Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Phỏng vấn, Quan Điểm, Văn Chương Thiếu Nhi Email bài này

đỗ quyên: văn chương thiếu nhi/thiếu niên không phải là "văn học chuẩn"

0 bình luận ♦ 6.11.2020

 

Đỗ Quyên
Nhà văn Đỗ Quyên

 

Một chuyên đề kinh điển và thời sự, lý thú và cần thiết. Dường như ở hải ngoại chỉ có damau.org đặt ra? (Điều này dễ hiểu vì ở đây văn học Việt không có riêng hẳn một dòng văn học thiếu nhi/thiếu niên).

Cảm ơn Ban biên tập Da Màu khởi ra chuyên đề này. Trước khi vào phần chính, tôi muốn được phi lộ 3 điều:

Một, đây là dịp may tôi xả ra điều ấm ức từ rất lâu thủ trong lòng: Văn học thiếu nhi/thiếu niên không phải là “văn học chuẩn”. Mời coi trong trả lời các câu hỏi từ (7) – (10).

Hai, gần giống như ở anh Trần C. Trí, các trả lời của tôi chỉ về dòng văn học dành cho thiếu nhi/thiếu niên. Tức là không tính các tác phẩm nổi tiếng dành cho mọi lứa tuổi (truyện cổ tích/dân gian, các kiệt tác kinh điển, phổ cập). Cũng chưa nói đến sự vượt biên sang cõi sách báo dành cho người lớn, vô thức hay cố ý đọc lén coi trộm (điều thường ở bất kỳ thời nào, xứ nào hễ có con nít và có sự đọc); như tá lả ở trả lời của 3 chị Vũ Thị Thanh Mai, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Phạm Hạ Mỵ Châu, hoặc không ít ở chị Trần Thị NgH., và 3 anh Trần Vũ, Thu Phong, Nguyễn Lệ Uyên. Đặc biệt ở anh Cung Tích Biền. Mà chính các cái này, với tôi mới thú vị, mới đáng nhớ, đến mức xin ra ngoài lề: Khi nào “ở không” Da Màu thử mở một tiểu chuyên đề như thế. (Mạn phép Cung tiền bối, kẻ hèn nầy đã phác ngay trong đầu dàn bài của mini tiểu chuyên đề chỉ nội về các tiên ý mà ngài vừa phát.)

Ba, qua dòng văn học thiếu nhi/thiếu niên, thêm một lần nữa – hẳn là lần thứ 1001 – cho thấy 2 nền văn học miền Bắc và miền Nam VN trước 1975 khác nhau ra sao. Đọc bài của 1 chị Trần Thị NgH và 2 anh Trần C. Trí và Trần Vũ tôi tỏ thêm nhiều điều! Tiếc, mình không có trí nhớ siêu như tam vị họ Trần để nhớ lại các sách, báo từng đọc, các sự việc, cảm xúc từng trải qua từ hồi nhỏ cho đến khi trưởng thành (thậm chí quá “tam thập nhi lập”) khi còn ở Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc như Hải Phòng, Phú Thọ.

Có thể nói, gần như cả tuổi thơ trẻ của tôi nằm trọn trong thời kỳ phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc miền Bắc VN: 1964 – 1972. Tức là cái đọc của lứa chúng tôi là “đọc trong thời chiến”.

Trước, tôi cũng coi sách báo đó đây, nghe bạn bè trong Nam nói nhiều về việc học hành, giải trí của tuổi thơ miền Nam trong ảnh hưởng của chiến tranh; nay đọc tất cả chẵn 10 trả lời trong 2 tuần qua trên Da Màu, càng hiểu hơn tính khác biệt của cuộc chiến tương tàn Việt Nam 1954 – 1975. Với miền Bắc: chiến tranh là của tất cả mọi người; Với miền Nam, chiến tranh là của người lớn (không kể những vùng lâm trận thường trực, như ở bài của Cung Tích Biền, Nguyễn Lệ Uyên).

Xin dẫn lại 2 câu tiêu biểu: “Ngày đó, cũng như hàng trăm ngàn cô cậu bé sống ở miền Nam thanh bình […]” (Trần C. Trí); và “[…] chính tủ sách chiến tranh trong Nam đã cho tuổi trẻ miền Nam nhiều cách nhìn về thế chiến mà không duy nhất một version chính thức của Hồng quân Nga hay Trung Cộng mà tuổi trẻ miền Bắc phải chấp nhận. Chính tủ sách chiến tranh đó, là tự do.” (Trần Vũ)

Xong vụ “vòng vo tam quốc”…

*

(1) Những tác phẩm thiếu nhi hoặc thiếu niên nào đã gây ấn tượng sâu đậm với bạn trong thời đi học/đang lớn? Tại sao?

