Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Giải cấu "Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng trần truồng"

T7*, từ góc nhìn của một người đọc

Đèn đuốc sáng choang. Dãy cửa sổ hai bên thành xe rộng mở. Con đường thẳng tắp trước mặt. Toa tàu chuyển bánh trong háo hức của hành khách về một nơi đến quang đãng, mới mẻ. Nhưng đó chỉ là cảm tưởng đầu tiên. Sau một đoạn ngắn, con đường, một cách bất ngờ, trở nên quanh co, hiểm hóc. Những cửa sổ nhanh chóng đóng lại từng chiếc một, cho đến khi toa tàu chìm ngập trong một bầu khí quyển nhờ nhờ, nhờn nhợt, nửa âm nửa dương. Con tàu dừng lại, một khung cửa vuông vắn hiện ra trước mắt đám hành khách. Ở phía bên kia tấm lăng kính dày và cứng rắn hơn sắt thép là Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ, co quắp, trần truồng, tuyệt vọng!

Phần mở đầu –cố tình làm ra vẻ giật gân– của một truyện kinh dị? Không! Chỉ là cảm giác có được sau khi đọc Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng trần truồng (T7)* của tác giả Bùi Công Thuấn (BCT) ở cương vị một độc giả của tạp chí damau.org.

*

Bất đầu với khẳng định về một phương pháp phê bình nhận định dựa trên quan điểm lịch sử (…), phương pháp phân tích khoa học (…), cùng với tấm lòng trân trọng thi ca dân tộc (…) sẽ giúp tránh được ngộ nhận, BCT ngay sau đó khuyên chúng ta không nên đánh đồng con người xã hội và con người thi ca của Thanh Tâm Tuyền (T3)**. Tôi cho rằng đây là một khuyến cáo sáng suốt và cần thiết, đồng thời ở cương vị người đọc, tôi bắt đầu quan ngại cho BCT về những khó khăn trước mắt trong việc tách bạch hai con người xã hội và thi ca của T3. Chỉ còn biết trông đợi ở BCT những vận dụng tài hoa vào những yếu tố mà ông đã long trọng đề cập đến ở trên.

*

Bởi vì mỗi chúng ta "giải mã" tác phẩm văn chương dựa trên kinh nghiệm của chính mình, tôi sẽ không bàn đến cách diễn dịch mà BCT áp dụng lên thơ của T3 chừng nào những hoạt động/thao tác này nhắm vào thơ và "con người thi ca" của T3. BCT có toàn quyền đọc và mổ xẻ thơ của T3 hoặc của bất cứ nhà thơ nào khác theo ý ông. Đây là quyền tối thượng, bất khả xâm phạm của độc giả và sẽ/nên dừng lại ở phạm vi cá nhân. Ngay cả việc BCT "thử sức" với bài thơ Tĩnh Vật và sau đó tuyên bố đã xâm nhập được vùng "cấm địa" của thơ T3 tôi nghĩ cũng là điều bình thường. Chúng ta, trong một vài trường hợp, có nhu cầu khích lệ chính mình!

Chỉ khi cái gọi là "con người xã hội" của T3 được đưa lên bàn mổ cùng lúc với thơ của ông, tôi mới cho phép mình được ngắm nghía cái thủ thuật BCT đã dùng để tách phần [xã hội] này ra khỏi con người thi sĩ của T3. Tôi thực sự lấy làm tiếc phải đi đến kết luận BCT không phải là một y sĩ phẫu thuật giỏi. Hoặc một y sĩ giỏi. Hoặc ngay cả là… y sĩ. Xác chết cong queo, trần truồng ở đằng sau cái lăng kính dày cộm những định kiến là sản phẩm bắt buộc của "lực bất tòng tâm!"

*

Ngay sau khi tuyên bố đã xâm nhập được lãnh địa thơ của T3, BCT bắt đầu cuộc tấn công vào "nhân cách" con người [xã hội] T3 xuyên qua việc sử dụng trở lại những dẫn chứng trong thơ T3 mà trong phần "thử sức" trước đó ông đã gán cho chức năng "ẩn dụ." Một độc giả thận trọng sẽ tìm thấy một cách không khó khăn những mâu thuẫn trầm trọng trong lý luận/phân tích của BCT ở những phần khác nhau của bài nhận định đã dẫn. Những trích dẫn dưới đây tìm thấy trong tiểu đoạn có tên "Hoàng đế đầy đủ quyền uy." Phần in đậm là do người viết bài này thêm vào để lưu ý bạn đọc.

Thanh Tâm Tuyền đã kết hợp cả ba ý thức nghệ thuật trên cùng một lúc trong tác phẩm của ông để làm nên sự mới lạ trong thơ.

