứ nhận ra mình đã mất quê hương, không cách này thì cách khác, cái tâm trạng khá phổ biến ở những năm 90’s. Vào thời điểm này, những ước mơ phục quốc, dành lại quê hương dưới hình thức bạo động chỉ còn là một điều không tưởng. Đất nước vẫn còn đó, nơi chôn nhau cắt rốn vẫn còn đó, nhưng cái quê-hương-trong-trí-tưởng thì đã ngàn thu vĩnh biệt. Đó là một tâm trạng vô cùng u uất.

Đa số người tị nạn cộng sản thuộc thế hệ một, bất kể phương tiện đã đưa họ đến bến bờ tự do, cùng chia xẻ cái tâm trạng u uất, tuyệt vọng, và cay đắng này. Và nỗi sợ. Sợ bị quên lãng, bị bỏ rơi, và trên hết, bị đánh giá sai không phải bởi ai khác mà bởi chính con cháu mình. Đã hai mươi năm từ cuộc bể dâu, những đứa con đứa cháu nay đã trưởng thành. Và kiến thức cùng suy nghĩ của chúng về chiến tranh Việt nam, vốn được nhào nặn bởi những nhận định thiên lệch của giới truyền thông chính mạch và giới hàn lâm Âu Mỹ, là điều không thể bỏ qua!

Trong bài trả lời phỏng vấn của Da Màu, Trâm Lê đã diễn tả nỗi lo sợ này một cách chính xác:

… Chúng tôi biết rằng nhiều người trong số họ vẫn còn mang theo một nỗi đau mà họ cảm thấy chưa được nhìn nhận bởi lịch sử và có lẽ ngay cả bởi chính gia đình họ, vì vậy phản đối là một cách cho họ lấy (lại) tiếng nói và thấy lại chính mình như những người lính can trường đang chiến đấu để bảo vệ đất nước và người thân và rằng họ không phải là những “kẻ bại trận” hay “con rối” như từng bị đề cập tới bởi cả chính quyền Mỹ lẫn chính quyền cộng sản như thể họ không có chút giá trị nào trong lịch sử.
… We knew that for many of them, they have been carrying around a pain that they feel have not been acknowledged in history and possibly by their own families, so protesting is a way for them to (re)claim their voice and themselves as brave soldiers who fought to protect their country and loved ones and that they are not these “losers” or “puppets” as they are referred to by both the Communist and American government as if they are not valid in history.

Đây là nỗi lo sợ có thật, tôi biết chắc. Bởi vì nó đã từng là cái ám ảnh của chính tôi. Phần dưới đây trích từ đoạn kết của truyện ngắn “Đêm Oakland. Câu hỏi.”

… Và trên hết, điều gì đã khiến Đức và những người bạn của hắn không chịu quay lưng lại với cái quá khứ buồn thảm mà bọn người lớn chúng tôi cứ giữ rịt lấy như một bộ phận bất khả phân của phần đời còn lại. Tại sao tôi chưa từng đặt ra cho chính mình những câu hỏi này khi bắt gặp những người tuổi trẻ dắt tay nhau đi vào quán ăn trong khu phố Việt Nam đông đúc ở xứ người, ở đó họ sẽ gọi phở hay bún bò và trao đổi với nhau những câu nói mà cấu trúc có khi bao gồm những từ ngữ không chỉ thuộc về tiếng mẹ đẻ? Vì họ đã xem những cuốn phim về chiến tranh Việt Nam do những đạo diễn ngoại quốc tăm tiếng thực hiện với những diễn viên nói tiếng Tàu và được dàn dựng ở Mã Lai hay Miến Điện? Vì họ đã đọc những trang sử của những sử gia cũng tăm tiếng không kém và được viết ra ở mười ngàn dặm phía sau những trận địa ở đó tôi và bạn bè đã để lại những xương cùng máu? Phải chăng chính nỗi sợ hãi phải đối diện với cách nhìn của những người trẻ tuổi về mình qua cái lăng kính làm nên bởi những điều nói trên làm tôi tránh né họ? Tôi nghĩ đến nỗi trơ trọi của Đức và những người bạn của hắn trong cuộc hành trình tìm kiếm một ý nghĩa cho cái giá quá đắt đỏ không chỉ riêng tôi và những người bạn của tôi mà cả Đức và những người bạn của hắn phải trả cho những điều đã xảy ra nhiều năm về trước…