Với cách đọc và cách nhớ có lẽ không giống nhiều người, thiệt tình tôi rất ngại nhào dzô thật lòng các phỏng vấn kiểu này. Người khó tánh dễ quở trách là làm dáng làm phách. Thưa không…

Trong việc đọc nói chung, không cứ sách thiếu nhi/thiếu niên, dù cũng là kẻ ham đọc song tôi không được/bị một hay vài cuốn sách nào “ấn tượng sâu đậm” như là thống lĩnh tâm tưởng. Theo suy luận thông thường, đáng lẽ cũng như bao người bình thường khác tôi phải có “ấn tượng sâu đậm” với vài cuốn ở thuở thiếu thời, từ khi được các trang sách mở ra một thế giới mới – thế giới của chữ. Thế mà tôi không được/bị vậy! Từ các kiệt tác quen thuộc với nhân loại tới các sách, truyện theo hướng tuyên truyền chính trị ở Việt Nam thời đó. Tất nhiên, cũng chỉ là độc giả bình thường nên tôi vẫn có chừng 2 tá cuốn văn học thiếu nhi/thiếu niên không nào thể quên; và mỗi cuốn có ấn tượng riêng, tác dụng riêng mà chưa chắc “mèo nào cắn mỉu nào”. (Xin bật mí về vụ này, tôi đã cho vào một chương trong bản thảo cuốn tiểu thuyết nói về lao động sáng tạo ở việc viết văn thơ; ví như khi ký ức ở một người viết không đến mạnh mẽ từ các tác giả lớn, tác phẩm lớn thì hắn xoay xở ra sao, v.v… và v.v…)

Trở lại nội dung của phỏng vấn… Ngay lúc này, với “trí nhớ cá vàng” tôi chỉ có thể dẫn (không theo thứ tự nào và chắc chắn rất nhiều thiếu sót) một ít cuốn nổi danh mà đứa trẻ ở miền Bắc trạc tuổi tôi cũng biết ít nhiều: Dế mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài), Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Nguyễn Huy Tưởng), Đội du kích thiếu niên Đình Bảng (Xuân Sách), Mái trường thân yêu (Lê Khắc Hoan), Từ góc sân nhà em (Trần Đăng Khoa), v.v…; Những tấm lòng cao cả (E. D. Amicis), Không gia đình (H. Malot), Đảo giấu vàng (R. Stevenson), Hoàng tử bé (A. D. Saint-Exupéry), v.v…

Về báo chí tuổi học trò thời đó, phải nói là cực nghèo nàn, dường như có nhõn một tờ báo lớn, phát hành rộng khắp miền Bắc là Thiếu niên Tiền phong. Thi thoảng cũng có các đặc san mà nay tôi chả còn nhớ gì sất! Tôi cực mê tập báo cũ dành cho nhi đồng thời Pháp thuộc mà nhà tôi còn giữ. Nay quên tên báo rồi, ở đó có mục truyện tranh “Hùng bắt cao bồi” với minh họa của họa sĩ lừng danh Mạnh Quỳnh. Có 2 tờ báo tiếng nước ngoài là Tiểu bằng hữu của Trung Quốc và một tờ của Liên Xô tôi cũng quên tên. Không cần biết đọc, chỉ nhìn ngó minh họa, truyện tranh ở 2 tờ báo đó lũ trẻ tụi tôi thích lắm.

Nhìn chung, so với sách báo mà tam vị họ Trần và các vị khác vừa liệt kê từng đọc ở miền Nam, nếu chỉ nói riêng về thể loại thì những gì tôi – và có lẽ các bạn cùng tuổi ở ngoài Bắc – đọc được là “thua chăm phần chăm”! Nhấn mạnh: về thể loại văn chương, loại hình sách báo…

(2) Lúc đó bạn thường hay đọc những thể loại văn chương nào?

Câu này – thú thật nha – tôi bật cười khi đọc mail “chủ xịn” Đặng Thơ Thơ gởi tới! Mần răng có sự chọn “thể loại văn chương” với cái thằng tôi hồi bé?! Vớ được gì vào tay, cái gì xà vào mắt là đọc thôi. Thời ấy tôi chỉ phân biệt hai “thể loại”: đọc để học, để làm bài tập; và đọc để… chơi! Lớn lên cũng biết nhiều người như vậy, lừng danh cùng vô danh. Họ đọc không chọn lựa. Hoặc do tính cách, hoặc bởi không được lựa chọn. Với tôi là cả hai.

[Ngoại đề: Năm 1996 tới Montréal, được nhiều buổi trò chuyện rồi làm phỏng vấn cùng GS Nguyễn Văn Trung, tôi mới thấy thế cũng là… chuyện nhỏ. Một lần tôi tỏ vẻ kinh ngạc khi ông “thuộc mặt rành lục phủ ngũ tạng” của cái tờ báo “còi” mà tôi từng cùng bạn bè làm thủ công và độc lập ở Đức, Giáo sư bảo: “Tớ có thói quen khi rảnh mà đọc báo, bất kể báo nào, là cứ đọc từ chữ đầu tiên thấy ở trang nhất cho đến chữ giá báo trang chót.” Khiếp! Nhà em cũng vậy đấy ạ, dưng mà tùy báo chứ, ông thầy?]

(3) Xin hãy kể lại những phương tiện sách báo vào thời điểm đọc sách thời đó: bạn mượn sách từ thư viện nhà trường, từ nơi cho mướn sách, được gia đình mua sách cho đọc, hay tự để dành tiền mua sách báo, v.v…?

Nhà tôi vốn đông anh chị em; 8 cả thảy, tôi ở gần giữa thuộc về lứa dưới. Cũng như đa số gia đình lắm con, chỉ làm cho nhà nước “ba cọc ba đồng” mà còn nuôi mộng con cái phải học hành hơn người, cha mẹ tôi dù rất muốn – như ưu tiên số 1 – cũng không thể nào mua sắm thư viện gia đình theo ý muốn. Làm ngành y trong thời chiến, song thân chuyển đổi bệnh viện liên tục, mỗi khi đến nơi mới là lũ chúng tôi lại có một thư viện nhỏ xíu theo cách chọn lọc mới. May bố tôi còn có nghề tay trái là viết báo (về y tế), nên trong nhà thường có báo chí không thua sạp tiệm bán báo là bao; và tất nhiên quan hệ bạn báo của người đã là nguồn chính về sự đọc của chúng tôi.

