Cám ơn Ban tố chức (qua nhà thơ Đỗ Lê Anh Đào và ký giả Lê Đình Y Sa) cho tôi được góp lời từ xa trong diễn đàn này – một cuộc Hội thảo mang ý nghĩa đáng có của nó, có lẽ như lần đầu tiên?
Tôi cũng cám ơn nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đã giơ vai gồng gánh cái “giốp” đa đoan “cầm trịch” cuộc chơi – với bài Đề dẫn – như các bài xưa nay của anh – khoa học, chi tiết về cấu trúc, dóng diết, gần gũi về chất thảo luận và văn chương, cuốn hút trong lối viết.
I) Về Mục đích của buổi Hội thảo, tôi tin rằng mỗi người tham dự đều hiểu. Đồng ý với cái đích như thế, nhưng tôi vẫn muốn kể lại rằng, hôm qua 26/01, trong ngực đã thủ bài tham luận, trên đường bay tới Hội thảo, vừa khỏi không phận thành phố Melbourne, tôi bỗng gặp một người trông quen quen là lạ, dáng không có vẻ dân văn nghệ sĩ như mỗi chúng ta ở đây.
– Quốc khánh Úc quốc mà đi đâu với bản mặt khó đăm đăm vậy? Lỡ một cuộc nhậu? Hay hụt trúng vé số?
– A, chào… Ông là… Tôi vội tới chỗ này… – Tôi tính lánh người nửa quen nửa lạ đó đi cho lẹ. Nhưng, máu văn sĩ trồi lên. Phải giải thích cho cộng đồng, cho bà con biết! – Chuyện là thế này… Mượn ké “phòng mạch” Việt Báo, các “phòng mạch” Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ VAALA, Thế Kỷ 21, Văn Học, Văn, Hợp Lưu, damau.org, nhờ ông “bác sĩ” Quốc làm một cuộc đánh giá “mắt phải” của nền Văn học Hải Ngoại. À, thì ý là về thành công, tiềm năng ấy; những điểm hay điều tốt. Nhớ dùm: Đây chỉ là đợt thử mắt bên phải mà thôi; vì gần đây không hiểu sao tất cả các “phòng mạch” cứ nhè mắt trái của dòng văn học này ra mà check, mà chê…
Thưa Hội thảo, tôi đang loay hoay rút tập giấy này ra và nói thêm với người đó rằng, Hội thảo hôm nay của chúng ta không tổng kiểm kê tòan bộ “thị lực” của Văn học Việt Nam Hải ngoại. Lời đó chưa nói dứt, thì người kia bỗng vụt bay mất tiêu. Tôi ngờ, đó chính là một tiền bối nào đó của Văn học Hải ngoại đã về sống cõi cao xanh, nay hiện về trần gian giả dạng bình dân để thử hậu sinh. Qua nhân dáng, qua cách hỏi tôi đoán đó nếu chẳng Mai Thảo thì dám Nguyễn Tất Nhiên lắm; Thanh Tâm Tuyền ắt không phải rồi!
II) Về Phương pháp luận của Hội thảo, của Đề dẫn:
II-1. Trong Đề dẫn có câu: “Nói đến thành tựu của văn học hải ngoại thực chất là đặt văn học hải ngoại trong tương quan so sánh với văn học trong nước. (So sánh ở đây chỉ là một biện pháp đánh giá chứ không phải là kỳ thị hay phân biệt.)”
Không biết Hội thảo và anh Nguyễn Hưng Quốc có làm như vậy trong buổi hôm nay không? Nếu thế, thì không nên! Tôi nghĩ khác với câu trích trên.