Truyện được ấn hành lần đầu tiên vào năm 2000 trên tạp chí Văn Học (California, Hoa Kỳ), và điều viết ra không phải chỉ đến với tôi ngay vào những ngày tháng đó. Chúng là kết quả của nhiều năm tìm tòi và chiêm nghiệm (và thất vọng và phẫn nộ) sau khi đặt chân lên xứ người. Những lục lọi, tìm kiếm vô vọng trong sách sử Âu Mỹ về vai trò và hình ảnh trung thực của người lính miền Nam trong cuộc chiến tranh phủ chụp lên đất nước mình nhân danh hòa bình độc lập dân chủ tự do công bằng bác ái đã không hề mang đến một kết quả nào đáng kể. Thay vào đó là những hình ảnh méo mó, những bình phẩm xấc xược, những nhận định thiên lệch với mục đích biến một tập thể bất hạnh thành vật tế thần nhằm gỡ gạc cho sự phá sản của một cuộc phiêu lưu thừa thãi, hợm hĩnh, và vô cùng tốn kém về mặt nhân mạng của người dân Việt. Cuộc chiến đã lấy đi mạng sống hàng triệu người trong đó có hàng trăm ngàn đồng đội của mình bỗng trở thành một tập hợp vĩ đại của dối trá dựng nên bởi không chỉ kẻ thắng mà cả "người bạn lớn" thuộc phe bại trận. Tôi, từ dạo đó, luôn luôn cảm thấy vô cùng khôi hài khi nghe được những lời tri ân chân thành hướng đến người "bạn đồng minh" vĩ đại. Và truyện ngắn thứ hai trong series "Đêm Oakland" đã gần mười năm viết mãi chưa xong, ngoại trừ cái tựa, như một tiếng kêu thống hận. "Không phải cuộc chiến tranh của tôi!" Cũng có khi chỉ cần mỗi cái tựa.

Tuyệt vọng, cay đắng, hoài nghi dồn lại thiêu cháy tâm tư những người lính cũ (trong đó có tôi), nay đã già đi rất nhiều, và hoàn toàn không phải là điều dễ dàng để lại một lần nữa chiến đấu và chiến thắng cái cám dỗ biến mình thành nạn nhân cho đến hết đời. Rõ ràng là đã có một số người buông xuôi, chìm đắm trong cay đắng. Và nỗi đau đã một lần vượt qua, nay trở thành người bạn đường thân thiết nhất. Nỗi đau thiêng liêng, vĩnh cửu, bất khả xâm phạm, bất khả tư nghì! Nỗi đau biến nạn nhân thành cay độc, với chính mình và với đời sống, và đặc biệt với con cháu mình! Họ cảm thấy bất lực trong việc truyền đạt cho thế hệ trẻ những kinh nghiệm sống chết với cái chế độ đã đày ải họ, với "người bạn lớn" đã phản bội họ, và nhất là nỗi oan khiên bị lịch sử chối bỏ vị trí xứng đáng của họ. Và hoài nghi đã đẩy họ đến những kết luận vô lý một cách vô thức: Họ lo sợ tuổi trẻ sẽ có cảm tình với cộng sản, thân cộng, và cuối cùng gia nhập đảng cộng sản! Đây sẽ là ngày tận thế của điều họ đã đổ xương máu và chịu thống khổ bấy lâu nay! Họ tìm đủ mọi cách để bảo vệ giới trẻ khỏi sa ngã bằng cách cấm đoán chúng đến gần bất cứ điều gì có liên hệ gần xa với cộng sản, một mảnh vải, hay một món đồ sứ!