Dù nội dung và thể loại không đa dạng, số đầu sách ít ỏi, nhưng mạng lưới thư viện công cộng ở miền Bắc dạo đó có thể nói tương đối dày và đều xuống đến huyện, khu/quận. Và nhiều xã/tiểu khu lớn? Bất kỳ công sở, cơ quan, nhà máy… nào cũng có thư viện; và đây là nguồn nuôi chính cho cái đọc của mọi người. Hình ảnh cô thủ thư xinh tươi, trẻ trung, mau miệng, kén chồng…; bác thủ thư (thường là nam; tôi nhớ nhất là “chú Thao thư viện” của Viện điều dưỡng A) khó tính, ít nói, đăm đăm, ế vợ… là biểu tượng của văn hóa đọc ở xã hội miền Bắc trong ký ức tuổi thơ chúng tôi. Nhưng tiếc, riêng tôi lại hiếm cơ hội sử dụng thư viện công cộng để mượn sách, đến đọc… Có lẽ do không dễ dàng đến thư viện mượn-trả do nhà không gần thư viện, hoặc các lý do phụ khác (trên tôi là 4 anh chị lớn hơn từ 6-10 tuổi, đó là 4 nguồn mang sách về nhà rồi.)

A, với chức năng quan trọng khác của thư viện thì gia đình tôi lãnh đủ khiến tôi có dịp đến thư viện công cộng nhiều hơn cả: Nghe các buổi nói chuyện, bình thơ văn, nhất là khi có tác phẩm tạo dư luận.

[Lại ngoại đề: Ví như thơ Trần Đăng Khoa lúc nổi như thần đồng là ví dụ khá đau đời với tôi. Cái hôm đó chả hiểu mắc chứng gì khó ở tôi không thích đi; và bị thân phụ kéo tai lôi theo, hình như nghe xong về nhà còn xơi roi tiếp (nên sau cũng chả thèm nhớ người bình buổi đó là phê bình gia Vũ Quần Phương hay Hoài Thanh nữa!)

Hay như cái lần nghe Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu bình thơ lại là cú rất đau đời cho bác cả nhà tôi. (Người cũng đã về chốn xa cùng cha mẹ rồi, tôi mới dám bật cái mí nầy ra cùng thiên hạ). Số là lần đó bố tôi đích thân mời được thi nhân về Viện điều dưỡng A nói chuyện. Cuộc văn chương tươi đẹp như bao cuộc khác mà Ông hoàng từng thực thi trước đám đông khán giả hâm mộ tột đỉnh. Và một sự vụ rất thiếu chất thơ đã xảy ra nơi hậu trường (mà có lẽ vì “khờ khạo lắm, ngu ngơ quá. Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì” nên nhân vật chính không hề hay biết): Có đám trẻ con cứ ra ra vào vào WC của thư viện để rình xem chàng thi sĩ nức danh đất Việt giời Nam ấy có… “cái của con trai” không?! Và không ai khác “chú Thao thư viện” là người phát hiện kẻ đầu têu: Đích thị cậu con trai trưởng của chính cái ông trưởng ban tổ chức buổi nói chuyện! Ô là la…]

Với các trường học từng trải qua, hình như chưa đâu tôi phải mượn sách về đọc. Có lẽ thư viện nhà trường chỉ dành cho giáo viên và nhân viên?

Thêm bất hạnh nữa. Khác rất nhiều gia đình của bạn học tôi thời đó (hay như tam vị họ Trần nêu trên), ở nhà tôi chẳng hề có lệ mua sách thưởng cho con cái hoặc cho con dành tiền mua sách báo. Trách nhiệm mua, tìm sách là của “Đảng (cha) và Chính phủ (mẹ)”. Nhiệm vụ của các con là đọc, đọc nữa, đọc mãi… Luật bất thành văn ở nhà tôi. Vì song thân không rủng rỉnh hầu bao. Hoặc là cách dạy bảo con cái của người. Tôi đồ là vì cả hai.

Bù lại, tôi có một hạnh phúc tuổi thơ trong việc đọc sách mà đâu dễ mấy ai có? Độ 12-15 tuổi, được bố mẹ mua (hay thuê) cho cái xe đạp nhỏ xíu xiu (loại dành cho con nít, nên ít bị mất cắp) đế tôi thực hành 2 công vụ (gia đình vụ thì đúng hơn!) Một, đi mướn sách cho cả nhà; Hai, đến các tòa soạn báo gửi thư-bài, lĩnh báo biếu (nhuận bút thì còn xơi nhé!) cho bố mẹ, anh chị… Hạnh phúc kép. Nó làm nên xa lộ đầu tiên dẫn tôi tới ngôi đền văn học, với việc khoái chí nhất là được nhòm mặt (dù vô tình – tất nhiên!) các VIP của làng báo, làng văn Việt Nam (ở miền Bắc – cũng tất nhiên!)

(4) Bạn nhận được những thông tin hoặc nhận xét về các tác phẩm thịnh hành/đáng đọc từ đâu: bạn bè, nhà trường, người thân, v.v…?