+ Trong vụ phê bình, nhận định, lý luận, tôi không phải là “bác sĩ”, thậm chí “ông lang” cũng không, Tôi là một người viết. Là những tác giả, trong nghĩa nào đó chúng tôi cũng chỉ là những cái “ống nghe”, “địa tâm đồ” cho các thày thuốc mà thôi! Nhưng “cái ống nghe” tôi hôm nay được Ban tổ chức nống lên thành “thày thuốc”! Chắc là vì trong tình trạng Văn học Hải ngoại khan hiếm phê bình gia, thì “nếu giới sáng tác không tự nói về mình, sẽ không có ai nói về họ cả.” (Trích Đề dẫn)
Nói chung, có 4 phương pháp trong quá trình đánh giá / tự đánh giá một vấn đề.
+ Phương pháp 1: Không dùng phương pháp so sánh, hoặc có thể gọi là so sánh với chính nó. Muốn nói thành công, cái hay của Văn học Hải ngoại thì phải so sánh với các điều kiện tồn tại của chính nó.
+ (“Em” Văn học Hải ngoại của cộng đồng chúng ta cao bao nhiêu, ba vòng eo ếch ra sao; trình độ ứng đáp của em; v.v… Và nhất là tiêu chuẩn chung của “hoa hậu” văn chương quốc tế là gì?)
+ Phương pháp 2: So sánh với các đối tượng tương đương về hình thức tượng trưng trong tính lâu dài của nó. Nói chung, với mọi sắc dân, Văn học Hải ngoại trước hết và – nên là sau hết – có 2 đặc trưng mà thôi: tính văn học và tính hải ngoại (di dân, lưu vong, tỵ nạn, v..v…).
+ Hình như chưa có công trình dài hơi nào so sánh theo phương pháp này giữa Văn học Hải ngoại Việt với Văn học Hải ngoại Ấn, Trung Hoa…
Trong cách tiếp cận này, chữ Hải ngoại mang nghĩa rộng đối trọng với Chính quốc. Đối trọng chứ không hẳn là đối lập.
+ Phương pháp 3: So sánh đối tượng tương đương về thực chất hiện tại của nền văn học. Ở diễn đàn hôm nay, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đề nghị dùng lối tiếp cận này khi nhìn nhận thành quả của Văn học Việt Hải ngoại: “(…) thực chất là đặt văn học hải ngoại trong tương quan so sánh với văn học trong nước.”
+ Bản chất của một nền văn học ở ngoài lãnh địa quốc gia rõ ràng thay đổi theo thời gian, tức là qua mỗi thế hệ. Với Văn học Việt Hải ngoại, đúng là từ 1975 cho tới buổi hôm nay 2007, vấn đề Hải ngoại – Chính quốc đã và đang không hề chỉ là về mặt địa lý. Nói “thẳng tưng” ra, nó là chính trị.
Như rất nhiều nhận định, tổng kết của giới phê bình chuyên nghiệp và không chuyên, có thể nói bao quát: Dòng Việt Nam Cộng Hòa tiếp nối sau 1975 vẫn đang là dòng chính (dòng “chính quốc” của “quốc gia” Việt Nam hải ngoại), với các dòng phụ khác như dòng Hợp lưu (không phân biệt Bắc-Nam, Quốc-Cộng, Trong-Ngoài); dòng Lưu vong (tâm trạng, ngôn ngữ); dòng Di dân (địa lý, văn hóa); dòng các Thế hệ sau Thế hệ 1; v.v… Tương quan đối kháng Ta-Địch đã và đang còn làm nên “máu” của dòng chính nói trên.
+ Phương pháp 4: Tổng hợp 3 phương pháp trên.
II-2: Bình bàn về Phương pháp 3:
Thưa Hội thảo, Phương pháp 3, theo tôi, chỉ dùng đến những năm đầu 1990, cùng lắm 1995-96 là còn hợp tình. Hợp lý thì chắc là không rồi. Vì sao?