Một trong những lập luận mà những người chống cộng cực đoan thường sử dụng để biện minh cho những cấm đoán vô lý của mình là "ngay cả Hoa Kỳ cũng cấm cộng sản hoạt động trên đất nước của họ."  Điều này không đúng, nếu chúng ta ghé thăm website của đảng cộng sản Hoa Kỳ ở địa chỉ http://www.cpusa.org/. Nếu bạn muốn trở thành đảng viên cộng sản Hoa Kỳ, mời bạn vào… đăng ký. Nếu bạn là người chống cộng, tôi nghĩ càng có nhiều lý do để ghé thăm website này để tìm hiểu tại sao nó (đảng cộng sản Hoa Kỳ) được phép hoạt động. Bởi vì nó vô hại một cách thảm hại, như một trò đùa vô duyên. Nó vẫn luôn luôn ở đó và luôn luôn không có một tác động nào hết lên cái xã hội đứng đầu thế giới tư bản này! Và chúng ta, thế hệ di dân đầu tiên lại đi lo ngại con cháu mình, không nhiều thì ít đã ảnh hưởng văn hóa tư bản Âu Mỹ, đi theo cộng sản! Nỗi lo vô duyên cớ này là trở ngại lớn nhất trong việc tạo dựng một cuộc đối thoại xây dựng và cởi mở giữa các thế hệ lớn bé của cộng đồng. "Người lớn" chỉ còn mỗi một chỗ dựa truyền thống, "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó," "gọi dạ bảo vâng" để "giáo dục" giới trẻ, như thể con cháu mình chưa hề trưởng thành và không hề đủ trí khôn và bản lãnh để quyết định nên đặt niềm tin vào đâu. Với tâm lý này, phần đông các cuộc đối thoại trở nên bất khả, bởi vì một bên chỉ muốn dạy dỗ và không muốn nghe và bên kia thì chỉ có quyền lắng nghe mà không có quyền nói.

Những thí dụ điển hình cho đối thoại "một chiều" này có thể tìm thấy ở các bài viết/phát biểu của những người ủng hộ phe biểu tình.  Luôn luôn là thái độ cha chú trong khi chỉ trích tác giả của những tác phẩm bị lên án theo kiểu "chúng mày làm chuyện bậy bạ," "chúng mày không được làm thế này thế nọ!" Không hề một có ý kiến nào đặt vấn đề ở một góc nhìn khác, vô cùng cần thiết cho một cuộc đối thoại ý nghĩa, bắt đầu bởi hai chữ đơn giản “tại sao” dành cho chính mình. Tại sao Steven Toley đã vẽ lá cờ như anh đã vẽ. Tại sao Bùi T. Long nhìn cộng đồng như là người cần đến Viagra? Không phải là tại vì họ đánh giá chúng ta dựa vào những điều họ nhìn thấy ở một thiểu số ồn ào quá khích hay sao? Ngoài ra, thêm một điều vô cùng nguy hiểm cho thái độ "cha chú" này là người lớn đôi khi đi quá xa trong việc "giáo huấn," xa đến độ không thể chấp nhận được. Trong "Nạn Nhân," tôi có nhắc đến ông Đỗ Văn Phúc với bài viết sử dụng thứ ngôn ngữ chỉ nên dành cho kẻ thù thay vì cho con cháu của chiến hữu của mình, trong đó có người đã khuất núi. Hoặc như ký mục gia Bùi Bảo Trúc, trong phút nóng giận đã gởi đến Huỳnh Thủy Châu những lời mắng chửi thô bỉ làm "nỗi duyên dáng" mà tác giả "Thư gởi bạn ta" đã dày công bồi đắp nhiều năm trở thành tiền công tận phế.

Nguyễn Thành Việt, giảng viên đại học USC, đưa ra một nhận xét sắc bén về cái gọi là "cộng đồng" trong "Let’s Talk" của anh:

Tôi từ chối không muốn tin rằng cộng đồng hải ngoại chỉ bao gồm những người to tiếng hò hét nhất, đòi hỏi mọi người phải nhìn nhận sự tổn thương của họ là chuyện quan trọng nhất trên đời này. Họ là một phần của cộng đồng Việt hải ngoại, nhưng cũng còn biết bao nhiêu người khác nữa, với biết bao nhiêu ý tưởng, cảm giác, và cách nhìn cuộc sống khác. Những cách nhìn ấy như thế nào? Tôi không biết, vì có ai nghe thấy những tiếng nói ấy đâu. Người Việt ai cũng sợ nói ra rồi sẽ bị sự hò hét phản đối của nhóm đang tự nhận danh nghĩa là cộng đồng. Cho nên, chúng ta hãy thử quên đi chữ “cộng đồng” và thay vào bằng “các cộng đồng”. Không chỉ có một cộng đồng người Mỹ gốc Việt, mà có rất nhiều cộng đồng Mỹ gốc Việt, cũng như không phải chỉ có một nước Mỹ, mà có đến 50 bang trong một Hợp chủng quốc, và tầng tầng lớp lớp những cộng đồng nằm trong mỗi cộng đồng, cái nào cũng có một câu chuyện cần phải kể ra. Đó chính là ý nghĩa tối hậu của cuộc triển lãm VAALA.