Thơ [của T3] là dòng ý thức tuôn chảy, như một dòng sông, ở đó những tư tưởng, cảm xúc, liên tưởng bất chợt, luôn lấn át nhau, đan bện vào nhau kỳ quặc và phi logic. Hiện thực bị cắt vụn, bị phân ly, ném đi mỗi nơi một mảnh. "Cái tôi" tồn tại trực tiếp trong ý thức. Bài thơ không có bối cảnh hiện thực. Không gian thời gian bị tước bỏ vai trò làm bối cảnh, chỉ còn cái lõi là dòng ý thức. Dòng chảy ý thức ấy không còn bám rễ được vào hiện thực khiến cho nó trở nên thực sự không hiểu được.

Sau đó, trong tiểu đoạn "Hoàng đế cô độc," chức năng bí ẩn trong thơ T3 được dùng để đưa ra nhận định về con người xã hội của nhà thơ này như sau:

Ông che dấu sự bộc lộ trực tiếp những nghĩ suy về thời cuộc, che dấu sự bi đát thân phận, che dấu mình để khỏi bị trả thù bởi móng vuốt bóng đêm. Ông trốn chạy, ông buông xuôi "bập bềnh lả theo trời," mặc định mệnh…


Để tất cả những phát biểu trên của BCT không phản bội nhau, độc giả buộc phải nghĩ rằng việc T3 khổ công kết hợp các nghệ thuật tư tưởng khác nhau (mà kết quả là những bài thơ không thể hiểu được) chỉ là một cố gắng che dấu (vì thiếu can đảm) suy nghĩ thực của mình về thời cuộc. Như vậy, cái gọi là "làm mới thơ" của T3 mà ngay cả BCT cũng phải thừa nhận chỉ là một phó sản (by-product) của sự hèn nhát! Và tất nhiên là chính quyền miền Nam vào thời đó hoàn toàn bị thơ "hèn nhát" của T3 đánh lừa! Rất lô gích!

Cũng ở phần "Hoàng đế cô độc," lời thơ của T3 được diễn dịch như là tiếng nói vị kỷ phản ánh tâm trạng của và chỉ riêng của T3. Con người "xã hội" của T3, trong mắt BCT, là tên hề buồn cô độc, sợ hãi cả cây cột đèn, luôn bị ám ảnh bởi nỗi chết ôm ghì, vân vân và vân vân. Chưa hết, T3 kéo lê một cuộc sống không ý nghĩa, thiếu lý tưởng để vươn tới, và do đó, không thể thiết lập được quan hệ máu thịt với dân tộc và cội nguồn. Đây là một trong những luận điểm quan trọng cho việc thẩm định giá trị thi ca của T3 ở phần sau trong bài nhận định của BCT.

Làm thế nào để hóa giải những điều nói trên với những câu phát biểu trong cùng một bài viết, như trích dẫn dưới đây?

TTT*** dành tình cảm sâu nặng cho những kiếp người nghèo đói, ăn mày, đau thương, nhổ máu ra khỏi ngực, nỗi chết chực chờ, đã cố sức nhưng không sao thoát khỏi nỗi tuyệt vọng trong thế giới này. TTT đau nỗi đau thân phận thời đại. Giọng thơ buồn sâu thẳm, bi phẫn.
TTT ôm ghi lấy đất nước đau thương, cùng chia sẻ vòng khốn đọa với xứ sở, cùng vục xuống nhục nhằn tổ quốc, cùng sớt chia nỗi chết với bao người, còn hy vọng "rằng anh còn trở về /rằng anh còn người yêu."

Những mâu thuẫn cùng cực trong cùng một bài viết như thế này ắt hẳn đã khiến người đọc phải, nói một cách nhẹ nhàng, ngỡ ngàng. Dù sao thì phần trả lời của BCT về sự nhất quán, một trong những yêu cầu quan trọng nhất cho một luận văn giá trị, cùng với giả thuyết về phản đề của BBT damau.org, trong khi không giúp gì trong việc giải thích hoặc biện minh cho sự thiếu nhất quán trong lý luận của ông, đã làm sáng tỏ hơn vị trí và hậu cảnh ở nơi BCT đã chọn để quan sát, phân tích, và đánh giá T3. Điều này sẽ được bàn đến một cách chi tiết hơn ở phần sau.

