- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Một thời Đại Học Sài Gòn: Giáo sư Trần Ngọc Ninh và Di ngôn ẩn giữa bao mùa tuyết xưa (kỳ 1)

* Mais où sont les neiges d’antan?
François Villon

Nhưng những tuyết xưa nay là nao? 
Trần Ngọc Ninh

 

Tôi liên tưởng mấy mùa tuyết phủ với giáo sư /học giả/bác sĩ Trần Ngọc Ninh. Lần thứ nhất, phụ trách việc chữa và soát lại bản đánh máy khi ông giao Tuyết xưa-Viết về văn hóa [Khởi Hành xuất bản, 2002] rồi sửa soạn cho Tố Như và Đoạn Trường Tân Thanh [Việt Học & Khởi Hành xuất bản, 2004). Lần thứ hai, ông phó thác một bức thư nhắm đính chính vài tin tức sai lầm liên quan đến thanh danh (2008), nhưng chỉ phổ biến sau khi ông qua đời. Lúc ấy, tôi vừa trở lại Pennsylvania, tái ngộ mùa đông trắng xóa long lanh tuyết dưới ánh trăng trong đêm khuya, trên đường về căn nhà thuê u tịch và buốt giá như nấm mồ.

Trong 3 mùa tuyết xưa, tôi đã mở được thêm một cánh cửa dõi vào quá khứ Đại học Miền Nam, gián tiếp đối diện với nhân chứng và sự kiện vẫn kiên nhẫn chờ đợi trong thinh lặng. Trong trường hợp này là Giáo sư/học giả Trần Ngọc Ninh và thời kỳ ông đã hành nghề như một bác sĩ Y khoa, đã dậy tại Đại học Y khoa-Viện Đại học Sài gòn, đã giảng tại Viện Đại học Vạn Hạnh, đã luận về Việt ngữ, đã khảo về văn chương và triết học thế giới, đã trầm ngâm về Phật học, đã tham chính trước 1975 và đã sống vài năm trong thành phố hấp hối sau 1975. Đó là giai đoạn điên đảo khi Đảng Cộng sản Việt Nam nắm được chính quyền miền Nam, mà mượn chữ của chính ông sử dụng cho thời Nguyễn Du, cũng không khác mấy:

-… hơn nữa lại hãy còn mờ-mịt vì sự tiêu-hủy, cất-dấu và ngụy-trá các sử-liệu, cả trong lãnh-vực văn-chương-sử… [Trần Ngọc Ninh, Tố Như và Đoạn Trường Tân Thanh]

Chân dung Giáo sư /Bác sĩ Trần Ngọc Ninh [1923 (Hà Nội) – 2025 (California)

Ông may mắn thoát được sang Hoa Kỳ cùng gia đình, bằng một cuộc vượt biển chỉ sau hai năm đối diện với lá cờ đỏ, rồi tiếp tục hành nghề, tiếp tục viết nghĩa là tiếp tục nghiên cứu và phát biểu.

A-THAM DỰ NHƯ MỘT NGƯỜI THÀY và NHƯ MỘT CÔNG DÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA 1954-1975

Giáo sư/học giả/bác sĩ Trần Ngọc Ninh không chỉ là một vị thày lỗi lạc đã giúp gầy dựng Đại Học Y Khoa-Viện Đại học Sài Gòn, ông còn tham chính khi nhận trách nhiệm Tổng trưởng Văn hóa Xã hội và Đặc trách Giáo dục (1965-1967), Việt Nam Cộng Hòa, Ngoài Y khoa, ông giảng dậy Môn Văn minh Đại cương và Văn Hóa Việt Nam tại Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn (1966-1975). Sự nghiệp đồ sộ của ông gồm nghiên cứu về văn hóa và Việt ngữ, về văn chương ngoại quốc và Việt Nam, đặc biệt về Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh. Lời văn, lời dịch của ông hàm súc mà diễm lệ, tân kỳ.                                                                            


Từ phải: Gs May, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Nguyễn Hữu, Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Trịnh Văn Tuất. [Album gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

Cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm xẩy ra vào tháng 11. 1963. Loạt biến động chính trị tiếp theo với giới tướng lãnh chủ động. Một năm sau cuộc cách mạng, Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục bất ổn với các cuộc chỉnh lý và thay đổi nhân sự. Chính trị tiến thẳng vào khuôn viên Đại Học. Thủ đô Sài Gòn lốm đốm rồi tăng dần sự xuất hiện của các lãnh tụ sinh viên thiên tả hoặc nằm vùng ra mặt chống đối nhân danh hòa bình, thống nhất. Tiếp đó và cho đến 1975, các vụ ám sát giáo sư hay sinh viên, hoặc trí thức cho thấy bạo động mượn danh chính trị cũng tiến vào thành phố. Báo chí Miền Nam và các cơ quan truyền thông ngoại quốc liên tiếp đăng tải hình ảnh thanh niên thanh nữ sinh viên xuống đường biểu tình, những cuộc biểu tình có khi trở thành bạo động khi xô xát với cảnh sát. Chúng ta, những người sống tại Miền Nam, hẳn chưa quên cảnh mấy nhóm thanh niên, thanh nữ, sinh viên giằng co với Cảnh sát Dã chiến? Những hình tượng vẫn được lập đi lập lại trên báo chí quốc tế thời đó như xe hơi thuộc các cơ quan Hoa Kỳ bị đốt cháy giữa Thủ đô Sài gòn; một nhóm ký giả đội nón rách biểu tình trong ngày “Ký giả đi ăn mày”. Việt Nam Cộng Hòa đã thua trên mặt trận tuyên truyền thế giới khi chỉ có những hình ảnh đó xuất hiện trong khi không tự vệ được bằng cách cho thấy sự trà trộn của cán bộ Cộng Sản; đồng thời không giải thích được các biện pháp tuy bất thường nhưng cần thiết trong một quốc gia tham chiến.