Sau hết, anh kết luận:

… Cha mẹ tôi chống phá thai, tôi thì ủng hộ quyền chọn lựa của người phụ nữ. Cha mẹ tôi bầu cho John McCain, tôi bầu cho Barack Obama. Lúc gia đình ngồi vào bàn ăn Giáng sinh với nhau, những cái khác biệt ấy thế nào rồi cũng nảy ra trong câu chuyện. Nhưng chúng tôi có lớn tiếng, chửi bới và gọi nhau bằng đủ thứ tên không? Không. Chúng tôi cùng trò chuyện.

Những tiếng nói như thế này của thế hệ 1.5 và thế hệ 2 chìm đắm trong những tiếng động quá khích ồn ào, và rõ ràng đã không có một tác dụng nào với những người tự xưng/gán cho mình nghĩa vụ nói giùm cộng đồng. Họ luôn có một niềm tin sắt đá về vị trí tuyệt đối không thể sai lầm của họ. Tuy vậy, không phải ai trong số những người bênh vực nhóm biểu tình cũng có thái độ khắc nghiệt, bất cận nhân tình như ông Đỗ Văn Phúc. Nhà văn Chu Tất Tiến, tác giả của bài viết "Thư gửi Trâm Lê, người tổ chức triển lãm tranh tại VAALA: Tính bất khả thi của việc phủ định nguồn cội,” là một tấm gương sáng. Trong khi không đồng ý với phần lớn các phát biểu của nhà văn này, tôi không hề mất đi lòng kính trọng dành cho sự hòa nhã và trân trọng của ông  khi nhắn gởi ý kiến của mình đến Trâm Lê, một người thuộc hàng con cháu. Sẽ là con đường dài và gian nan để xóa đi những cách biệt giữa các thế hệ người Việt tị nạn, nhưng  hòa nhã và trân trọng luôn giúp đẩy đối thoại đi xa hơn.

Nhà văn Chu Tất Tiến là người vô cùng bi quan, có cái nhìn đen tối về hậu vận của cộng đồng và đặc biệt về niềm tin dành cho thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của cộng đồng, dựa trên đoạn trích dẫn dưới đây:

Chúng tôi biết rằng chỉ trên một thập niên nữa thôi, nếu chế độ Cộng Sản không sụp, cuộc chiến của chúng tôi từ từ tàn phai, như những chiếc lá cuối cùng của mùa thu. Sẽ không còn biểu tình với lá cờ vàng vĩ đại nữa. Những văn phòng cộng sản sẽ mọc ra như nấm ở đây. Các em thuộc thế hệ thứ hai, nếu không tỉnh táo, sẽ thành những thành phần cốt cán cho một chế độ “người bóc lột người”.

Bên cạnh việc những dự kiến bi thảm ở trên hoàn toàn không được tác giả hỗ trợ với bất cứ lập luận khả tín nào hết, đoạn văn giúp xác nhận điều tôi đã trình bày trước đây. "Cuộc chiến đấu của chúng tôi" mà chủ yếu là những cuộc "biểu tình với lá cờ vàng vĩ đại" được thực hiện bởi và trong tư thế của nạn nhân, nghĩa là ở thế đối đầu tuyệt vọng bởi vì hoàn toàn không cân sức. Chuyện văn phòng cộng sản sẽ mọc ra như nấm ở thủ đô tị nạn và giới trẻ (vốn luôn luôn bị xem là ngây thơ, sẵn sàng làm mồi ngon cho tuyên truyền của cộng sản) sẽ biến thành công cụ của đảng cộng sản thì có vẻ hoang đường, và chỉ có thể mọc ra từ niềm tuyệt vọng mênh mông và nỗi hoài nghi cùng cực!