Trong khi mổ xẻ con người xã hội của T3, BCT có vẻ như đã thất vọng vì những phản ứng [chính trị] của T3 đối với thời cuộc. Nỗi thất vọng này trở thành yếu tố quyết định trong việc T3 bị tách ra khỏi quan hệ máu thịt với "dân tộc," hoặc "thi ca dân tộc," vốn đến lượt, ở phần kết luận của bài viết khá công phu của BCT, đã được sử dụng để chỉ ra sự bất lực của T3 trong ước muốn xâm nhập trái tim người đọc. Nhận định nghiêm túc, trịnh trọng, và có phần đao to búa lớn dưới đây của BCT, một cách khá bất ngờ, đã bộc lộ khía cạnh khôi hài của nó:

Đối diện với số phận nghiệt ngả, tầm vóc TTT không thể sánh được với tầm vóc của Nguyễn Trãi, tấm lòng của TTT không thể sánh được với "tấm lòng thấu suốt nghìn đời" của Nguyễn Du, sức sáng tạo của TTT không theo kịp với Hoàng Cầm, bản lĩnh của TTT không ngang cân với thái độ dứt khoát bỏ về đi cày, đi bừa, đi thồ, đi đốn củi, đi xe đá của Hữu Loan…

Tầm vóc, tấm lòng, sức sáng tạo (nhiều = hay), bỏ bút đi cày. Những yếu tố quyết định cho tài năng và chỗ đứng trong thi ca, ngay cả "thi ca dân tộc"? Tôi cũng tìm thấy sự khôi hài trong phần dưới đây:

Nói cách tân trong thơ Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, trước hết là cách tân tư duy thơ. Sau 1945, thơ Việt Nam đã có nhiều cách tân. Lần cách tân thứ nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thơ được đưa trở về với quần chúng, lấy quần chúng công nông binh làm nhân vật trung tâm, bỏ lại sau lưng "cái tôi" nhà thơ tiểu tư sản.

Thơ ca miền Bắc những năm kháng chiến chống Mỹ tiếp tục có những cách tân về tư duy nghệ thuật, tạo nên một nền thơ chính luận trữ tình anh hùng ca, mà trước đó chưa có. Sự bế tắc của thơ ca những năm sau 1975 là do chưa có được một tư duy nghệ thuật mới khả dĩ vượt qua được kiểu tư duy nghệ thuật trước đó.

Nếu thay đổi hoặc định hướng việc sử dụng thành phẩm của thi ca (thơ) để phục vụ cho một mục đích, cao đẹp hay không, nào đó là "cách tân tư duy thơ" thì tôi cho là một thiếu sót rất lớn khi BCT đã bỏ sót thơ cách tân "tư duy" trong thời Cải cách ruộng đất với những bài thơ "đấu tố" tiêu biểu của các thi sĩ lừng danh và nằm lọt thỏm trong lòng dân tộc như Xuân Diệu, Huy Cận. Hoặc chiến tranh chống bành trướng Bắc Kinh, hoặc chống bọn diệt chủng Pôn Pốt, hoặc chống diễn tiến hòa bình, chống tham nhũng, v.v… Hoặc giả BCT cho rằng chỉ có hai cuộc chiến tranh "thần thánh" ông nhắc đến mới có đủ chất xúc tác cho cách tân tư duy thơ thì chúng ta nên lấy làm tội nghiệp cho những đất nước bất hạnh không có chiến tranh bởi vì nền thi ca của họ nhất định phải đi sau tổ quốc Việt Nam anh hùng hàng ngàn năm!
Tất cả những phát biểu long trọng một cách khôi hài ở trên chỉ để giúp BCT cuối cùng được quyền tuyên bố, "Nói như thế để thấy rằng không chỉ có TTT là người cách tân thơ Việt Nam…"

Như vậy, T3 có hay không có cách tân thơ? Vị trí nào trong lòng "thi ca dân tộc" cho những người như T3, có công cách tân nhưng không có công cách …mạng?

Bằng cách công kích nhân cách T3 dựa trên một quan điểm lịch sử hạn hẹp, BCT hy vọng sẽ thuyết phục độc giả về liên hệ mật thiết giữa thái độ chính trị của tác giả và giá trị văn chương của tác phẩm. Vấn đề ở đây là người đóng vai thẩm phán hầu như luôn luôn thất bại trong việc đưa ra giải pháp cho chính những khiếm khuyết vốn là đối tượng của chỉ trích. Tôi muốn biết, từ BCT, T3 phải làm thế nào để "đi vào lòng dân tộc." Nếu câu trả lời bỗng dưng rõ ràng và chắc như đinh đóng cột như thể chân lý nằm về phía BCT, sự cần thiết của bài viết này như là một nỗ lực đối thoại giữa những con người [có được] tự do [tư tưởng] sẽ chấm dứt ở đây. Luôn luôn có một giới hạn, ngay cả cho sự mù loà.