Thêm vào đó, sự kiện thường được phổ biến bên cạnh một quân đội (đàn ông) hèn nhát, yếu kém là con số do một vài người ngoại quốc bịa đặt về phụ nữ Miền Nam phục vụ tại các quán “bar” (loại tiệm rượu dựng lên một các vội vã sơ sài tại Sài gòn hay những thị trấn gần căn cứ đóng quân của quân nhân Hoa Kỳ). Những con số không chính xác đó được đậm nét thêm bằng hình ảnh đàn bà buôn hương bán phấn và vợ giai đoạn (tạm bợ) của người Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Càng khích động hơn là loại hình ảnh tương phản giữa nữ du kích Mặt trận Giải phóng Miền Nam mang súng, quấn khăn rằn chiến đấu rất oai hùng trong khi phụ nữ Miền Nam quấn khăn tang quằn quại than khóc. Xúc động hơn nữa là hình ảnh phụ nữ trí thức –như bà luật sư Ngô Bá Thành—thể hiện quyền được xuống đường tranh đấu trong bộ áo dài trắng không vết bẩn với đôi giầy tây hay dẫy dụa tuyệt thực trước ống kính ngoại quốc.

Biểu diễn phụ nữ Miền Nam như một thứ sinh vật đáng thương, vô dụng, bị đàn áp, làm trò chơi cho người ngoại quốc vv. vẫn là thứ khí giới lợi hại của Cộng sản, Nằm vùng và Thân-Cộng nhắm vào mặc cảm bất lực của một số đàn ông trước tình thế chính trị. Trong khi đó, trí thức–như Giáo sư Trần Ngọc Ninh- Chủ đề của Phần I, và Giáo sư Nguyễn Văn Trung-Chủ đề của Phần 2 trong loạt viết về Đại Học– cùng sinh viên, nhất là sinh viên thuộc Viện Đại học Sài Gòn và Viện Đại học Huế, phản ứng thế nào trước các cơn hồng thủy bên trong và bên ngoài?

Như thường lệ, chữ và mực sẽ lại chiếm một chỗ quan yếu bên cạnh súng và đạn ở cuộc chiến này. Thế nên, tuần san Tìm Hiểu— do một số giáo sư, trong đó có Giáo sư Ngô Gia Hy, Giáo sư Trần Ngọc Ninh, và Giáo sư Nguyễn Văn Trung, thuộc Viện Đại học Sài gòn, chủ trương–và nguyệt san Tình Thương, do Sinh viên Y Khoa thuộc Viện Đại Học Sài gòn thành lập sẽ phản ảnh phần nào sinh hoạt báo chí trong nền Đại học Tự trị Miền Nam. Hai tạp chí này cũng là chứng cớ nhắm đối chiếu với tuần báo Lập Trường do một nhóm giáo sư tại Viện Đại học Huế lãnh đạo.

Vượt ngoài khuôn viên Đại học, theo thời gian, các tạp chí Hành Trình, Đất Nước, Trình bầy hoặc Đối Diện quy tụ một số tác giả cộng tác cũng xuất thân từ hệ thống Đại học và Quân lực Miền Nam. Trong số đó, một thiểu số Thân-Cộng, thậm chí Nằm Vùng ngay giữa ban ngày, không cần mai phục. Sau 1975, người thắng trận Cộng sản phóng đại các hoạt động nhân danh giai cấp lao động và hướng về “dân tộc” của vài tạp chí thượng dẫn hầu tiếp tục thuyết phục thế giới và người dân Miền Bắc về sự tiến chiếm Miền Nam qua hài kịch người dân Miền Nam muốn được “giải phóng”. Bởi thế, việc trình bày và phân tích những tạp chí/nội san cổ võ cho một nền đại học tiến bộ và chống Cộng Sản như Tìm Hiểu và Tình Thương; song song với việc ghi nhận khuynh hướng chính trị cùng thất bại của Hành Trình, Đất Nước, Trình bầy càng cần thiết hơn với thời gian không ngừng di chuyển.