Tôi hoàn toàn không thấy cái quang cảnh bi thảm mà nhà văn Chu Tất Tiến mô tả ở đoạn trên trong mười hay hai mươi năm sau này. Một buổi sáng cuối tuần cách đây không lâu, tôi, cùng một người bạn thích làm thơ và ly café nóng, ngồi trong một quán nhỏ ở góc đường Bolsa và Magnolia. Nắng tươi và trong veo nhảy múa trên dãy cờ vàng phấp phới dọc phố Bolsa, đại lộ sầm uất nhất của thủ đô tị nạn. Thỉnh thoảng, vọng lại một tràng pháo dòn tan. Hôm ấy là ngày thứ Bảy, mồng sáu Tết Kỷ Sửu 2009. Người qua kẻ lại, trẻ già lớn bé, mặt mày hớn hở tươi cười. Họ đều có vẻ hạnh phúc. Và tôi cũng vậy. Bởi vì tôi tìm thấy ở họ, ở nắng mai, ở tiếng pháo, ở niềm lạc quan trên những khuôn mặt nhăn nheo tuổi đời hoặc căng nhựa thanh xuân cái cộng đồng rất thực của mình, cái cộng đồng được dựng nên bởi những người không cho phép đau thương đánh gục, không cho phép kẻ khác tiếp tục làm tổn thương mình. Một cộng đồng tị nạn như thế chỉ có thể phát triển chiều dọc lẫn chiều ngang và chắc chắn cả chiều sâu chứ không sẵn sàng vứt bỏ hết mọi thành quả gặt hái được của nhiều thế hệ để đi làm bồi bếp cho cộng sản hay cho bất cứ thế lực hung bạo nào khác. Bởi vì họ biết rất rõ tại sao họ đến, hoặc được cha mẹ mang đến, nơi này.  Bởi vì họ muốn được làm và được quyền sống như là người tự do. Đó là ước vọng và quyền hạn cao nhất mà một con người có thể có được. Và trong khi một thiểu số trong thế hệ di dân đầu tiên xem việc chống cộng là ưu tiên số một trong cuộc đời tha hương của mình, và tôi hoàn toàn có thể hiểu được vì sao, tôi e rằng các thế hệ sau không muốn chỉ khoanh vùng sinh hoạt của mình trong một mục tiêu hạn hẹp như thế. "Sống như là một người tự do," bên cạnh tất cả những điều tốt đẹp khác, còn có nghĩa là sống một cách trách nhiệm, chẳng hạn như trách nhiệm chiến đấu chống cái xấu, cái ác đến từ bất cứ đâu bởi bất cứ thế lực nào. Và các bậc cha mẹ thuộc thế hệ một cần ghi nhớ điều này, chừng nào chính quyền cộng sản Việt nam còn nằm trong danh sách những thế lực xấu ác, em cháu chúng ta sẽ tiếp tục tranh đấu cho nạn nhân của thế lực này bởi vì đây là nghĩa vụ của một con người tự do. Và tiếng nói của họ sẽ được lắng nghe không chỉ ở quận Cam mà trên khắp địa cầu bởi vì họ sử dụng thành thạo ngôn ngữ chung của một thế giới tự do và tiến bộ, trong đó các quyền tự do cơ bản, kể cả và đặc biệt là tự do ngôn luận, được công nhận và bảo vệ. Ngôn ngữ này không phải là tiếng Anh tiếng Pháp mà chính là Lương Tri của nhân loại. Bằng cách dựa vào nỗi hoài nghi vô căn cứ và truyền thống "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó" để buộc giới trẻ im tiếng không chỉ là một điều vô cùng bất công cho những người chủ tương lai của cộng đồng mà còn là một hình thức tự đánh bại những ước nguyện của chính mình và biến dự kiến bi thảm của nhà văn Chu Tất Tiến thành sự thật.