Câu hỏi quan trọng. Cho biết cách thức sinh hoạt văn chương tuổi thơ trong xã hội nào đó, ở giai đoạn nào đó. Hồi bé tôi có được tin tức về các sách thịnh hành, cần đọc từ người thân và bạn bè của người thân, từ bạn học, bạn hàng xóm… Thầy cô giáo ở trường ít dự phần vào việc có ý nghĩa này. Trong một số buổi sinh hoạt thiếu niên thì có, song toàn là các sách, tin tức “quá đát” với tôi. Một phần nữa cũng qua đài, báo chí, nhất là thư viện (như nói trên). Khi tivi ở ngoài Bắc được phổ biến thì tôi đã thành người lớn từ lâu rồi… Cách thức như vậy cho thấy tương tác đọc của chúng tôi còn ở mức “tiền hiện đại”.

Một gia đình mà cả nhà viết báo, kể cũng là hiếm. Đó là mái ấm thơ ấu của tôi: từ bố, mẹ đến 7 đứa con (trừ ông anh kế tôi mất lúc 5 tuổi) kẻ ít người nhiều đều là cộng tác viên cho đôi ba tờ báo. Không kể các ngày bố có chuyện gì căng thẳng, bất ổn ở bệnh viện, công sở hoặc trong nhà có ai đó phạm lỗi, dính đòn, còn thì các bữa ăn của gia đình tôi đều vui như tết. Nhà chật nồi hẹp, vẫn thường có khách. Lắm khi khách từ trên trời rơi xuống. (Tỷ như lần ấy sau chuyến đi xa, từ ga về nhà bố tôi làm quen được với bác đạp xích lô thuộc Truyện Kiều. Thế là bla bla bla…) Mà chuyện báo bổ, sách bút, thơ thẩn đã là những cơn gió lành tràn vào mâm cơm đạm bạc.

Tờ báo mà gia đình tôi đồng thời góp bút chính là tuần báo Thiếu niên tiền phong chuyên dành cho thiếu niên, lớn nhất miền Bắc dạo đó và cả Việt Nam sau 1975 cho tới đầu năm nay. Từ những năm đầu thập niên 1960 đến sau 1975 vài năm, bạn đọc nhí – và cả không nhí – ngoài Bắc từng ghi lòng các bài phóng sự hấp dẫn với dãy truyện tranh mang hình ảnh chàng Bóng Nhựa vác cái đầu tròn như quả bóng bàn, và chàng Bút Thép thì treo trên mình cái đầu nhọn hoắt của chiếc ngòi bút sắt chấm mực. Hẳn là báo này lấy ý tưởng và kiểu minh họa từ 2 điển hình lừng danh Xã Xệ và Lý Toét từ các tờ Phong Hóa, Ngày Nay thời Pháp để dựng nên 2 nhân vật hiếm có trên mặt báo Việt Nam sau 1954 là Bóng Nhựa và Bút Thép. Nguyên mẫu của Bóng Nhựa và Bút Thép là từ nhà văn Cửu Thọ (sau 1975 làm Tổng biên tập NXB Trẻ và qua đời hồi 2016) và nhà báo Mạnh Chuẩn.

Do làm báo, lại là chỗ thân tình với 2 ký giả xông xáo và tài ba ấy (tụi nhóc chúng tôi còn nghe lén chuyện người nhớn rằng, đâu như một trong nhị vị xém làm rể cưng trong nhà?), gia đình tôi trở thành “Tổ cộng tác viên” của tờ Thiếu niên Tiền phong. Nhân dịp nào đó Tổ cộng tác viên chúng tôi hè nhau bò ra dán được tới 300 phong bì thư từ giấy báo cũ để làm quà tặng cho Tòa soạn Thiếu niên tiền phong. Trở thành hiện tượng nho nhỏ của báo, và là sự kiện cực lớn với gia đình tôi trong các sinh hoạt ngoài viết lách. Sau đó mỗi khi chúng tôi, nhất là các anh chị lớn đi học, đi chơi đều bị bạn bè, hàng xóm réo gọi “300 phong bì ơi!” Cộng tác bài vở của đại gia đình tôi với Thiếu niên Tiền phong có lẽ thưa hẳn khoảng thập niên 1990 nhưng thâm tình cá nhân vẫn lai rai. Với vị Tổng biên tập cuối cùng của báo [đầu năm nay, tháng 2/2020, đã hợp nhất với tuần báo Nhi đồng (từ năm 1983) thành báo Thiếu niên Tiền phong và Nhi đồng] mà tôi từng là cộng tác viên thân thuộc thời các năm 1980 khi chàng còn là thi sĩ mới ra trường, tôi cũng có đôi lần gặp lại khi về Việt Nam. Còn vị TBT tiền nhiệm thì lại là văn hữu với ông anh cả nhà tôi.

Khoe vui vui dông dài và “bắt quàng làm họ” hơi nhiều VIP (à mà VIP của cái tờ báo con nít thì nào sang cả gì cho cam, bạn đọc thể tất cho!), để nói điều chính: Phần lớn các thông tin, nhận xét tin cậy về sách báo đáng đọc mà tôi thu hoạch thời bé là từ gia đình và bạn hữu của người thân.

(5) Bạn có thường trao đổi về những tác phẩm, hay những nhân vật mà bạn yêu thích với bạn bè? Ở lứa tuổi nào bạn bắt đầu có những trao đổi về sách báo, văn chương?