I.  MỘT NỀN TỰ TRỊ ĐẠI HỌC: NỘI SAN TÌM HIỂU VÀ TUẦN BÁO LẬP TRƯỜNG

 Khác với các tập san chuyên môn như Đại Học (Viện Đại Học Huế) hay Tư Tưởng (Viện Đại Học Vạn Hạnh), Tìm Hiểu trở thành một trường hợp đặc biệt vì là một diễn đàn phản ứng với thời cuộc có liên quan đến giới Đại Học dù rất vắn số. Tôi không biết nội san dầy 16 trang, quay ronéo, phát hành mỗi tuần này ra được bao nhiêu số nhưng có lẽ chấm dứt sau 2 số vì, ngay sau đó, Khoa Trưởng Đại học Văn Khoa-Viện Đại học Sài gòn/Giáo sư Nguyễn Văn Trung, một trong 3 vị chủ trương Tìm Hiểu, dựng nguyệt san Hành Trình vào đầu tháng 10, đánh dấu sự tái xuất của riêng ông trong hoạt động báo chí, nhưng dấn thân và quy mô hơn. Cả 2 số Tìm Hiểu chú trọng vào 2 vấn đề: Hợp tác chặt chẽ hầu xây dựng một xã hội biến đổi sau Cách mạng ngày 1 Tháng 11 năm 1963; tuy thế, nền Tự Trị Đại học vẫn phải được duy trì.

1.  Nội san Tìm Hiểu

Sau số 1, Ban Chủ trương chính thức mời giới giáo sư và giáo chức thuộc Viện Đại Học Sài gòn cùng tiếp tay:

Bức thư ngỏ 
Kính gởi các Giáo Sư và Giáo-Chức Đại-Học

SAIGON

Thưa Quý Bạn,

Chúng tôi hân-hạnh gởi đến tay Quý Bạn tập-san Tìm Hiểu này và rất mong có sự hưởng-ứng và những ý-kiến của các Bạn. Lẽ ra chúng-tôi phải trình-bầy với tất cả các Giáo chức Đại Học ý-định của chúng tôi, để tìm sự cộng tác của những người đồng tâm và lấy những ý-kiến xây dựng của toàn thể, trước khi bắt tay vào công việc này. Nhưng, cũng như trong trường-hợp của tất cả các tạp-chí nghiên cứu khác, chúng tôi thấy cần ra mắt đã, và cũng để tranh-thủ thời-gian, và cũng để tỏ rằng việc làm quan hệ hơn lời nói. Sau đó, chúng tôi sẽ tìm thêm những bạn đường và lấy những phê bình của bằng hữu để cùng làm, cùng học. Chúng tôi quan-niệm tập báo này như là một nơi quy-tụ các ý-kiến chung của chúng tôi, để dần dần xây-dựng ra được một con đường của Đại-Học Saigon. Xin Quý Bạn đừng coi tập báo này là của riêng ai: nó bắt đầu phải ở một nhóm mà ra, nhưng ngay từ đầu và mãi-mãi, nó là của chung tất cả, nó là hình ảnh cái xã-hội mới của Đại-Học. Chúng tôi mong chờ rất nhiều ở Quý Bạn, cũng như quốc-dân vẫn còn mong chờ rất nhiều ở chúng ta. Thân mến gửi lời chào Đoàn-kết. [Tìm Hiểu số 2, “Bức thư ngỏ”, trang 1, Ngày 29, tháng 9, 1964]    

Tìm Hiểu thuộc loại nội san dành cho nhóm hay hội đoàn, rất thịnh hành thời đó vì thường không phải qua hệ thống kiểm duyệt. Sau này, khoảng 1972, có tờ tuần báo cùng tên Tìm Hiểu chuyên về “Thời sự Sinh hoạt” do Phan Lâm Hương làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút nhưng hoàn toàn không liên quan đến tờ Tìm Hiểu của 3 vị giáo sư trên. Tôi may mắn tìm được 2 tờ Tìm Hiểu phát hành vào cuối tháng 9, năm 1964, trong một cuộn microfilm thuộc Thư viện Viện Đại học Cornell, Ithica, New York nên sẽ cho đăng lại 3 bài của họ và nhiều tin tức khác từ bản microfilm đó.

Giáo sư Y Khoa Ngô Gia Hy mở đầu bằng lời giới thiệu cùng giải thích nhu cầu “tìm hiểu”.  Giáo sư Văn Khoa Nguyễn Văn Trung tiếp tục với “Rút kinh nghiệm” căn cứ trên sinh hoạt lỏng lẻo tại Đại Học. Giáo sư Y khoa Trần Ngọc Ninh góp ý về “Vấn đề Hiến Pháp”. Tìm Hiểu kết thúc với phần “Tin tức”, chiếm nhiều trang, chú trọng đến biến cố “Chính trị hóa Đại Học” tại Huế. Năm 1964 là một năm đầy sóng gió khi quốc gia dựng nước mới mươi năm lại trải qua một cuộc Cách mạng vấy máu, trong khi vừa muốn chận đứng Cộng Sản bằng hệ thống Hành pháp vừa muốn bảo đảm được hệ thống Lập pháp.