*

Không thể nói là tôi không thông cảm những người tiếp tục tin rằng họ là nạn nhân của "nỗi đau vĩnh cửu, bất khả xâm phạm, bất khả tư nghì." Tôi đã ở vào/trải qua tâm trạng của họ như đã đề cập ở một phần trên. Tuy nhiên, trong khi tôi không cảm thấy cần thiết phải tranh cãi nếu có ai đó cương quyết cho rằng nỗi đau này có thật, tôi sẽ chứng minh rằng bất kể thật hay giả ở bình diện cá nhân, nỗi đau không hề là chỗ dựa của tập thể người Việt tị nạn cộng sản, lại càng không phải là cái "chính nghĩa" cho những cuộc biểu tình phản đối "lá cờ máu" như vụ FOB II: Nghệ thuật Lên tiếng vừa qua hay những cuộc biểu tình tương tự trước đây, chưa kể đến những biểu lộ hung hăng và thô tục tự nó đã xóa đi ý nghĩa những tín hiệu mà người biểu tình muốn gởi đến công luận. Trái lại, nó là sự phá sản của cái "chính nghĩa" mà cộng đồng thực sự muốn gầy dựng. Trước hết, nó chưa hề đưa ra được một lý giải thỏa đáng cho điều đang xảy ra hàng ngày: Việt kiều về thăm quê hương ngày mỗi nhiều hơn. Nhiều hơn gấp bội những lần tụ tập biểu tình đã diễn ra, và tôi e rằng không ai có thể ngăn chặn khuynh hướng này. Trong số Việt kiều về thăm quê hương, đa số đã từng là nạn nhân của chế độ cộng sản dưới nhiều hình thức. Gần đây nhất, đã có nhiều người trong giới văn nghệ sĩ hoặc là về nước sinh hoạt hoặc mang tác phẩm về ấn hành ở nội địa. Làm thế nào để giải thích hiện tượng này? Với những người chống cộng cực đoan, câu trả lời rất đơn giản: Bọn phản bội, bọn thân cộng, xứng đáng bị treo tòng teng trong chiếc xe "treo cổ" nổi tiếng ở phố Bolsa. Gọn ghẽ và hợp lý! Có điều, nếu tin rằng những người về thăm quê hương đã thực sự phản bội  cái "chính nghĩa chống cộng của cộng đồng" thì có khác gì thú nhận sự thất bại của "chính nghĩa" này trong việc thu hút và ngay cả gìn giữ những người ủng hộ nó. Thêm một điều nữa, hình như các cơ sở, sứ quán của chính quyền Hà nội tại Hoa Kỳ và các quốc gia khác đều có treo "cờ máu," sao không thấy "cộng đồng" gởi một nhóm biểu tình thường trực đến đóng đô ở những nơi này để bộc lộ nỗi đau vĩnh cửu của mình? Có phải vì những trụ sở này ở xa, không nhìn thấy được từ quận Cam, từ San Hô thành, từ Houston, và từ các tụ điểm quan trọng khác của cộng đồng? Có phải vì thị lực của "nỗi đau" cũng có giới hạn? Đây là một quan sát quan trọng, và bài viết gần đây của Vi Nhân, "The ghosts in the room & skeletons in the closet" (Hồn ma và Xương khô), giúp giải thích hiện tượng này.

The recent protest against the F.O.B. II exhibit by VALAA is beyond the framed objectives of the organizers. From all I could observe and tell, it is about power difference and the power struggle between the wounded and the in-power with their representation (factual or perceived). More important, it is also the contest on public space. The wounded were casted away from homeland, their public space were lost. They have carved out a space (Little Saigon and other names) and claimed their own where opponents (again factual or perceived) will have to acknowledge their existence and ownership.

Các cuộc biểu tình gần đây chống đối triển lãm FOB II dưới sự bảo trợ của hội VALAA đã ào vượt quá tầm mục định có sẵn trước của ban tổ chức. Từ những gì tôi có thể thấy được, vấn đề này liên hệ đến hiện tượng khác biệt về quyền lực và tranh giành quyền lực giữa những người bị thương với nhóm có quyền-lực-đương-thời cùng các biểu trưng bày biện (dù thực chất hay được cảm nhận) của họ. Quan trọng hơn nữa thì đây là một cuộc đấu tranh nơi chốn công cộng. Khoảng không gian chung họ cùng chia xẻ trước đây giờ đã bị tước đoạt, và họ bị tống đẩy ra khỏi đất mẹ. Bây giờ họ đã tạo dựng được một không gian công cộng (Tiểu Sài Gòn và những tên khác) cho riêng mình nên đối thủ (xin nhắc lại là thực chất hay được cảm nhận) phải chấp nhận sự hiện hữu và sở hữu của họ.