*
Khi trả lời những nghi vấn của BBT damau.org về sự nhất quán của bài viết, BCT đã một lần nữa khăng khăng khẳng định "đồng nhất văn chương với chính trị sẽ dẫn đến bi kịch." Cũng trong cùng một đoạn, chỉ vài giòng sau đó, BCT tuyên bố tiếp là "con người xã hội và con người nhà văn là không đồng nhất nhưng không phải là không có quan hệ máu thịt. Bởi vì tác phẩm văn chương là đứa con tình thần của nhà văn. Nó chứa đựng tư tưởng, tình cảm, thái độ, và toàn bộ thế giới tinh thần của nhà văn. Nó cũng chứa đựng cái ‘tạng’ riêng của nhà văn nữa. Tất cả những điều ấy vừa là kết quả môi trường xã hội nhà văn sống, vừa là sự tác động của nhà văn để làm thay đổi môi trường. Vì thế việc tìm hiểu những giá trị thơ TTT không thể tách rời khỏi môi trường xã hội TTT sống và viết."

Như vậy, độc giả damau.org nên hiểu làm sao đây? Theo tôi, những lập luận trên đây hướng đến một mục tiêu duy nhất: xác định (hoặc đúng hơn, phủ định) giá trị thơ của T3 dựa trên cái gọi là môi trường xã hội và phản ứng chính trị của T3 với chính môi trường đó. Giá trị thơ của T3, với tất cả sự cẩn trọng mà BCT có thể có được trong việc "…nhìn nhận vấn đề trên quan điểm lịch sử và phương pháp phân tích khoa học, cùng với tấm lòng trân trọng thi ca dân tộc," không phải ở những bài thơ, đại diện cho những đóng góp của văn chương của T3, mà ở thái độ chính trị của ông. Ở đây, thái độ chính trị của tác giả quyết định khả năng thâm nhập trái tim người đọc, vốn, theo lập luận của BCT, là thước đo giá trị tác phẩm. Chẳng phải đã có một nền văn học mà sự thẩm định giá trị đã hoàn toàn dựa trên nguyên tắc này hay sao?

Khi chọn so sánh T3 (1936 – 2006) với Nguyễn Du (1765 – 1820) và Nguyễn Trãi (1380 – 1442), BCT tuyên bố rằng "… so sánh TTT với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du là đặt TTT vào văn chương dân tộc, đặt TTT sánh ngang với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du với tư cách là người sáng tạo. Nhưng tầm vóc của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du lớn hơn vì hai nhà thơ này sống với dân tộc, thơ của hai con người này trở thành những giá trị tinh thần, giá trị văn hoá, giá trị nghệ thuật của dân tộc. Giả sử, bỏ hết sáng tác của hai tác giả này đi, thì văn chương dân tộc còn lại gì?"

Có khá nhiều điều đáng bàn về lời tuyên bố này. Tuy nhiên, trước hết hãy thảo luận về sự chọn lựa đối tượng để so sánh. Tại sao không là một, hai, hay ba thi sĩ cùng thời với T3, ở miền Nam hay miền Bắc, để sự so sánh bớt khập khiểng? Tôi cho rằng BCT muốn có một chọn lựa "chắc ăn." Bên cạnh Đoạn Trường Tân Thanh và Bình Ngô Đại Cáo, hai vị tiền bối Nguyễn Trãi (NT) và Nguyễn Du (ND) cộng lại còn có gần 800 năm thâm niên so với T3. Hơn nữa, theo chính cách nói của BCT, … bỏ hết sáng tác của hai tác giả này đi, thì văn chương dân tộc còn lại gì?, làm như vậy sẽ rất bất tiện, bởi vì sẽ phải loại bỏ không những T3 mà tất cả những người khác, kể cả những người đang cầm cân nẩy mực nền văn nghệ "dân tộc" mà BCT là một thành viên ra khỏi "văn chương dân tộc."

Tất nhiên là không có ai dị nghị hoặc tranh giành vị trí của hai vị tiền bối NT và ND trong văn hóa và văn học sử Việt Nam. Tuy nhiên, không nhất thiết những lập luận BCT sử dụng trong thư trả lời BBT damau.org giải thích được lý do sự có mặt và tầm ảnh hưởng của hai vị này trong "thi ca dân tộc." Nguyễn Trãi được biết đến nhiều nhất với bài hịch Bình Ngô Đại Cáo, và tôi không chắc đây là một bài thơ/một đỉnh thi sơn hay chỉ đơn thuần là một bài hịch. Bài hịch là bài hịch là bài hịch là bài hịch! Quốc Âm Thi Tập, bất kể đã có vai trò gì trong việc đặt nền móng cho thơ ca tiếng Việt (Nôm?), nhất định không phải là một đỉnh thi sơn ở mức độ "dân tộc" vì không có mấy người nghe/thấy/đọc thi tập này. Một thi sơn khiêm nhường hoặc chỉ dành cho một thiểu số trí thức trường ốc? Có vẻ như BCT lẫn lộn giữa thi ca và văn hóa, dân tộc hay không dân tộc.