Như không ít người khác, đó là cái thú của tôi khi đọc sách. Không chia sẻ, không chịu được. (Hình như đó là thói quen để khi lớn lên tôi ham thích viết bài, làm báo?)

Với số lượng độc giả gia đình như nhà tôi thì đó là diễn đàn đầu tiên để tôi hưởng cái thú này. Thế nhưng trong nhà không có sinh hoạt dân chủ, thường là “trên bảo dưới nghe” nên chẳng có chuyện trao đổi thực sự và thoải mái với cha và anh chị. Trừ mẹ vốn vị tha, tha hồ cho các con nêu ý kiến ý ruồi (“miễn sao chúng mày ăn no, ngủ kỹ, học giỏi.”) Nhiều điều thấy cha, anh sai tôi đều phải nén lại, ghi nhớ để xả ra khi gặp bạn bè. Cũng may, còn có 2 thằng em chỉ thua 2-5 tuổi, mà dạo đó tụi tôi “cá mè một lứa” trong chuyện sách báo. Đó quả là diễn đàn đầu tiên của tôi. Sau các chia sẻ trong nhà, tôi tìm bạn bè để ba hoa, bàn loạn… Có lẽ từ tuổi 12-13, khi được cha mẹ giao phó trông nom 2 em ở các nơi sơ tán bom Mỹ; tức là có thể tự giao du chúng bạn, có quyền trao đổi sách báo…

(6) Những tác phẩm, nhà văn, hay những nhân vật ấn tượng này có làm bạn muốn trở thành một người viết? Tại sao (có hay không)?

Tất nhiên có rồi! Khi cả lũ anh chị em nhà tôi viết báo (dù phần lớn chỉ là tin tức “ninh tinh vớ vỉn”) chắc là ai cũng muốn làm tác giả, không phải về sau mà ngay lúc đó. Nhà tôi có lệ khi ăn cơm, bố tôi hay lôi ra ông nhà văn hay cuốn sách nổi danh nào đó. Sau này thấy có ích, chứ những khi đó chỉ là các ông kẹ tra tấn lũ chúng tôi. Riêng tôi biết mình thành “tác giả thực sự” sau bài thơ đầu đời (thơ người lớn), khi đang học năm cuối trung học/lớp 10.

Hằng ngày 7 anh chị em chúng tôi phải viết nhật ký, mà thuận tay nhất là dí những gì hay ho đọc được trong ngày vào. Thân phụ tôi còn ấp mộng “khủng” về đám con cái; từng giăng lên thành khẩu hiệu kẻ chữ màu to đẹp dán ngay trước mỗi bàn học của 3 đứa nhỏ chúng tôi. (Tôi đâu dám cité khẩu hiệu đó ra đây: ngu gì cho thiên hạ biết, tối đến người không chỉ kéo cẳng mà còn bạt tai chí chết!)

(7) Bạn có bao giờ đọc lại những tác phẩm ngày còn bé hay mới lớn? Cảm giác sau (những) lần đọc lại ra sao?

Kể từ đây để sớm có bài, trừ đoạn chót với câu hỏi (9), tôi sẽ chỉ nêu lý lẽ chung chung mà không minh họa tác phẩm, tác giả cụ thể.

Các câu hỏi (7) – (10) chính là trọng tâm của đề tài. Ở đó cái “câu hỏi tiên đề” phải trả lời thì dường như lâu nay người ta ngại hoặc quên một lời đáp riết róng: Văn chương thiếu nhi/thiếu niên là gì, về mặt loại hình văn học? Tôi hiểu chứ. Rằng không dễ có một định nghĩa nhất quán cho nó (như trong rất nhiều nan đề của văn học. Ví dụ dễ nhận ra nhất là cái câu hỏi tưởng dễ nhưng lại khó nhất: Thơ là gì?

Không ít người sẽ không tán đồng với ý kiến tôi sắp nêu dưới đây. Xin tạm nói qua về ý tưởng chính mà đáng ra phải một tiểu luận đầy đặn.

Về loại hình, văn học thiếu nhi/thiếu niên không là một dạng “văn học chuẩn”, không là văn học thực sự. Trên hầu hết các tiêu chuẩn cơ bản như thể loại, thi pháp, văn phong, ngôn ngữ, đề tài, hình tượng… và nhất là nội dung, thì văn chương thiếu nhi/thiếu niên là một thứ loại văn-chương-phục-vụ. Phục vụ bạn đọc lứa tuổi vị thành niên. Tức là nó được nhân nhượng, được thể tất ở không ít tiêu chuẩn của một loại hình văn học “chuẩn”, văn học bình thường, văn học đích thực – văn học như nó cần phải là.

Văn học tôn giáo cũng vậy; không là một dạng “văn học chuẩn”, không là văn học thông thường, không là văn học thực sự…

Sẽ không quá lời khi cho rằng, về mặt tư tưởng văn chương thiếu nhi/thiếu niên, văn chương tôn giáo và một vài dạng khác tương tự là các hình thái văn-học-phục-vụ-chính trị, nếu hiểu chính trị theo nghĩa là một hình thức của tư tưởng có định hướng, mục đích, lý tưởng. Nghệ thuật thể hiện các văn chương như thế thường nằm trong một khuôn viên riêng. Nói bạo miệng là nó phải “đóng kịch”. Nó không đời thường. Nó – nhân danh sự nhân bản vốn dĩ hoàn toàn chính đáng và bất khả kháng – được phép nương nhẹ các mâu thuẫn, xung đột tất nhiên của xã hội con người. Được phép nhân nhượng quy luật của tạo hóa. Phải có “đạo”, nó dễ bề “sến” ở nội dung. Được phép đơn điệu, nó có thể nhàm về nghệ thuật. Ngay ở các sáng tác thành công, ngoại trừ những kiệt tác.