Trong một cuộc mạn đàm trước đó với Đặng Thơ Thơ và Lê Đình Nhất Lang nhân dịp chào đón một người bạn,  nhà văn Đặng Mai Lan, đến Hoa Kỳ, tôi có đưa ra câu trả lời về lý do thực sự của những cuộc biểu tình chống các hình tượng, biểu trưng của chế độ cộng sản, trong đó phổ biến nhất là cờ đỏ (hoặc "cờ máu") và hình HCM. Tôi cho rằng nó đến từ một tâm lý rất lành mạnh, rất phổ thông, và được sở hữu bởi hầu hết các nền văn hóa dân tộc của thế giới, "Not in my backyard!", hoặc theo cách nói nôm na của người Việt nam, "Cút xéo đi nơi khác!" Tâm lý này trả lời được hầu hết những câu hỏi đã khiến cái "nỗi đau vĩnh cửu, bất khả xâm phạm, bất khả tư nghì " ngọng nghịu, đặc biệt câu hỏi liên quan đến số Việt kiều về thăm quê hương ngày mỗi đông đảo hơn. Đơn giản hơn nhiều người tưởng, về thăm quê hương không hề đồng nghĩa với chấp nhận chế độ cộng sản cũng như gởi tiền về Việt nam giúp thân nhân không có nghĩa là làm lợi cho cộng sản. Việt kiều ý thức một cách minh bạch vị trí của họ ở Việt nam, một người khách tạm bợ. Họ tiếp tục dị ứng với những những biểu tượng nhắc nhở đến những hành hạ, những đày ải mà người chủ nhà đã thực hiện lên họ ngày xưa và đồng thời biết rằng mình không thể làm gì được ngoài việc "làm ngơ" để đánh đổi với cái khả năng được một lần nữa đắm mình trong không khí quê hương cùng  với người thân và bạn bè ngày cũ. Đây là cái vị trí tương tự nhưng không hoàn toàn giống hẳn cái vị trí của người vợ phải chịu đựng hạch xách của đám quản giáo để được gặp mặt người chồng thân yêu trong trại cải tạo ngày xưa. Khi trở lại "chốn tạm dung," người tị nạn ngay tức khắc lấy lại tư thế chủ nhà, sở hữu chủ của cái "không gian công cộng," chữ của Vi Nhân, mà họ đã cùng nhau xây dựng để thay thế cái "lãnh thổ" đã bị kẻ thù cưỡng chiếm. Cho nên không nên lấy làm lạ hoặc cho rằng mâu thuẫn khi thấy chính những Việt kiều này nhiệt tình ủng hộ hoặc ngay cả hiện diện ở những cuộc biểu tình tương tự như cuộc biểu tình chống cuộc triển lãm FOB II: Nghệ thuật Lên tiếng vừa qua. Những biểu tượng gợi nhớ đến cái xấu cái ác, đặc biệt là những điều xấu ác nhắm vào họ ba mươi năm trước cùng với cái khái niệm "lãnh thổ" đề cập ở trên mới là cái nguyên cớ, cái động lực thực sự nằm đằng sau những cuộc biểu tình này. Không có gì sai nếu chúng ta không muốn những điều đại diện cho xấu xa độc ác hoặc bất hạnh lảng vảng trước sân nhà mình! Và “cút xéo khỏi cửa nhà bà” là một phản ứng hoàn toàn hợp lý, hoàn toàn lành mạnh, hoàn toàn chấp nhận được bởi tất cả mọi người, kể cả giới truyền thông chính mạch Âu Mỹ. Điều hoàn toàn không hợp lý là việc chúng ta chối bỏ sự thật này và khoác lên những phản ứng của chúng ta cái màng lưới ngụy trang "nỗi đau vĩnh cửu, bất khả xâm phạm, bất khả tư nghì " vốn xuất phát từ tâm lý của một nạn nhân bất lực để tự trói buộc mình.