Riêng về Nguyễn Du, đã hẳn dày dày sẵn đúc một tòa …thi sơn là cuốn Đoạn Trường Tân Thanh (ĐTTT), nhưng Nguyễn Du như là một "con người xã hội" xem ra còn xa lắm mới đạt được tiêu chí do chính BCT đưa ra khi đánh giá thơ của T3. Nguyễn Du là một hàng thần lơ láo, không có được cái bản lĩnh vất bút đi cày của Hữu Loan. (Nhưng ND có tấm lòng thấu suốt nghìn đời, BCT sẽ phản đối!). ĐTTT chỉ là một tác phẩm lai căng, vay mượn từ Trung Quốc, mang tính đặc thù của xã hội Trung Quốc. Truyện chủ yếu xoay quanh những điều éo le về một cô gái ở thanh lâu, được Nguyễn Du sử dụng để tạo cơ hội than vãn và phân trần về cảnh ngộ của mình, và chỉ của chính mình. Nếu "thơ ca phải là ngọn lửa tỏa sáng, soi đường và cháy rực lên sức sống, sức mạnh của một dân tộc," thì e rằng ĐTTT cần phải được vứt vào sọt rác. Điều này đã không và sẽ không hề xảy ra, đơn thuần bởi vì con đường dẫn đến đền thờ "thi ca dân tộc" không nhất thiết phải đi ngang qua ngòi bút của BCT. Nguyễn Du đã vào đó một mình, bằng chính thi tài của ông xuyên qua ĐTTT, và xem ra đã quá trễ để BCT có thể làm được một điều gì về chuyện này. Lẽ ra BCT phải nhìn thấy lỗ hổng to tướng trong lập luận "đi vào lòng dân tộc" của mình qua trường hợp Nguyễn Du. Thay vì ghi nhận điều này, BCT, trong khi mạt sát T3 vì đã không "gắn bó với nhân dân," lại ra sức tâng bốc/bào chữa cho Nguyễn Du ở cùng những điều tương tự, có lẽ để tự bịt mắt mình. Hãy đọc từ chính ngòi bút của BCT:

Giai đoạn "bó thân về với triều đình" Gia Long, làm "hàng thần lơ láo," Nguyễn Du chỉ im lặng. Ông né tránh thực tại Việt Nam, mượn đề tài Trung Quốc để gửi gấm tâm sự.
Và ngay sau đó:
Tư tưởng của ông vượt thời đại. Tài năng của ông vượt mọi hoàn cảnh.

Tất nhiên T3, nếu còn sống, sẽ không bao giờ có cái ảo vọng được BCT biệt đãi như thế.

Trở lại với khả năng đi vào lòng/thi ca dân tộc. BCT, trong cung cách lý luận áp dụng cho việc phân tích và đánh giá T3, đã cố gắng thiết lập một quan hệ mật thiết giữa con người xã hội/thái độ chính trị của tác giả và khả năng "đi vào lòng dân tộc" vốn sẽ trở thanh cơ sở cho việc thẩm định giá trị văn chương của tác phẩm. Trường hợp Nguyễn Du chứng minh sự yếu kém của lập luận này. Vị trí của một tác giả trong văn học sử được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau, và trong nhiều trường hợp, hoàn toàn độc lập với các yếu tố còn lại. Hãy thử xem xét lại trường hợp NT và ND ở trên. Điều gì sẽ xảy ra nếu chữ quốc ngữ không được phổ biến như hiện nay? Nguyễn Du nhất định sẽ ở một vị trí khả quan hơn Nguyễn Trãi chính vì yếu tố "dễ phổ biến" của truyện Kiều. Nguyễn Trãi thì có nhiều cơ hội không được Unesco nhắc nhở đến bởi vì Quốc Âm Thi Tập không có được cái khả năng trở thành văn học dân gian như ĐTTT. Đó là chưa kể đến hiệu ứng mang tính quyết định của việc cả hai miền Nam Bắc ngay cả trong thời gian chiến tranh đã đưa hai vị tiền bối này vào chương trình giáo khoa ở các bậc tiểu và trung học. Nếu điều này không xảy ra, liệu BCT sẽ biết gì về tấm lòng thấu suốt nghìn đời của Nguyễn Du để tán tụng? Trong cùng một lập luận, liệu "đỉnh thi sơn" hay ít nhất một "tấm lòng đau đáu" tinh dân tộc có nhất thiết phải là điều kiện để một tác giả bước vào đền thờ văn học? Liệu một nền giáo dục cưỡng bức trong đó lãnh tụ được đưa lên ngang với thần thánh như ở Bắc Triều Tiên có thể thay thế được đại tác phẩm hoặc "tấm lòng đau đáu" hay không? Tôi cho rằng câu trả lời có thể được "nhìn thấy" tận mắt.