Tìm Hiểu số 1, ngày 22, tháng 9. 1964 & Số 2, ngày 29, tháng 9. 1964
In thêm lần thứ 2
Nguồn: Microfilm từ Thư viện Viện Đại Học Cornell, Hoa kỳ
Tìm Hiểu khổ 21cm x 27cm, không đề giá, nhưng ban chủ trương đề nghị độc giả hỗ trợ 50 đồng một số nếu muốn.        

1.1   Để tìm hiểu và để sống… – Giáo sư Ngô Gia Hy, Đại học Y Khoa Sài Gòn

Đại diện cho nhóm chủ trương, Giáo sư Ngô Gia Hy giải thích sự cần thiết của một thái độ dấn thân trang bị bằng kiến thức cụ thể trong một xã hội bất an với hai tôn giáo (Phật giáo và Công giáo) có mặt một cách trực tiếp, giữa tình hình chính trị bất ổn với những cuộc chỉnh lý thay đổi nguyên thủ quốc gia:

-Nếu học là để biết sống, thì một đời người đối với cái biết thật là ngắn ngủi (1) thật là nhỏ bé, không bằng hạt cát trong bãi sa mạc. Bởi vậy, nhiều lúc phải trong muôn ngàn cái biết, chọn lấy một hai, để đào sâu, ở mọi khía cạnh, ở mọi sắc-thái, ở mọi hình-thức, để tìm và hiểu… và để sống. Mà một trong những vấn-đề hiện-tại, đòi hỏi sự tìm hiểu là tình-trạng Việt-Nam trong lúc này, ở giữa thế chiến-quốc, tứ phía bị tấn-công, mặt trong cũng như mặt ngoài, ngoại thù có, nội thù có. Mỗi ngày một biển-chuyển, mỗi ngày một bạo-động, mỗi ngày một biến-cố. Tỉnh-trạng ấy, bắt buộc mỗi người công-dân, bất-luận ở tầng-lớp nào đều phải suy-luận để tìm ra một hướng đi cho mình và cho người. Đó là một bổn-phận trong muôn vàn bổn-phận, để khỏi bị lôi cuốn như con thiêu thân. Và hãy can-đảm, lãnh lấy trách-nhiệm ấy, nói lên ý-nghĩ, viết lên ý muốn. Để ý ấy là sợi giây chuyền móc nối với những bạn đường cũng đang băn-khoăn và đăm-chiêu với thời-cuộc. Và đừng e ngại những danh-từ như: ‘Chính-trị’ ‘Dân-tộc’ ‘Xã-hội’ tuy rằng nó đã bao phen bị bôi nhọ, bị lợi-dụng, bị chà đạp bởi những con người hèn, tham và độc-ác. Mà chính vì thế, nên “nghĩa” của nó là cần phải làm cho sáng-tỏ, chính vì thế nên nó đòi-hỏi ở mỗi công-dân còn tha-thiết với quốc-gia những lời chân-thành, những việc vô-tư, những kế-hoạch xây-dựng, những hành-động vun-đắp.  Tìm-hiểu là vậy, tìm-hiểu: — để đắp một con đường sống, tay giắt tay, yêu thương hòa với yêu-thương, xóa những bất-công xã hội, đem công-bằng lại cho tất cả, — để những ai muốn đi tìm hạnh-phúc trường-cửu trong mỗi tín-ngưỡng, đều được tự-do đi theo tiếng gọi của Tim hay của Tâm. Con đường có khác nhưng biết đâu chẳng gặp nhau ở một ngã ba nào để cùng an-hưởng thái-bình vô-tận và vô-biên. Hãy trả cho tín-ngưỡng những quyền và bổn-phận của tín-ngưỡng, để nó khỏi bị nhơ bẩn, hoen-ố bởi những thối-tha của cõi đời ô-trọc này. Tìm hiểu như vậy, thiết nghĩ, đâu có quá tầm tay, và cũng chỉ là một phương-tiện để khỏi đi bên lề cuộc sống, để một lần nữa đừng giậy [sic] làm công việc phải làm, nói sự việc phải nói. [Ngô Gia Hy, “Chủ trương Tìm Hiểu”, Tìm Hiểu Số 1 (in thêm lần thứ 2), trang 1, ngày 22 tháng 9. 1964 * Chú thích của tác giả: “(1) Chỉ như trong một khoảnh khắc trong thời gian vô tận.”]

 Chính vì thế, giáo sư Nguyễn Văn Trung muốn giải quyết tình trạng lỏng lẻo của giới Đại Học, nguồn gốc của sự “dậm chân tại chỗ”.