Quay lại câu hỏi (7): Với các tác phẩm nằm lòng hồi bé hay mới lớn, tôi hiếm khi đọc lại nếu chỉ để thưởng thức, giải trí. Có nhiều lý do khiến tôi cũng mông lung, không biết phải quấy… Sợ sẽ mất ấn tượng đẹp mà đã mất kiếp sau chưa chắc tìm lại được; ngay cả ấn tượng đó là sai, hiểu không đúng tác phẩm. (Bởi nghệ thuật chỉ có hay dở, không có đúng sai.) Sợ đọc lại chúng ở tuổi không thích hợp thì sẽ không công bằng. Sao có thể thò con mắt tinh đời, già dơ từ người lớn vào những trang văn trong ngần, lời thơ trinh tiết tuổi trẻ được nhỉ? Và vài cái sợ khác… Sợ nhất là mình thiếu vị tha, bao dung trước các sáng tác “cận văn học”, không là văn học đích thực. Dường như chẳng được lần nào đọc lại tác phẩm tuổi thơ cho ra hồn, đấy là điều không may mắn cho tôi?

(8) Tại sao bạn vẫn nghĩ về các tác phẩm/nhà văn này? Hoặc, tại sao bạn không còn nghĩ về họ như vậy?

Như hầu hết bạn đọc khác, tôi suy nghĩ nhiều về các tác giả, tác phẩm ấy. Là kỷ niệm. Là quá khứ. Là niềm tin. Là vốn sống. Là sức mạnh… Hơn cả, là một phần đáng kể của tuổi thơ – nơi hình thành và phát triển đến 90% (đại khái thế, theo thuyết Freud) nhân cách, cá tính con người. Như những kẻ coi viết văn làm thơ là sự “hành đạo” – đạo văn học – tôi rất cần kỷ niệm và quá khứ, niềm tin và vốn sống… Nhấn mạnh: bất kể nội dung đúng sai, miễn là các ấn tượng lớn. Bởi ấn tượng là mảnh đất cho hình tượng mọc thành cây cối. Mà có hình tượng là sẽ có bông hoa sáng tác.

Cũng rất nhiều (nếu không nói là đa số) tác giả, tác phẩm tôi không còn nghĩ tưởng tới. Phần nhiều do quên. (Muốn ghen tị với tam vị họ Trần kể trên!) Vài trường hợp lại do không ưa thích, thường bởi các lý do ngoài nghệ thuật. Khi vì lý do chính trị, lúc ở cá tính, vân vân và mây mây… Và nhiều case còn bị tôi đổ oan với lý do đó chỉ là văn-chương-phục-vụ. Đây là điều chán nhất, mà nay tôi có dịp tự thú trước bình minh, ý lộn… trước Da Màu. Nhớ này, “Khi văn chương Mở-đường, Đi-tới, thì mình cần/nhớ, tha thiết đi theo. […] Đến với văn chương, không có nghĩa đi viếng mộ.” (Cung Tích Biền)

(9) Theo bạn thì một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên, nếu thành công, phải hội đủ những yếu tố nào? Tại sao?

Đấy, Da Màu dư biết văn chương thiếu nhi/thiếu niên đâu phải là “văn học chuẩn”, văn học thực sự. Là văn-chương-phục-vụ, loại hình văn học này bị điều kiện hóa. Tức phải “hội đủ những yếu tố nào” đó, phải không ạ?

Dễ như ăn cơm sườn để thấy nhận ra các yếu tố đó mà từ 10 chư vị trước đã rả rích nêu, kể như gần đầy đủ. Dưới đây tôi sẽ thu vén, gọi tên sao cho gọn ghẽ.

Rõ nhất, từ chính chủ BBT Da Màu từng vạch ra khi gióng chuông hội thảo: “Đây là mảng văn chương thường ít được chú trọng tuy vô cùng quan trọng trong việc phát triển nhân cách, kiến thức, và năng khiếu cá nhân.”

Chức năng giáo dục/đạo lý phải là số 1. Hổng có cái nầy dù ẩn dù hiện, kể như chỉ là thứ văn chương đồ bỏ, không bị nhận tráp tòa là hên. Các việc “rèn luyện nhân cách và lý tưởng, hướng dẫn về kiến thức lẫn tình cảm và giao tiếp, giúp các em có sự cảm thông với mọi người thuộc những nền văn hoá và xã hội đa dạng, để trở thành những công dân tốt trong xã hội và toàn cầu” (BBT DM) cũng từ đó mà ra. Thế nào là giáo dục/đạo lý? Đấy cũng là dạng câu hỏi tiên đề. Mỗi dân tộc – văn hóa, từng thể chế – xã hội có quan niệm khác nhau nhắm đến lợi ích tồn vong của mình. Vì thế trong chức năng giáo dục/đạo lý có không ít điểm khác hẳn nhau, song khá nhiều điềm chính tương đồng: yêu đất nước, yêu gia đình, đồng loại, yêu thiên nhiên, thú vật; ham thích học hành; hữu ích cho xã hội; thật thà, cao thượng…

Số 2 là chức năng giải trí. Trẻ thơ sau khi đã là con ngoan trò giỏi rồi thì hãy thả chúng được vui vầy. Sách báo là nơi chốn giải trí thánh thiện nhất, đã ít tốn kém nhất lại an toàn nhất.