Để thanh thỏa một lần cho xong cái lập luận về việc gắn bó với dân tộc, đặc biệt là "gắn bó" và "dân tộc" theo định nghĩa của BCT, như là yếu tố cần thiết và mang tính quyết định trên giá trị của tác phẩm, hãy lắng nghe các phát biểu được trích lại từ "Khi kẻ lưu đày là nhà văn: cuộc đối thoại về những khổ đau và hoan lạc" của Wojciech Karpinski, giáo sư văn chương đại học Yale, Hoa Kỳ:

Wojciech Karpinski:
Một cách tình cờ, hai thế kỷ qua, lưu vong đã là định mệnh của văn học Ba Lan. Ở các quốc gia khác, đã có một số tác phẩm xuất hiện trong hoàn cảnh lưu vong Những tác phẩm nền tảng của văn học Ba Lan, từ đó ngôn ngữ và chiều hướng sáng tạo của xứ này được hình thành, đều mọc lên từ phía ngoài biên giới.
Czeslaw Milosz:
Lưu đày là số phận của nhà thơ đương đại bất kể anh ta đang sống trên quê hương hay ở nước ngoài, bởi vì anh ta hầu như luôn luôn bị giằng xé, bứt rời ra khỏi cái thế giới nhỏ bé của tập quán và tín điều mà anh ta quen thuộc từ khi còn thơ ấu.

Lưu vong phải được chấp nhận như là một thực tại và tất cả đều tuỳ thuộc vào việc chúng ta có thể làm được gì với những điều rút ra từ nó. Trong mọi trường hợp, người ta cần phải liệng bỏ cái huyền thoại về sự "bất lực sáng tạo" vẫn được cho rằng sẽ giáng xuống nhà thơ kể từ lúc sợi dây ràng buộc huyền nhiệm liên kết anh ta với quê cha đất tổ bị cắt đứt. Cách nhìn đó mang dấu ấn của những nền văn minh nông phố, dù hay dù dở, đã bắt đầu thuộc về quá khứ.

Emil Cioran:

Thơ là lãnh địa của đám ẩn dật và của những kẻ yêu mỹ học! Ở buổi khởi đầu, mặt đất trôi tuột đi dưới chân kẻ lưu đày. Đối với nhà thơ, đó là một vị trí đầy ân sủng. Cứ nghĩ đến Rilke đã tốn biết bao công sức ruồng rẫy hết quê cha này đến đất tổ khác chỉ để cắt đứt mọi ràng buộc thế gian! Nhà văn lưu vong có được điều này với giá rẻ mạt.

Witold Gombrowicz:

Mỗi nhà văn tiếng tăm, như là hệ quả của sự kiệt xuất của chính mình, là người ngoại quốc trên đất nước mình. Nhiều người trong số họ viết chống lại, chứ không phải viết cho, độc giả của mình. Họ thành danh bởi vì đã đề cao lòng tự trọng hơn là sự thành công.

Mỗi tác phẩm nghệ thuật, không chỉ riêng nghệ thuật của giới lưu vong, vươn dậy từ một tiếp xúc gần gũi nhất với sự phân hóa và là sự lành mạnh được tạo ra từ bệnh hoạn.

Wojciech Karpinski là một tác giả đầy thẩm quyền về văn chương Ba Lan. Emil Cioran là triết gia Lỗ Ma Ni với nhiều tác phẩm bằng tiếng Lỗ Ma Ni và Pháp. Witold Gombrowicz, tác giả Ba Lan, đoạt giải International Prize for Literature năm 1967 và được đề cử tranh giải Nobel văn chương vào năm 1968. Nhà thơ Ba Lan Czeslaw Milosz đoạt giải Nobel văn chương năm 1980. Tên tuổi và thành tựu của những người này không nhỏ hơn bất cứ tác giả "dân tộc" Việt Nam nào. Và tôi tin rằng những người gác đền thờ thi ca/văn học Ba Lan đã đối xử tử tế với Milosz và Gombrowicz, ít nhất sau khi họ đoạt được những giải thưởng văn học quan trọng.