1.2.   Rời rạc chứ không phải chia rẽ vì có làm gì chung đâu mà chia-rẽ…- Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn Khoa Sài gòn

Từ những ngày đầu của Viện Đại Học Huế, Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã được Linh mục Viện trưởng Cao Văn Luận giao nhiệm vụ “Chủ trương và Biên tập” tạp chí Đại Học từ tháng 2, 1958 đến tháng 4. 1961 khi phải rời Viện Đại Học Huế một cách đột ngột. Ngoài nhiều tác phẩm xuất bản, ông còn chủ trương tạp chí (quay ronéo) Hành Trình ngay sau khi rời Tìm Hiểu. Ông cho biết “Sau đảo chính 63, tình hình Miền Nam xáo trộn, không ai có thể thờ ơ với những vấn đề chính trị. GS Trần Ngọc Ninh, GS Ngô Gia Hy và tôi ra tờ Tìm Hiểu in ronéo…” [Nguyễn Văn Trung, Bản thảo Nhìn lại những chặng đường đã qua, trang 8]. Mong muốn được tái sinh hoạt sau vài năm bị ném vào một môi trường xa (Huế) mà không lạ (Sài Gòn), ông ngỏ ý trên Tìm Hiểu

-Phải nhận rằng giáo-sư đại-học Saigon rời-rạc. Rời-rạc chứ không phải chia rẽ vì có làm gì chung đâu mà chia-rẽ. Do một tổ-chức phân tán, các khoa cách biệt nhau, nên phần đông không quen biết nhau. Rồi trong mỗi khoa cũng hầu như chẳng có sinh hoạt gì chung, thì chẳng hạn, thảo luận rút kinh- nghiệm giảng dạy, trao đổi ý kiến  về bộ môn phụ trách, biên-khảo, nghiên-cứu sáng tác… Ai nấy đến dạy rồi về. Có gặp nhau thì chào hỏi vui-vẻ vài câu. Thế thôi. Trong một thực tế rời-rạc như thế, thật khó là quan niệm nổi có thể có sinh-hoạt tư-tưởng chính trị. Cho nên, khi cần gặp nhau để định làm một việc gì, không thể tránh khỏi hiểu lầm, ngộ-nhận. Những hiểu-lầm càng dễ xảy ra khi ai cũng có quyền dè dặt nghi-kỵ trước những lo-sợ bị lợi-dụng gì đây…Buổi họp hôm 28.8 ở trường Luật, còn tạm ổn. Nhưng buổi tụ họp sau thì phải kể như một thất-bại. Suốt 3 giờ, chỉ cãi nhau rồi giải-thích những hiểu lầm, hoặc xác-định vấn-đề, mục-đích buổi họp đứng ở cương-vị nào mà đến họp, quyền-hạn ăn nói của chủ-tịch buổi họp v.v… Nhiều người chán nản, lần lượt bỏ về. Thật là trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Lúc đó, tôi có cảm tưởng ngộ nghĩnh giá có thể bắt các vị Giáo-sư khả kính mà ngồi học lại mấy giờ luận-lý-học, không phải để chứng-minh ai phải ai trái, vì ai cũng có lý cả, nhưng là để nhắc lại những quy-luật phát-biểu, cách lập luận sao cho khỏi bị hiểu lầm. Thực ra là do thiếu tổ-chức, những người đứng ra triệu-tập đều sốt-sắng hăng hái nhưng cứ tưởng rằng gặp nhau là là lo được việc vì ai cũng có thiện chí cả, chứ ăn nắm xôi thịt gì đâu. Không kể những khuyết-điểm của chính buổi họp (thiếu chủ-tịch sau mới bầu, phát biểu lung tung, không có chương trình nghị-sự nhất định), có lẽ lý-do chính là lối mời họp qua hệ thống hình-chính (các khoa-trưởng) và mời tất cả, ai đi thì đi. Có thể nhiều người không thích, không quen những sinh-hoạt ngoài chuyên-môn, nhưng vì khoa-trưởng mời, nể nên đi. Đó là một điều nên tránh, vì đến họp phải là người băn-khoăn thật sự, là muốn dấn-thân làm một cái gì chung với người khác, do đó không nên ép anh em theo lối “Hành Chính”. Rồi mời ai đi thì đi, nên có người đi, người không đi, hoặc không đi lớp trước, lần sau đi, nên không được biết những quyết-định trước, chưa biết nếp tẻ ra sao, dĩ nhiên phải đặt lại đủ mọi vấn-đề thắc-mắc…Để tránh những khó khăn trên, chúng tôi nghĩ rằng: Đối với những anh em còn thụ động, chưa nên thúc đẩy tham gia có tính cách ép buộc vì nể nang. Thà thụ động còn hơn bốc đồng, làm ẩu mà vẫn tưởng mình là cứu-tinh dân-tộc. Vấn-đề là làm sao để những anh em băn-khoăn tha-thiết đến thời-cuộc có thể gặp nhau, bàn bạc, tìm ra một lập-trường trước tình thế, đóng góp một chút với người khác ở cương-vị của mình. Thiết tưởng nên bắt đầu một cách khiêm-tốn bằng một nhóm nhỏ và liên-lạc tìm nhau căn-cứ vào sự quen biết để thông-cảm với nhau đi đã trước khi tham-dự. Nhóm cứ thế là lớn dần, đông lên, tuy có chậm, nhưng chắc, vì xây trên sự thông-cảm, đồng-thời cho ra một tờ nội san làm chỗ liên lạc, phản ảnh những tìm hiểu chung. Đó là ý định của chúng tôi khi gửi đến các bạn đồng-nghiệp, giáo chức đại học Saigon tờ “Tìm hiểu” nhỏ bé này. Số đầu “chưa có gì” là vì mới chỉ nhân giới thiệu một ý-kiến, một dự-định qui-tụ, thế thôi. Mong được sự hưởng-ứng của tất cả những bạn tha-thiết.” [Nguyễn Văn Trung, “Rút kinh nghiệm”, số 1, trang 2-3]

Sau Giáo sư Ngô Gia Hy và Giáo sư Nguyễn Văn Trung, đến lượt Giáo sư Y Khoa Trần Ngọc Ninh.