Số 3 là nửa tá các chức năng phụ: bồi dưỡng cái đẹp và tính sáng tạo, óc tưởng tượng; tăng sự trong sáng, lành mạnh và vui tươi; v.v… nhằm “giúp các em biết thưởng thức và phát triển cảm quan tinh tế về nghệ thuật, cá tính riêng, óc suy luận, sự tò mò về tri thức, và khả năng sử dụng ngôn ngữ cũng như phân tích những vấn đề phức tạp.” (BBT DM)

Muốn vậy tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên phải bằng ngôn ngữ lôi cuốn mà giản dị; văn phong đã sâu sắc lại dễ hiểu; đề tài vừa rộng lớn vừa gần gụi…

Tóm, tiêu chuẩn hàng đầu ở một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên là kết hợp hài hòa giữa giáo dục và nghệ thuật.

Văn chương thiếu nhi/thiếu niên cần phải như nước thánh, cơm vua. Đó không phải là tạng văn chương bình thường. Nó bị điều kiện hóa gắt gao, nếu không dễ dàng bị “phạm húy”. “Có người ví trẻ em như giếng nước trong. Không thể thả vào đó rắn rết, thuồng luồng được.” (Cao Thanh Phương Nghi). Và, “quan trọng hơn hết là tinh thần trách nhiệm của người viết“; “nhà văn cần hết sức thận trọng khi đặt bút xuống viết.” (Trần C. Trí). Còn nữa, “nhất thiết không áp đặt cái nhìn, cách suy nghĩ của người lớn vào tác phẩm dành cho các em.” (Nguyễn Lệ Uyên). Hiện đại là ở chỗ “cho các em sự chọn lựa giữa đúng và sai, tốt và xấu.” (Phạm Hạ Mỵ Châu). Vụ tai tiếng ở Việt Nam trong tháng này về sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 mới chỉ là ví dụ bé tí.

Văn học cho mọi lứa tuổi, nhất là văn học người lớn nói chung, cũng mang vác ngót nửa tá chức năng khá cồng kềnh, kỳ khu… Song chúng không là các điều kiện cần. Vô khối văn thi sĩ nào có lưu tâm chức năng, nhiệm vụ lằng nhằng cứng nhắc của văn học, thế mà vẫn đẻ ra bao tác phẩm đĩnh ngộ, xuất sắc đó thôi. Liệu điều đó là không thể với những tác giả muốn hướng chữ nghĩa tới giới bạn đọc nhí?

Ở đây, chúng ta chưa bàn đến tiêu chuẩn phẩm cách, nhân thân (thường về đạo đức) của một tác giả viết cho thiếu nhi/thiếu niên, vốn là một chủ đề hao tốn kha khá phản biện. Bởi nó cũng là yếu tố không hề nhỏ trong sự thành bại ảnh hưởng ở một tác phẩm dành riêng lứa tuổi thơ bé.

Cuối cùng, điều mọi người đều rõ; mà ít ai nói rõ ra. Ở đây tôi xin nói nhanh… Các tác giả chỉ viết cho thiếu nhi/thiếu niên thường rất khó nổi tiếng. Do tự bản chất của dòng văn chương này là khó viết hay, xuất sắc. Do giới phê bình và dư luận độc giả (các đấng bậc phụ huynh học sinh!) ít quan tâm tới chất lượng nghệ thuật của tác phẩm ngoài các quảng bá về nội dung giáo dục, giải trí. Và còn nữa các lý do …

Chúng ta thử điểm danh 4 tác giả nổi tiếng có tác phẩm thiếu nhi/thiếu niên nổi tiếng: Trong Nam là Duyên Anh, Nhật Tiến. Ngoài Bắc: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng. Bốn VIP ấy nổi danh vì viết cho con nít hay vì viết cho người nhớn? Câu đáp đã rõ với cả 4 vị. Và trên thực tế, cả 4 vị xét về mọi mặt (mục đích sáng tác, phong cách, ngôn ngữ, vốn sống, thành tựu…) đều là nhà văn của/về người lớn. Cá nhân tôi may mắn có tình thân thiết hơn 40 năm nay với văn hữu Phạm Đình Ân. Định vị nghề viết vẫn như 4 VIP trên, dù anh cũng là một nhà thơ, nhà văn Việt Nam có tên tuổi của tuổi học trò.

Còn các cây bút chuyên trị cho tuổi thơ/tuổi trẻ? Riêng tôi thấy trong 60-70 năm qua, văn học hiện đại/đương đại Việt Nam không có tới một tá vị nổi danh. Nếu tính ở ngoài Bắc thời 1954 – 1975 và toàn Việt Nam sau 1975 phải kể đến Phạm Hổ (thơ), Trần Hoài Dương (văn) – nhị vị đều đã qua đời – và đệ nhất tác giả truyện tuổi học trò Nguyễn Nhật Ánh vài thập niên nay nức danh như hiện tượng hy hữu của dòng văn học thiếu nhi/thiếu niên đương đại VN ở độ sung mãn và thành tựu (cả về chữ nghĩa lẫn… hầu bao). Dẫu là một tác giả rất tài ba lại uyên thâm, lịch thiệp, do thuộc vào giới lãnh đạo làng văn nghệ Phạm Hổ nổi tiếng chủ yếu nhờ các lý do ngoài tác phẩm. Từ thời kháng Pháp đã có những sáng tác đặc sắc không phải cho thiếu nhi, nếu như viết nhiều hơn nữa hẳn ông sẽ có cống hiến xứng đáng với tầm của mình cho văn đàn. Trường hợp Trần Hoài Dương còn rõ hơn… Chỉ sau khi nhà văn qua đời văn giới mới giật mình về tài năng và phẩm chất văn học qua các tác phẩm cho tuổi thơ ấu/tuổi học đường của ông.