Một là vì, cách này đòi hỏi sự khách quan rất cao. Mà vấn đề thời thế, chính trị Việt Nam rất rắm rối. Quan trọng: Tính không khách quan thuộc vào xương thịt của người Việt bao đời rồi! So sánh bộ mặt văn học giữa hai “kẻ thù”, chưa nói về thẩm mỹ, tư tưởng, nhận thức, mà chỉ về kỹ thuật, chi tiết văn học – thế nào không ông thì bà cũng ưỡn cái “bộ ngực chính trị” của mình ra.
+ Kẻ hèn nhỏ đây cũng liều chịu cõng vòng quanh Văn Miếu ba vòng cho ai – người Việt Nam đương đại, Trong cũng như Ngoài – làm được theo Phương pháp 3 mà khách quan và chính xác khi so sánh Văn học Việt Hải ngoại và Trong nước!
Hai là vì, tự hình thể căn bản của từng đối tượng, việc so sánh Hải ngoại và Chính quốc khó như so sánh giữa… Đàn bà và Đàn ông!
+ Trong vấn đề Nữ quyền, rõ ràng là biên giới giữa “biện pháp” với các hệ quả (“đánh giá”, “kỳ thị”, “phân biệt”) vô cùng mong manh. Hoa hồng có thể vụt biến thành cái roi!
Ba là vì, “phương trình văn học” của hai khu vực đó có quá nhiều hằng số khác nhau: Số 1 là vấn đề tự do sáng tác, tự do ngôn luận; rồi độ chênh về ngôn ngữ, tiếng nói. Các thay đổi xã hội (tập quán, thói quen). Và còn nhiều nữa, khiến hầu hết các chuyện đối thoại, so sánh Hải ngoại-Trong nước không cùng một “hệ quy chiếu”.
+ Cuộc tranh luận giữa hai nhà văn Nguyễn Đình Chính và Nhật Tiến mới rồi trên Talawas phải nói là đẹp về tình văn hữu; mà chưa hữu dụng lắm về mục đích. Nó cần thiết. Hiếm có. Và, nó vẫn đang là cuộc nói chuyện của hai “ngôn ngữ đẹp” mà thôi.
+ Kinh nghiệm làm Diễn đàn Trí thức Việt Nam của chúng tôi 5-6 năm trước cho thấy, nếu bài của một diễn đàn viên Trong mà chỉ cần có vài từ “nhậy cảm” lập tức có diễn đàn viên Ngoài nhảy đông đổng ngay.Và ngược lại! (tất nhiên!) Nếu người điều phối cuộc chơi nhìn ra điểm đó, trao đổi với tác giả để làm phẳng nhậy cảm” đi, thì té ra là 8/10 các vụ không phải là vấn đề, mà chỉ là hoặc là từ ngữ, hoặc là một trong hai bên mượn cớ “đánh” Trong, “chơi lại” Ngoài.
+ Tôi có vài “mẹo” đọc Trong-Ngoài. Ví dụ: Một trích dẫn, một sự kiện, một vấn đề của Văn học Hải ngoại có thể khiến ta hiểu được 80-90% của thực chất chỉ nội bằng câu chữ, tình tiết của nó, thì với Trong nước ta chỉ nên tham vọng hiểu 60-70% qua “mặt chữ”. Còn 40-30 % kia phải tự tìm hiểu ngoài văn bản.
+ Chừng 6-7 năm trước ở Canada, trong một bữa party bè bạn thân sơ đủ loại. Vào bàn, một anh – là người “biết tuốt” – vui vẻ giới thiệu mọi người. Đến lượt tôi, là “Anh Đỗ Quyên đi từ miền Bắc đấy…” Không gian chỉ ngưng lại một thoáng, rồi chắc ai ai cũng đã cho qua rồi, ngóng tai giương mắt chờ lời giới thiệu người kế. Nhưng anh “biết tuốt” lại dùng phép “so sánh” cơ, khi vẫn vui vẻ nói tiếp: “… Nhưng mà anh ấy là nhà thơ”. Cả bàn tiệc vụt rơi vào một khoảng chân không: Ai nấy tự hỏi tương quan logic của hai mệnh đề đó là gì? Tôi thấy cần trả lại không khí cho bàn tiệc – nơi có nhiều rượu ngon, nhiều người đẹp như thế không nên có chân không như vậy. Và tôi cũng vui vẻ – thiệt tình là vui vẻ – tiếp lời: “Vậy thì tôi xin kể một cách nói giữa bạn bè ở Liên Xô cũ: “Ai cơ? Ivan Ivannovich à? Tay đó là đảng viên đấy, nhưng mà hắn tốt!”