1.3 Ở Việt-Nam, nếu qua một thời-kỳ niên-thiếu mà không tham-dự một chút nhỏ nào trong những phong-trào chống Pháp và Nhật, chống Cộng-Sản và chống Độc-Tài thì dầu là luật-gia đại tài hay Thạc-Sĩ Công-luật cũng không đáng kể… – Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Đại học Y khoa Sài Gòn

Giáo sư Trần Ngọc Ninh bầy tỏ tâm niệm của chính ông khi đề nghị đến điều kiện cần có của người có trách nhiệm soạn thảo bản Hiến Pháp: chống lại mọi thứ quyền lực áp chế người dân. Từ kinh nghiệm cá nhân ấy, người soạn thảo sẽ tự nguyện đem sở học hầu phụng sự người dân, hướng đến một bản hiến pháp đáp ứng được nhu cầu quốc gia:

-Tôi không nhớ ai đã nói rằng người Việt-Nam bắt chước rất giỏi, nhưng không biết sáng tạo. Câu nói ấy không đúng trong tuyệt đối, nhưng không hẳn là không phản ảnh một sự thực đáng buồn. Như trong vấn-đề hiến-pháp. Làm hiến-pháp để thành một thông-lệ từ hồi Cách-Mạng Mỹ và nhất là từ cuộc Cách-Mệnh Pháp, cho những quốc-gia mới thành-lập. Làm việc bất cần Hiến -Pháp là một cái thông-lệ thứ hai, và nhiều nền Cộng-Hòa Pháp từ số một đến số năm và Liên-Bang Cộng-hòa Sô-Viết đã tạo ra cho cả thế giới noi theo. Chúng ta cũng không thể tránh khỏi những thông lệ ấy. Bắt đầu với cuộc Đảo Chính Nhật ngày 9.3.1945, người ta nói đến nền Quân-Chủ Lập-Hiến, nhưng không thấy lập-hiến ở đâu cả. Năm tháng trôi qua, rồi tới Hiến-Pháp của Quốc- Hội Việt-Minh, chép gần đúng từng mục một ở Hiến-Pháp Nga-Sô ra và cũng bị chà đạp như ở Nga- Sô. Khi Ông Ngô -Đình -Diệm đảo-chính để truất-phế Ông Bảo-Đại xong, cũng lại theo đúng lề-lối như thế vì làm ra một cái Hiến-Pháp không bao-giờ áp-dụng. Qua một cái Hiến -Chương đời sống ngắn ngủi chỉ có năm ngày nhưng cũng đủ để vào lịch-sử với cái biệt danh “Ô-Cấp”, bây giờ người ta lại nói đến Hiến-Chương và Hiến-Pháp nữa. Lần này, người ta nghĩ ngay là việc soạn thảo hiến-chương cần phải giao cho một số luật-gia. Rất đúng, vì luật-gia là những nhà chuyên-môn về luật, cả Hiến-Chương và Hiến-Pháp là những bản văn quy định những luật căn-bản để đặt những cơ cấu của Quốc-Gia. Rất đúng, chỉ thiếu có một điều là những luật-gia làm Hiến-Pháp trong những thời Cách-Mệnh, Jefferson ở Mỹ, Robespierre, Danton, Mirabeau ở Pháp, cũng phải là những nhà Cách-Mệnh, hay ít ra cũng là những người có một quá-khứ tranh đấu và trong sạch. Ở Việt-Nam, nếu qua một thời-kỳ niên-thiếu mà không tham-dự một chút nhỏ nào trong những phong-trào chống Pháp và Nhật, chống Cộng-Sản và chống Độc-Tài thì dầu là luật-gia đại tài hay Thạc-Sĩ Công-luật cũng không đáng kể. Nhiều người tin rằng việc làm Hiến-Pháp, tuy rất phức-tạp, nhưng không phải là khó khăn lắm. Có biết bao nhiêu là Hiến-Pháp ở trên thế-giới rồi, riêng nước Pháp từ hồi Cách-Mệnh 1789 tới nay, cũng có hơn một tá. Chỉ cần so sánh cho kỹ-càng và mất công triết [sic]-trung thôi. Có lẽ cũng phải để ý một chút về khuynh-hướng chính-trị của nhà cầm quyền đương thời nữa, nếu Chính-Phủ hiện tại thân Mỹ thì theo chế độ Tổng Thống và cứ dịch nguyên-văn bản Hiến-Pháp thế-kỉ thứ mười tám của người Mỹ là yên, còn nếu như Chính-phủ không có chính-sách gì cả, thì sẽ liệu mà pha trộn cho khỏi mất lòng người nào hết.  