*

Trong bài viết này, tôi đã "giải ảo" huyền thoại "làm lợi cho cộng sản" vốn thường xuyên được áp dụng để biện minh cho sự im lặng hoặc để xuyên tạc những nỗ lực "lên tiếng" nghiêm chỉnh và xây dựng đối với cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở Hải ngoại. Tôi đồng thời chỉ ra những hậu quả nghiêm trọng trong việc sử dụng cái huyền thoại "nỗi đau vĩnh cửu, bất khả xâm phạm, bất khả tư nghì " như là động cơ cho những cuộc biểu tình phản đối những biểu tượng của chính quyền cộng sản Việt nam ở những tụ điểm quan trọng của người tị nạn ở Hải ngoại, đặc biệt ở phố Bolsa và vùng phụ cận, nơi được xem là Mecca của cộng đồng. Tôi cũng đưa ra những nhận xét tỉnh táo về việc thế hệ "người lớn" chưa sẵn sàng cho những đối thoại nghiêm chỉnh và cởi mở với các thế hệ sau.

Bất kể những sai sót, khiếm khuyết nói trên, những tụ điểm quan trọng của người Việt tị nạn ở Hải ngoại luôn luôn phát triển với một nhịp độ đáng kể. Điều gì đã giúp cái thủ đô tị nạn và các tụ điểm khác của cộng đồng Việt nam ngày mỗi phồn thịnh và sầm uất, đã nhanh chóng đưa chúng ta trở thành một trong những cộng đồng di dân phát triển nhanh nhất và đạt tỷ lệ thành công về mặt giáo dục cao nhất?  Chính là cái quyết tâm không chấp nhận làm nạn nhân. Chúng ta đã khuất phục đau thương, vượt qua trăm ngàn chướng ngại để được làm người tự do, để được quyền mưu cầu hạnh phúc cho mình và cho người thân. Và bởi vì chúng ta nhận thức được rằng tự do không phải là điều được ban bố mà là một quyền hạn dành được trong cuộc phấn đấu với giới thống trị, với nghịch cảnh, và lắm khi với chính mình. Sức mạnh của cộng đồng đến từ tinh thần bất khuất và ước mơ được làm người tự do nói trên, và đây là một thực tế cần được công nhận bởi tất cả chúng ta. Cùng với sự công nhận này, những hoài nghi vô căn cứ dành cho thế hệ trẻ, nguyên nhân chính đã biến những nỗ lực đối thoại giữa các thế hệ trở nên bất khả, cần được tháo gỡ để làm gần lại cái khoảng cách lẽ ra không nên có giữa các thế hệ người Việt tị nạn.

Sẽ tiếp tục có những cuộc biểu tình để bày tỏ sự ủng hộ  của cộng đồng đến đồng bào trong nước trong cuộc tranh đấu cho nhân quyền trong đó có quyền tự do ngôn luận. Và người ta sẽ tìm thấy cái đám đông với lá cờ vàng quen thuộc ở phía bên kia đường. Màu cờ sẽ không ảm đạm như di vật của một lần chiến bại mà tươi thắm như niềm tự hào của người chiến thắng trong cuộc tranh đấu dai dẳng, khốc liệt, và lắm khi vô cùng đơn độc với thân phận nạn nhân để dành quyền được sống và hành xử như là người tự do. Và bước ra từ hàng ngũ những người biểu tình ở phía bên kia đường là người đàn bà hôm nào, không nhăn nhúm, không giận giữ, không nguyền rủa mà nghiêm trang và kiêu hãnh vì đã một lần nữa chối bỏ cái thân phận của một nạn nhân vĩnh viễn. Và tất cả chúng ta sẽ im lặng lắng nghe khi bà lên tiếng, bắt đầu với một khẳng định quyết liệt. "Sẽ không có ai được phép tiếp tục biến chúng ta thành nạn nhân."

Khi đó, và chỉ khi đó, từ tro than chiến bại, vươn dậy con phượng hoàng rạng rỡ, tinh khôi của huyền thoại, cái huyền thoại duy nhất trong bài viết cùng tên mà tôi cho phép mình tin vào. Và khi phượng hoàng cất cánh, sẽ trời xanh và bao la. Không cùng.

PN
15.02.2009

bài đã đăng của Phùng Nguyễn


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)