Bốn là vì, từ khoảng 10 năm nay, dòng Di dân và dòng các Thế hệ sau Thế hệ 1 đã sinh xương nảy thịt trên cơ thể Văn học Việt Hải ngoại. “Máu” của dòng chính Việt Nam Cộng Hòa nối tiếp và dòng Lưu vong không còn “nuôi” các xương thịt này, như trước đó. Một ví dụ: Trang web damau.org – với “máu Di dân và Thế hệ sau” – mới ra đời khoảng nửa năm nay, nhưng các tác giả của nó hầu hết đã là tác giả từ trước, mà đa số là từ 10 năm qua.
III) Một số điểm cụ thể ở Nội dung của Hội thảo qua Đề dẫn và các gợi ý Thảo luận.
1- Về Thể loại: Tôi đồng ý với khá nhiều nhận định trước đây cho rằng, thơ, dịch thơ là thành tựu lớn nhất của Văn học Việt Hải ngoại, kể từ 1975 đến nay.
2- Về Tác giả: Qua tìm hiểu của tôi, trong 3-5 năm qua, đã xuất hiện nhiều tác giả làm thay đổi diện mạo Văn học Việt Hải ngoại theo hướng đẹp lên và khác hơn. Phê bình: Đinh Từ Bích Thuý, Đoàn Cầm Thi; Thơ: Lê Đình Nhất Lang, Đỗ Lê Anh Đào. Truyện: Thuận.
3- Về Báo chí: 3-5 năm trở lại đây
+ Báo mặt đất (In): Tạp Chí Thơ vẫn là một tờ báo văn học có “máu thịt” là văn chương, vì văn chương, của văn chương.
+ Báo trên trời (Website):
Talawas (phần Văn học) dành cho số đông, tính tri thức và tính văn học sánh vai.
Tiền Vệ như là cho người viết, cho giới làng văn mà thôi.
Hai trang web này máu thịt của nó không hẳn là văn chương, ngay cả ở Tiền Vệ nơi có những tác phẩm rất “sâu”, rất “dữ” về thẩm mỹ, thi pháp, cách viết. Chất thời cuộc, chính trị của nó thăng giáng, mềm mại như… phụ nữ; không thẳng tưng đàn ông như Hợp Lưu trước đây.
Damau.org thể hiện tính văn học di dân/lưu vong rõ rệt: ở cả tính văn học lẫn tính di dân/lưu vong.
4- Về một thành tựu anh Nguyễn Hưng Quốc đề nghị Hội thảo bàn tới: “Phương diện kỹ thuật, thi pháp, phong cách và/hay nhận thức thẩm mỹ, văn học hải ngoại có đặc điểm hay thành tựu gì đáng kể?”
Xin phép anh Quốc cho tôi xếp lại theo trình tựu ưu tiên như sau: “em” Thơ Tân Hình Thức”; chị “Chủ nghĩa hậu hiện đại”; mụ phù thủy “Hiện thực thần kỳ”; bà nạ dòng “Tư tưởng nữ quyền”; bà già gân “Mỹ học của cái tục/của thân xác “
Với chút chút mầy mò về theo lối Hậu hiện đại, Hiện thực thần kỳ và Tân Hình Thức khi sáng tác, tôi rất thích bàn luận cái “mắt phải” này và cho rằng đây là gợi ý hấp dẫn, có tính khai phá của Đề dẫn.