Đã gần giải tỏa xong cái ấm ức trong tôi, rằng văn chương thiếu nhi/thiếu niên không phải là “văn học chuẩn”, rằng chỉ là văn học phục vụ; và vì thế hạn chế tiềm năng và tầm vóc của tác giả. Chừng 40 năm qua tự mắc vào vụ này, và chưa thấy diễn đàn hay tác giả nào lý giải thực hư.

Dù trí nhớ hạng bét, tôi luôn nhớ khung cảnh và tâm trạng trong chiều cuối tuần đó cùng người bạn khá thân là NH – một họa sĩ có tài, hiểu nhiều biết rộng – đến thăm một họa sĩ tương đối có tiếng, một bậc cha chú không chỉ về tuổi tác, nghề nghiệp mà về cả danh phận. Dạo đó NH như là nguồn chính cho tôi về kiến thức hội họa cùng các chuyện bên lề làng nghệ sĩ Hà Thành… Chỉ là bạn đi theo của khách, nên khi chủ khách chuyện trò tôi tha hồ thả mắt mở tim (và cả óc) ngó nghiêng các tranh, tượng của chủ nhà bày nơi phòng khách. Không nói trước, bạn tôi đánh mắt tình ý, ngầm bảo: Cứ xem kỹ, lát về sẽ “bàn loạn”. Bài học NH với tôi buổi đó là gì? Đó là, dù có phông văn hóa rộng, có gu thẩm mỹ tốt, có tác phẩm được ghi nhận, lại được học hành bài bản (tu nghiệp dài năm ở châu Âu), có chức vị trong ngành đại học mỹ thuật của đất nước – túm lại đủ từ A đến Y! Nhưng, vấn đề là cái Z! “Ai đời cụ lại theo học chuyên ngành tượng đồ chơi thiếu nhi, dù ở trường lớn của Tây! Rồi ông xem, cụ không thể nào “lớn lên” nổi!” Hai chúng tôi thong thả đạp xe về nhà, với điệp ngữ “Rồi ông xem!” NH vỗ vai bạn mình đen đét 2-3 bận khiến bạn suýt ngã. Chàng họa sĩ trẻ bạn tôi còn dành cho “thế hệ tương lai dân tộc” các từ không hay ho gì. “Mỹ học nhi đồng thối tai“!? Lúc đó tôi thấy chàng cực đoan. Càng về sau, lại thấy ở đời vẫn tồn tại không ít cái cực đoan có lý.

(10) Một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên có nên bảo vệ tinh thần trẻ em/thiếu niên, tránh những đề tài có thể làm các em bị sốc, tránh đoạn kết bi thảm, hay không? Đề tài, đoạn kết nào nên được tránh? Tại sao (nên/không nên tránh)?

Nếu cho rằng văn học thiếu nhi/thiếu niên không là một loại văn học thực sự, mà là một cái gì tựa-văn-học thì không ít tiêu chí của văn chương thuần túy phải nhượng bộ. Các điều kiện ở câu hỏi trên chỉ là vài điểm dễ nhận ra, rõ nhất về vấn đề đoạn kết (lại là kết cho độc giả phương Đông cần cái gọi là có hậu).

Tuy thế, tôi vẫn nghiêng gần như các ý kiến của Trần C. Trí, “không nhất thiết phải tránh né bất cứ đề tài, nhập đề, thân bài hay đoạn kết nào cả”; và của Phạm Hạ Mỵ Châu, “Nhà văn cứ thuận theo tự nhiên. Có những kết thúc cần có hậu, nhưng không phải kết thúc nào cũng có thể có hậu.Nói khái quát, không cần độc đoán tới mức vạch ra một danh sách cụ tỷ các cấm kỵ về mặt thi pháp.

Thế nhưng “với người cầm bút, hãy còn nhiều giới hạn, phải cần thiết cẩn trọng”. (Cung Tích Biền). Trong lao động nhà văn có yếu tố đạo đức nghề nghiệp, ở đó có thể bất thành văn, có thể thấy cụ thể trong xã hội, rằng điều gì cần tránh và điều gì không cần tránh nếu độc giả là các thành phần thiểu số (phụ nữ, trẻ em, người tu hành, v.v…) Riêng văn chương thiếu nhi/thiếu niên lại là một lãnh vực khác hẳn; như một thế giới riêng, chia đôi nó với các phần còn lại của văn chương.

Phải chăng đấy cũng là lý do đáng kể, khiến rất khó đạt thành tựu – ngay cả với các thiên tài văn chương – một khi đã mở lòng dấn bút viết văn làm thơ cho các em các cháu?

Vancouver, 10 – 26/10/2020

Đỗ Quyên

bài đã đăng của Đỗ Quyên


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)