J. Bodin là một luật-gia rất cổ của Pháp, và chắc bây giờ ít ai thì đọc tới, đã viết từ năm 1593 rằng “nhiều người đã phá hoại những nền Cộng-Hòa rất đẹp và vĩ-đại vì họ đã bị cám-dỗ bởi một luật-pháp mỹ-miều mà họ mượn ở một nước Cộng-Hòa hoàn-toàn trái-ngược với nước của họ (Plusieurs ont ruiné de belles et grandes Rubliquer sous l’appat, d’une belle ordonnance qu’ils avaient empruntée d’une République du tout contraire à la leur). Người Việt-Nam mình ai cũng biết rằng bưởi Biên-Hòa trồng sang nơi khác thì chua. Xin đừng trồng đại cây Hiến-Pháp của bất cứ nước nào sang xã-hội Việt-Nam. Những ai đã đọc cuốn “Dân-Chủ Mỹ-Quốc” của De Tocqueville đều thấy rằng có biết bao-nhiên điều-kiện lịch-sử, tâm-lý, xã- hội và văn-hóa đã vun bón cho Hiến-Pháp Hoa-Kỳ. Một Hiến-Pháp viết ra, thường là một tác-phẩm lý-trí vĩ-đại, một lâu-đài đồ-sộ ngăn nắp, vừa hợp thời-trang lại cũng đúng cả với những nguyên-tắc luật- pháp cổ-điển. Có điều đáng buồn, là một số lớn các Hiến-Pháp soạn thảo ra chỉ làm vừa lòng những tác-giả của Hiến-Pháp mà thôi. Không có Chính-Quyền nào chịu nằm yên trong cái khung của một Hiến-Pháp mà không tìm cách duyệt lại, trừ khi là ngay từ đầu bản văn đã được bỏ vào một ngăn kéo và khóa kín. Cũng không có một khối dân chúng nào mà chịu đựng nổi một Hiến-Pháp cứng rắn và không nổ bung lên sau một thời gian bị rồn [sic] ép. Vì sao? Một phần vì một số những người soạn-thảo Hiến-Pháp chỉ là những người chính-trị trong phòng, thích những lý-thuyết diễm ảo. Dàn xếp khéo-léo, lý-luận vững-chắc, lời văn trang-nghiêm tưởng thể là đủ, còn thực-trạng xã-hội thế nào luật đặt ra có hiệu-quả trong thực-tế hay không, thì không cần biết. Phần nữa thì cũng vì Hiến-Pháp nào viết ra cũng có tính-cách cố-định mà không có xã-hội nào không biến đổi với thời-gian, trong những điều-kiện kinh-tế cũng như trong cấu-tượng chính-trị. Hiến-Pháp mà không hợp với hướng tiến-bộ của xã-hội, và cũng không đủ mềm dẻo để chịu những thích-nghi cần-thiết thì chỉ là những bức tường cản bước đường đi của chúng ta. Ngược lại, cũng phải tính trước sự một Hiến-Pháp soạn ra, đã được quốc dân thông qua và công-nhận rồi, mà bị dầy xéo trà [sic] đạp bởi Chính quyền. Cái gì bảo đảm cho sự thực-thi Hiến-Pháp mà không cần tạo ra sự bất ổn-định trên trường chính-trị? Không thể nào để cho mỗi chốc nhân-dân lại phải nổi lên, không thể nào cho phép ba tháng lại có một cuộc “Cách-Mệnh” trong một nước. Chúng-ta nếu có bắt chước người ngoài, thì cũng nên gắng và bắt chước một cách thông-minh, tìm lấy “Tinh-thần của các luật-pháp” mà áp-dụng vào xã-hội của chúng ta, để cho nguyện-vọng của người dân và quyền-lợi của cả nước được thành-toại. [Trần Ngọc Ninh, “Vấn-đề Hiến-Pháp”, sđd, trang 3-5]

Ba vị giáo sư thượng dẫn đã trình bày về hoàn cảnh và lý do của Tìm Hiểu, nhưng trong lúc ấy, những gì xẩy ra trong ngành Giáo dục toàn quốc, tại Viện Đại Học Sài Gòn cũng như trong nội bộ của Viện Đại học Huế? Phần “Tin tức”, số 1, cho biết chi tiết về cuộc từ chức của Giáo sư Bùi Tường Huân, Bộ Trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, kéo theo sự từ chức của Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Khoa Trưởng Đại học Văn Khoa thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Trước đó 1 tháng, cũng theo Tìm Hiểu, ông Nguyễn Được, Giám đốc Nha Kỹ thuật Học vụ đã xin từ chức.