Có lẽ không cần phải bàn cãi thêm về yếu tố "dân tộc" trong thi ca, bất kể theo định nghĩa nào!

*

Tùy tiện là điều, một cách đáng tiếc, được sử dụng nhiều hơn chúng ta tưởng ở những nơi nó bị nghiêm cấm. Sự tùy tiện trong lý luận thường là dấu hiệu của khiếm khuyết về mặt kiến thức hoặc cẩu thả trong tư duy. Trong T7, tuy nhiên, sự tùy tiện có vẻ như mọc ra từ sự ỷ lại vào một hoặc tất cả những điều BCT đã trịnh trọng đề ra ở đầu bài viết này. Khi người ta nói về quan điểm lịch sử một cách chung chung, phương pháp phân tích khoa học một cách chung chung, thi ca "dân tộc" một cách chung chung, người ta nói về quan điểm lịch sử chính thống/được phép có, phương pháp phân tích chính thống/được phép áp dụng, và định nghĩa "dân tộc" của giới thống trị hoặc của đa số áp đảo. Những quan điểm, phương pháp, và định nghĩa này sẽ được vận dụng một cách hoặc là máy móc hoặc là uyển chuyển tùy theo bản lĩnh của người viết để biện minh cho kết luận đã có sẵn. Chính là thế lực "đỡ đầu" –có khi là bạo lực, sức ép, có khi là sự cuốn hút của ‘quán tính văn hóa’, thường đến từ phía đa số áp đảo– của những quan điểm, phương pháp, định nghĩa kể trên đã cho người viết cái cảm giác an toàn giả tạo về khả năng "không thể sai lầm" của mình. Điều này giải thích sự có mặt của những nhận định mang tính cực đoan ở cả việc xưng tụng lẫn bài bác tác giả và tác phẩm dựa trên một vài góc nhìn hạn hẹp và cứng nhắc. Cái "bùa" thần diệu của quan điểm lịch sử chính thống, phương pháp luận chính thống, và "dân tộc chủ nghĩa" chính thống sẽ mang lô gích đến cho bất cứ những gì được viết ra, trước hết, để bảo vệ và xiển dương chính những giá trị chính thống này.

Khi, và chỉ khi, nhìn toàn bộ vấn đề dưới ánh sáng mới mẻ này, độc giả mới có thêm điều kiện để hiểu được tại sao BCT đã lý luận như ông đã lý luận. Và câu nói của BCT "… việc tìm hiểu những giá trị thơ TTT không thể tách rời khỏi môi trường xã hội TTT sống và viết” trích dẫn ở trên bỗng trở nên vô cùng ý nghĩa khi áp dụng trở lại cho bài T7 và cho bản thân tác giả của nó.

*

Bây giờ thì chúng ta đã có thể nhìn rõ hơn cái vị trí từ đó BCT quan sát, phân tích, và đánh giá T3 và đóng góp của nhà thơ này trên phương diện thi ca. Liệu cái góc nhìn hạn hẹp của BCT có làm giảm đi hay ngay cả triệt tiêu giá trị những lập luận của ông? Đối với những độc giả chưa có dịp làm quen với lý thuyết văn học Mác-xít hay những biến dạng của nó có lẽ sẽ nhanh chóng phủ nhận công trình của BCT. Tôi e rằng đây là một phản ứng vội vã. Chúng ta có thể đòi hỏi ở người lý luận một liều lượng công bằng (fairness) khi tiếp cận đối tượng của phân tích/thẩm định nhưng không thể đòi hỏi một cái nhìn tuyệt đối vô tư . Họ, người lý luận, đến để phát biểu và bảo vệ những điều họ tin tưởng hoặc chấp nhận, bất kể những điều này có vừa lỗ tai người nghe hay không. Là độc giả, chúng ta có toàn quyền để hoặc không để bị thuyết phục, và ngay cả phản ứng trong quyền hạn một độc giả (như tôi đang làm).
Giá trị của một bài tiểu luận hay nhận định chính là sức thuyết phục của nó. Với sự trân trọng dành cho tác giả BCT ở sự tỉ mỉ và thiện chí đóng góp/chia sẻ quan điểm của ông, tôi e rằng T7 đã không đạt được kết quả mong muốn bởi những khiếm khuyết ở ít nhất hai phương diện, minh bạch và nhất quán.

Minh bạch về vị trí tranh luận của mình ngay từ đầu là điều cần thiết. Như phần "hư cấu" ở đầu bài viết của tôi, BCT tạo một cảm giác rất thoáng cho kỳ vọng của độc giả, một toa tàu sáng choang với các cửa sổ mở rộng. Chỉ sau vài đoạn văn, độc giả nhanh chóng thất vọng, và tệ hơn nữa, cảm thấy bị lừa đảo. BCT đã có thể giải tỏa những cảm giác tiêu cực này nếu ông sửa soạn người đọc ngay từ đầu cho cuộc hành trình viếng thăm lãnh địa thơ của T3 với phương pháp luận mà ông sẽ áp dụng. Ít nhất, độc giả biết điều gì đang chờ đợi mình. Ngoài ra, những cụm từ rất kêu và chung chung như quan điểm lịch sử, phương pháp phân tích khoa học, và đặc biệt "tấm lòng, "dân tộc"… cần được giới hạn trong phạm vi ứng dụng. Độc giả, đặc biệt độc giả của một tạp chí văn học "không biên giới" như damau.org đến từ mọi góc nẻo của Địa cầu và mang theo cái thế giới ngôn ngữ và kiến thức rất riêng, rất độc đáo của họ. Người viết, do đó, không nên giả thiết về họ một cách hời hợt.

Nhất quán, hay trước sau như một, là một trong những yếu tố quyết định sức thuyết phục của bài viết. Nhất quán bộc lộ khả năng của người viết trong tổ chức tư duy, lý luận, và sự tôn trọng "luật chơi" trí tuệ. Tính nhất quán cũng giúp người viết trong việc hạn chế những nhận định hoặc phát biểu mang tính thái quá bởi vì chính những đòi hỏi cao của nó về tính xuyên suốt không chỉ ở mỗi đoạn văn mà còn ở tổng thể của bài viết. Chúng ta đã không tìm thấy sự minh bạch cũng như tính nhất quán trong T7.

Nếu vậy, giá trị của T7 nằm ở đâu? Trước hết, ở chỗ một vài ý niệm trong bài bỗng trở nên có ý nghĩa khi áp dụng cho chính hoàn cảnh của tác giả. Muốn tìm hiểu sự hình thành của T7 thì phải nhìn vào môi trường xã hội trong đó BCT sống và viết. Điều này có thể áp dụng không chỉ cho Việt Nam và không chỉ cho trong nước. Thứ đến, tạo sự hiểu biết, và nếu có thể được, chấp nhận, ở độc giả về những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa và chính kiến, v.v… Độc giả có cơ hội làm quen với những điều thoạt nghe vô cùng xa lạ với mình, và hy vọng sẽ phát triển khả năng "chịu đựng" (tolerance) khi được tiếp xúc nhiều và thường xuyên hơn với những tư tưởng, lập luận mà họ hoàn toàn không trông đợi.

Như thế, T7 không hẳn là một điều hoàn toàn lãng phí. Chúng ta có thể học hỏi từ những thất bại cũng nhiều không kém từ những thành công.

*

Tôi đã chết nghẹn ngào
ôm tình yêu tự do chật ngực
tôi chết và chối từ
đừng ai gọi tôi là thi sĩ…

Đoạn kết của T7 là một ước muốn, của T3 lúc sinh tiền, và của BCT sau khi T3 qua đời. "Có lẽ người đọc hôm nay nên tôn trọng ý kiến của ông," BCT đã chấm dứt T7 như thế. Cùng một ước muốn cho cùng một người, mà động cơ thì xa nhau diệu vợi!

Có lẽ nào cái khả năng "phục sinh" của một số tác phẩm văn học và cùng với chúng, tên tuổi của một số tác giả trong thời gian gần đây đã khiến một số người không yên tâm?

Nỗi sợ chỉ có thể đến được với người/vật/ý niệm không còn quan yếu cho đời sống. Nỗi sợ về cái chết trước khi Chết thực sự đến!

PN
25.09.2007

Ghi chú:

* Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng trần truồng, gọi tắt TTTTSTVTT gồm 7 chữ T nên gọi là T7 cho tiện
** Thanh Tâm Tuyền (TTT) gồm 3 chữ T, nên gọi là T3
*** Thanh Tâm Tuyền, viết tắt TTT trong nguyên bản của Bùi Công Thuấn
1. Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng trần truồng, Bùi Công Thuấn – nguồn: damau.org
2. Khi kẻ lưu đày là nhà văn: cuộc đối thoại về những khổ đau và hoan lạc, Wojciech Karpinski – nguồn: Tienve.org

bài đã đăng của Phùng Nguyễn


@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)