5- “Từ những ký ức văn hoá khác nhau do những nơi xuất phát khác nhau đến những ảnh hưởng khác nhau từ những nền văn hoá và quốc gia định cư khác nhau, văn học hải ngoại cứ càng ngày càng phân hoá: một lúc nào đó sẽ có không phải một mà là NHIỀU nền văn học Việt Nam hải ngoại khác nhau.” (Trích Đề dẫn)
Mắt tôi thấy làm gì có vụ đó! Trên trái đất, “làng Việt Hải ngoại” vốn nó bé xiu như đáy tộ kho cá, và nó cô đọng lắm.
+ Người An Nam ta đi đâu cũng mò đến nhau nên hotel, motel thiên hạ “teo” hết với nếu chỉ có chúng ta làm du khách!
Rồi chính báo chí và văn học đã làm cái cầu khỉ để người Việt hải ngoại vượt qua các “con sông” của thế giới tìm về nhau.
+ Đọc Tiền Vệ nào ai thấy các “quốc gia định cư khác nhau” hiện ra trên văn thơ, nếu bỏ đi tên địa danh tác giả buộc phải nêu trong tác phẩm hoặc nơi tác giả cư ngụ phất phơ nơi đáy bài viết.
+”Ký ức văn hoá khác nhau do những nơi xuất phát khác nhau” cũng là chuyện nhỏ! Ông bạn nhà thơ Nguyễn Đức Tùng dân Quảng Trị, tôi Hà Nội mà như chúng tôi chả thấy các “ký ức Quảng trị”, “ký ức Hà Nội” “phân hóa” chúng tôi. Ngược lại là khác! Những cái phân hóa lớn nhất của Hải ngoại là gì thì ai cũng biết rồi!
IV) Sáu chữ tâm đắc của tôi nhân Hội thảo và nhân Đề dẫn của anh Nguyễn Hưng Quốc:
1- Hai chữ “Tâm Văn”:
Văn học Hải ngoại hình thành nên một Tâm Thế Văn Chương rất đa dạng ở các tác giả. Tâm Thế Văn Chương là gì? Nó cũng được nhắc đến lâu nay, nhưng có lẽ chưa ai chỉ mặt đặt tên, khái quát nó một kết quả của Văn học Hải ngoại.
Tôi xin tạm gọi mối tương quan của nhà văn với đất nước, với thời thế xuyên qua tâm tư, hoàn cảnh riêng của cá nhân mình (thường được gọi là “cuộc đổi đời” sau khi ra Hải ngoại) là Tâm Thế Văn Chương. Và rút gọn lại một lần nữa: Tâm Văn.
Có thể chữ Tâm Văn này nghe chưa ổn, về cấu tạo từ vựng. Song, xin Hội thảo cứ tạm cho qua. Ăn nhau là ở cái nội dung.
Nếu như dùng Phương pháp 3 để so sánh với các tác giả Trong nước thì ta thấy, tâm văn của các đồng nghiệp đó – trừ một số rất ít – không nổi trội lên qua tác phẩm của mình.
Phải thưa ngay cùng diễn đàn rằng, hai chữ Tâm Văn tôi có được là để viếng tặng một người thầy giáo dạy văn mà tôi may mắn được học ở lớp cuối trung học, trường Nguyễn Trãi, Hà Nội: thầy Văn Tâm. Những ai làm phê bình văn học, hoặc quan tâm đến sinh hoạt của văn giới Hà Thành, ít nhiều đều biết nhà phê bình, nhà giáo Văn Tâm, tên thật Nguyễn Văn Tâm.
+ Là nhà phê bình văn học – và không may bị sự kiện Nhân văn Giải phẩm đẩy ra ngoài lề ngay khi mới ra nghề và đang thành tài – Văn Tâm luôn luôn vượt văn phận của mình, đến cuối đời vẫn giữ một vị trí tiền phong và độc đáo trong một số cách tân táo bạo ở sự thẩm định một số tác phẩm văn học, một số phương pháp phê bình, giảng dạy văn học…
Thày của tôi mất đã mấy năm rồi. Tới nay tôi còn nợ mình một bài viết khóc thầy khi ở ngoài này hay tin buồn đó. Bản thảo vẫn là bản thảo, và đây là dịp tôi được viết ra đôi điều trong đó.
+ Với nhiều tác giả khá dễ dàng xác định tâm văn của họ. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ, nhà thơ Thế Dũng, nhà văn Thuận, nhà thơ Đinh Linh, nhà phê bình-dịch giả Đinh Từ Bích Thúy, v.v… Và còn nữa, ở các tác giả “thâm niên Hải ngoại” như: nhà phê bình Đặng Tiến, nhà thơ Thường Quán, dịch giả Nguyễn Ứớc, nhà thơ Viên Linh,nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, nhà thơ Đỗ Kh., nhà văn Mai Thảo, nhà văn Nhật Tiến, nhà báo–nhà văn Khánh Trường v.v…
+ Và có không ít tác giả không dễ “tìm ra” tâm văn của họ. Với mỗi tác giả trong này, cần phải có sự đọc chu đáo về họ.
Tính đa dạng tâm văn của Văn học Hải ngoại không khó giải thích nguyên nhân. Chỉ còn lại những câu hỏi: Ảnh hưởng của nó lên sáng tác? Lên các động thái văn học? Nó làm văn chương hay lên, hay là dở đi? Tức là, có thể đặt lại vấn đề: sự phong phú – có phần rắc rối – của tâm văn ở các nhà văn hải ngoại là thành tựu hay là cản trở cho nền văn học này?
2- “Bất an và “Công nhận”:
Anh Nguyễn Hưng Quốc khẳng định một điều tôi cho là đúng: “Chúng ta không nên chờ đợi chính quyền hay giới cầm bút trong nước công nhận những thành tựu của văn học hải ngoại. Do nhiều lý do, kể cả lý do chính trị, văn hoá và tâm lý, chính quyền và phần lớn giới cầm bút” – cũng như phần lớn giới bạn đọc – “ ở trong nước chưa sẵn sàng cho một sự công nhận như vậy đâu.”
(Đoạn “– cũng như phần lớn giới bạn đọc – “ là tôi muốn bổ sung cho đầy đủ, cho hết lẽ.)
Đây là một sự thật trớ trêu khi ngoảnh-lại mà người-ra-đi phải chấp nhận như một cái giá cho việc ra đi. Sự ra đi nào cũng vậy. Nếu ta không chịu “công nhận” đó là một trớ trêu thì cứ còn sẽ dẫn hoài tới quan niệm “bất an”, như ở phần đầu Đề dẫn anh Quốc làm “lớn chuyện” – “cái chuyện thường này ở huyện… An Nam”:
(…) bản chất của một nền văn học lưu vong là sự bất an. Bất an về những gì được viết ra và những gì còn lại. Bất an về cả sự hiện hữu của cái gọi là văn học lưu vong; về số mệnh của nó trong tương lai gần cũng như tương lai xa. Bất an về mọi mặt.”
Thực ra, ai cũng biết, thuộc tính căn bản của văn học là bất an. Ở đâu, thời nào cũng vậy. Tây Tàu, cổ kim…
+ Nhiều chục năm trước, nghe nói nhà thơ Dương Tường đã có gợi ý về yếu tố này với văn học Việt Nam; và 5-6 năm trước đây nhà văn Phạm Thị Hoài đã khái quát nó ở một bài nói chuyện. Trước hai chữ “bất an” tại bài đó, tôi vụt nhớ ngay đến câu nhà văn Nguyễn Thành Long – hình như dẫn lại từ một nhà văn ngoại quốc nào đó – mình đọc được từ nhỏ, đại để: Một truyện ngắn hay sẽ khiến ta đọc xong cảm thấy không yên ổn trong lòng.
Theo tôi hiểu, cái bất an ở Văn học Hải ngoại khi nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nêu ra là một sự thực. Và, là một cái thực bị ảo hóa. Vì sao? Vì đó không phải là bất an mang ý nghĩa văn học tính: bất an thuộc về hải ngoại tính.
+ Bất an đó, giới văn nghệ sĩ Việt hải ngoại có thể tự giải toả được, nếu có các “thuật”! Tôi sẽ đưa ra thuật đó.
Thuật hiện đại: Cứ so sánh bừa đi, đại thể, Văn học Hải ngoại như là đứa con tuổi teen, vì “lý do lịch sử” mà không sống chung với gia đình nữa. Để giải tỏa vấn nạn này, ai trong chúng ta ngồi đây cũng có dư kinh nghiệm, như là cha mẹ, anh chị, hoặc như là chính teen. Riêng với giới teenager thì phải ráng, thậm chí chỉ trong ý nghĩ, “đẻ ra các tác phẩm hay” để được “công nhận”.
Thuật cổ tích: So sánh trên phải công nhận là rất khập khiễng, nhiều người sẽ không chịu. Thì hãy so sánh theo cách này… Ngày xửa ngày xưa, ở một nhà kia, có hai anh em trai. Cả hai đều giỏi, ngoan. Người cha – vì “lý do lịch sử” – đã chết sớm. Người mẹ thương cả hai cả con, nhưng không sao làm hòa được xung đột giữa chúng. Cuối cùng, người em đành bỏ (hoặc bị đuổi ra khỏi!) nhà ra đi, v.v… và v.v…
V) Lời chào cuối qua một So sánh và hai Thơ:
Thưa Hội thảo,
Cỗ xe tam mã chở Ông Hoàng Văn chương gồm có Con ngựa Tác giả, Con ngựa Phê bình và Con ngựa Dư luận mà hiếm thấy nền văn học nào trên thế giới được cả ba con cùng tung vó dựng bờm ngon lành như nhau. Ngọn roi Thời Gian thì lúc nào cũng quất. Bác Xà ích là gì? Là Xứ sở, Tổ quốc, là Xã hội, Thời thế, là Chiến tranh, là Tỵ nạn, là Lưu vong… tùy vào số phận của mỗi nền văn học. Giày dép còn có số, văn chương cũng vậy thôi, hơn gì nhau!
Thẩm định, tự thẩm định Văn học Việt Nam Hải ngoại – thành tựu hay bất thành – khó mà ra ngoài hình ảnh xe tam mã chở Ông Hoàng!
Xin chúc Hội thảo về “Văn học Hải ngoại: THÀNH TỰU VÀ TIỀM NĂNG” có được… THÀNH TỰU VÀ TIỀM NĂNG!
Cuối cùng, để mộng mơ bên cái chuyện tranh luận nặng nề: Tôi mong Hội thảo này tạm một lần đừng đọc thơ Thanh Tâm Tuyền thành “Gọi tên Văn học Hải ngoại cho đỡ nhớ!” Mà thử đọc thơ Trần Dần (bài “Chiều vô lễ”) – khi ngợi ca Văn học Hải ngoại:
“Em dài quên cân đối”
“Mông non phi lý”
để thấy được vẻ đẹp của “em” Văn học Hải ngoại.
Dù “Em mang chức năng bé tí“ đi chăng nữa, nhưng là “chức năng” thực – Là chức năng của Văn học Việt Hải ngoại, từ nó, cho nó và vì nó!
Rất cám ơn các anh chị và các bạn đã theo dõi.
Đỗ Quyên
Melbourne, 26/1/2007
—–
*) Các ý chính đã được Ban tổ chức đọc tại Hội thảo.
1 Bình luận
1 Pingbacks »
[…] Quyên, Chỉ là đợt thử mắt bên phải, Tham luận Hội thảo “Văn học hải ngoại: Thành tựu và tiềm năng” – […]