Đồng thời, Linh mục Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại Học Huế, bị một nhóm giáo sư và hầu hết Khoa Trưởng các phân khoa buộc phải từ chức khi đang công cán tại Sài Gòn. Từ đó, vấn đề đặt ra là Đại Học đang có nguy cơ bị Chính trị hóa: Có phải nền Tự trị Đại Học Miền Nam đã bị vi phạm qua hành động và phát biểu của nhóm giáo sư thượng dẫn? Nhất là khi họ đã cũng tạo dựng một “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” mà văn phòng đặt ngay trong khuôn viên Đại Học. Sự tham gia ấy càng khiến sự lo ngại và phản đối trở nên chính đáng.

Tìm Hiểu không ngần ngại chỉ trích, ngoài hành động vi phạm tinh thần tự trị, việc đòi hỏi cách chức Linh mục Viện trưởng một cách quá lộ liễu còn có thể xúc phạm lây đến tinh thần đoàn kết tại Huế, nơi đa số dân cư theo Phật giáo nhưng đồng lòng hỗ trợ một Linh Mục Công giáo Viện trưởng:

– Sở dĩ chúng-tôi chú trọng đến việc xảy ra ở Huế, là vì nó trực tiếp liên-hệ đến Đại-Học. Chúng-tôi thiết tưởng chúng-ta tạm không xét đến đường lối chính trị của nhóm Giáo Sư Huế vì đó là quyền chính đáng và ta có thể tán thành hay không tán thành. Nhưng khi nhóm Giáo-Sư đó dùng áp-lực chính trị, để ép buộc toàn thể Đại-Học, với tư-cách Đại-Học phải chấp nhận đường lối chính trị của mình thì thử hỏi:

  1. Đó có phải là đã chính trị-hóa Đại-Học, vi-phạm tinh thần vô tư, tự-trị của nền Đại-Học không?
  2. Nếu cho rằng chỉ đường lối chính trị của mình là chính đáng, thích hợp với quyền lợi dân tộc và dùng áp-lực, thủ đoạn chính trị bắt buộc người khác phải theo hay loại bỏ những người không theo, thì đó có phải là “lại” độc-quyền lãnh đạo, cứu nước như ông Diệm đã làm trước đây không?

Phải nhận rằng, dưới thời ông Diệm, mọi lãnh vực đều chính trị hóa, trừ ngành Đại Học (kể cả Đại-Học Huế do chế độ Diệm tạo ra). Sở dĩ các Giáo Sư Đại-Học Huế không phải vào Thanh niên Cộng-Hòa, Phụ-nữ Liên-đới, là nhờ có thái độ cương quyết của Linh Mục Viện Trưởng. Do đó, ban giáo sư cũng giữ được sự nhất trí, không bao giờ có vấn đề chia rẽ tôn-giáo hay chia-rẽ về chính kiến chính trị. Chính để bảo vệ tinh thần tự trị đó mà giáo-sư đã vùng lên và L.M. Viện Trưởng đã bị cách chức hồi năm ngoái. Sau ngày 1-11-1963, giáo-sư và sinh-viên Huế đã long-trọng đón tiếp L.M. Viện Trưởng trở lại để chứng tỏ trước dư luận “Tinh thần Đại-Học” của trường mình và do đó có thể hãnh diện ghi ở dưới họa-đồ cơ-sở Đại-Học Huế để ở Tòa Viện-Trưởng câu nói đẹp đẽ sau đây: “Đại-Học Huế là nơi tôn trọng tự do học đường, tuyệt đối không bị tôn giáo hay chính- trị chi-phối, mặc dầu Viện-Trưởng là một Linh Mục Gia-tô-giáo và đa số dân-chúng theo Phật-giáo”. [Tìm Hiểu, số 1, trang 11-12, ngày 22.9.1964]

Như thế, tinh thần đoàn kết giữa các tôn giáo—ngoài tinh thần Tự trị Đại học– đã được biểu dương tại Huế và càng cần được duy trì sau cuộc Cách Mạng 1. 11. 1963. Giáo sư Trần Ngọc Ninh bày tỏ sự cần thiết ấy qua bài “Vấn đề đoàn kết tôn giáo” vào số 2 (sđd, trang 2-6) hầu “thể hiện một sự đoàn-kết trong tinh-thần đạo-lý,” vì “Đây là một trong những căn-bản của sự phục-hưng dân-tộc Việt-Nam.” [Trần Ngọc Ninh, Tìm Hiểu số 2, trang 6, ngày 29.9.1964]. Ngay lúc ấy, ngoài những vấn đề cấp bách như đoàn kết không giới hạn chỉ vào lãnh vực tôn giáo, vấn đề soạn thảo Hiến Pháp và thái độ dấn thân đã được bàn đến, thì nền Tự trị Đại học chắc chắn đang bị thử thách tại Viện Đại Học Huế. Sự thử thách này trầm trọng đến nỗi chiếm một phần lớn số trang của 2 tờ Tìm Hiểu mà tôi có. Ngày nay, nếu chúng ta được biết thêm chút nào một cách chính thức về thái độ và phản ứng của một số sinh viên và giáo sư tại cả Viện Đại học Sài gòn và Viện Đại học Huế về biến cố này là nhờ Tìm Hiểu.

(còn tiếp)

 

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc