Bài thuộc thể loại: Nghiên Cứu
Lược Thuật và Luận Giảng Tác Phẩm Nguồn Gốc Chủng Loại- CHƯƠNG 3: Sự tranh đấu để sống còn
khi nói về sự tranh đấu để sống còn, Darwin đưa ra hai nguyên lý sau: 1/ Trong thiên nhiên luôn luôn có một sự tranh chấp liên tục, dữ dội và không bao giờ ngừng nghỉ giữa cá nhân, giữa tập thể và giữa chủng loại về tài nguyên; và 2/ sự tranh chấp trên và số lượng giới hạn của tài nguyên trong thiên nhiên không cho phép bất cứ một sinh vật nào bành trướng mãi mãi.
Lược thuật và Luận giảng Tác phẩm Nguồn Gốc Chủng Loại: Chương 2
Theo quan điểm của Darwin thì thật ra không hề có các ranh giới rõ rệt nào phân chia các sinh vật trong thiên nhiên. Đây là một cách nhìn mà nhiều học giả, nhất là những học giả chịu ảnh hưởng lý thuyết tôn giáo, khó chấp nhận được.
LƯỢC THUẬT và LUẬN GIẢNG tác phẩm NGUỒN GỐC CHỦNG LOẠI: Chương 1
Darwin nhận thấy rằng những chủng loại đã được thuần hóa ngày nay có thể được phân chia ra nhiều các tiểu loại hơn các chủng loại trong thiên nhiên. Thí dụ như có rất nhiều các giống lúa, cam, táo, v.v. trong nông nghiệp so với các giống lúa, cam, táo, v.v. hoang trong thiên nhiên.
LƯỢC THUẬT và LUẬN GIẢNG tác phẩm NGUỒN GỐC CHỦNG LOẠI: Mở đầu
Tuy Darwin tuyên dương phương pháp khoa học mà ông sử dụng để dẫn đến lý thuyết của ông, ông cũng đề cập gián tiếp đến sự thiếu chắc chắn hoàn toàn trong những khám phá của khoa học. Đây là một tính chất đặc thù về các khám phá và lý thuyết…
ĐẠI CƯƠNG về tác phẩm NGUỒN GỐC CHỦNG LOẠI
Quyển sách nầy đem đến nhiều tranh cãi lúc mới được xuất bản, và vẫn còn được tranh cãi ngày nay. Đó là vì cái nhìn của Darwin đưa ra một thách đố trực diện cho niềm tin của nhiều người.
Tìm hiểu từ-ngữ gốc “Hán” (phần 4/4)
Sau đây là bảng liệt kê những chữ Việt Tàu (kể cả những chữ đã dùng ở các đoạn bên trên theo thứ tự A,B,C. Còn có một số chữ khác những chữ trong bài, vì ít dùng, hay ít phổ quát, nên chúng tôi không nhận ra. Lưu ý: các từ-ngữ dưới đây…
Tìm hiểu từ-ngữ gốc “Hán” (phần 3/4)
Chưa thoả mãn với hình thức chuyển tự, người Việt thuộc giới Nho sinh uyên bác đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng trực tiếp của người Tàu nên đã sáng chế ra chữ Nôm. “Nôm” nghĩa là nói theo lối đơn giản, bình dân “nói nôm na”.
Tìm hiểu từ-ngữ gốc ‘Hán’ (phần 2/4)
Khi tiếng Tàu du nhập vào tiếng Việt để làm giàu cho kho tàng từ vựng của nước mình, người Việt thường thay đổi từ cách dùng chữ đến âm đọc để phù hợp với tinh thần người Việt. Nói cách khác, người Việt đã “Việt hoá” chữ Tàu chuyển tự, về mặt “ngữ âm” bằng nhiều cách.
Tìm hiểu từ-ngữ gốc ‘Hán’ (phần 1/4)
Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ và dùng xen lẫn trong vài trường hợp là chuyện bình thường của cả thế giới; tuy nhiên, trường hợp của Việt và Tàu thành hình trên căn bản khá “bất thường”, tức là bị áp đặt…
Tia Sáng Rọi Vào Quá KHứ Bị Lãng Quên (kỳ 2/2)
thời kỳ văn minh đồ đá đầu tiên của miền bắc nước Tàu, thường được gọi là Yangshao, xuất phát từ văn hoá Hoà Bình trước đó mà có. Đó là một nhánh của văn hoá Hoà Bình di chuyển từ vùng bắc ĐNÁ lên mạn bắc trong khoảng thiên niên kỷ thứ sáu hay thứ bảy trước công nguyên.
Tia Sáng Rọi Vào Quá Khứ Bị Lãng Quên (kỳ 1/2)
Năm 1952 Carl Sauer, nhà nghiên cứu về địa lý, đi một bước xa hơn. Ông đặt giả thuyết rằng những loại cây trồng đầu tiên trên thế giới xuất hiện tại vùng ĐNÁ. Ông nghĩ rằng việc trồng cây do các người sinh sống tại chỗ thực hiện rất sớm, trước cả thời kỳ Đông Sơn. Đó là người Hoà Bình. Lúc ấy các nhà khảo cổ đều không để tâm đến lý thuyết của Sauer.
VÚ và MÔNG
Có những tác giả sử dụng bừa bãi thuyết tiến hóa như một dụng cụ siêu phàm hữu hiệu cho tất cả mọi lãnh vực, mọi sự kiện. Việc nầy dẫn đến những lỗ hổng trầm trọng trong lý luận và giải thích của họ. Họ không hiểu rằng thuyết tiến hóa chỉ áp dụng chính xác trong ranh giới nhất định của nó mà thôi.
Nguyễn Trãi: Bề Tôi của Bốn Dòng Vua (phần 4/5)
Thụ phong tước hầu Quan Phục, Ức Trai thuộc nhóm 100 công thần hàng đầu. Trong kháng chiến, Nguyễn không phải là nhân vật số hai sau Lê Lợi dù có thể đặt Ông vào vị trí số một trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Nên phân biệt sòng phẳng hai trường hoạt động.
Nguyễn Trãi: Bề Tôi của Bốn Dòng Vua (phần 3/5)
Nguyễn Trãi ca ngợi quan tướng nhà Minh từ vị trí thấp hơn. Ông buộc lòng làm thế hay thực lòng nghĩ thế?
Ức Trai vốn hiểu thời nên tùy thời. Năm 1417/1418, Hậu Trần đã bị tiêu diệt. Tình hình tương đối ổn định vì các toán nổi dậy rời rạc không đe dọa sự tồn tại của chính quyền Giao Chỉ. Nhóm Lam Sơn chưa trở thành lực lượng có thể gây chấn động nền móng cai trị vững vàng
NGUYỄN TRÃI: BỀ TÔI CỦA BỐN DÒNG VUA (Phần 2/5)
Văn nhân họ Nguyễn bình yên với sách vở tùy thân, duyên do gì chỉ còn sót mươi đơn vị thơ trong đó chẳng bài nào thể hiện công việc thực tế của tác giả? Theo thiển ý, đa phần thơ Ức Trai sáng tác tại Trung nguyên đã bị tiêu hủy có chủ định. Ai thực hiện việc đó, vì mục đích gì xin được bàn sau.
NGUYỄN TRÃI: BỀ TÔI CỦA BỐN DÒNG VUA (phần 1/5)
LTS: “Nguyễn Trãi: Bề tôi của bốn dòng Vua” của Lê Tư là một biên khảo công phu, dài hơi, dựng lại hành trạng của một trong những khuôn mặt chính trị và văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam là Nguyễn Trãi bằng cách phân tích thơ của ông mà tác giả xem như một thứ tự truyện, “tự truyện qua nhật ký thơ”, đồng thời đối chiếu với những dữ kiện lịch sử. Nguyễn Trãi ở đây có phần khác với Nguyễn Trãi mà ta thường biết qua sách sử,
Vài cảm nghĩ về đề nghị cải tiến chữ Việt của Bùi Hiền
Chúng ta thấy ngay tác giả đã sai lầm khi dùng ký hiệu phiên âm làm chữ viết. Đây là điều vô cùng cấm kỵ. Thí dụ: ký hiệu [c] dùng để phiên âm các chữ có “ch”, như chúng ta thì phiên âm là [cuŋ͡m ta:]…
HỢP TÁC VỚI QUÂN MINH: NGƯỜI KINH LỘ (kỳ 3/3)
Hội nghị Diên Hồng mang dấu ấn cơ cấu Kuriltai của người Mông Cổ, chủ nhân trung nguyên lúc bấy giờ. Hội nghị trưởng lão tương tự vẫn thấy ở Afghanistan ngày nay dưới danh xưng Loya Jirga. Riêng Đại Việt, nơi hệ thống hành chánh phát triển hơn trên địa bàn chật hẹp, vua có thể trao đổi với lãnh đạo các phủ lộ để nắm tình hình địa phương nhưng vẫn triệu họp phụ lão, điều đó chứng tỏ hệ thống chính quyền không chặt chịa bao trùm toàn vương quốc. Nhiều khu vực vẫn tự chủ ở các mức độ khác nhau nên vua chỉ có thể trao đổi với thủ lĩnh địa phương thông qua cuộc họp này.
HỢP TÁC VỚI QUÂN MINH: NGƯỜI KINH LỘ- kỳ 2/3
Có thể nói ý thức về vương quốc Đại Việt tách biệt khỏi các triều đại phương Bắc vào thế kỷ XV không mạnh mẽ lắm tại châu thổ Nhĩ hà. Cảm nhận về giới hạn Nam-Bắc xuất hiện trong thơ Nguyễn Trung Ngạn hay Phạm Sư Mạnh đã phai mờ theo quyền lực Thăng Long. Điều này cho thấy ảnh hưởng của di dân Tống chạy trốn nhà Nguyên tác động tiêu cực như thế nào. Văn hóa thâm nhập từ trung nguyên khiến một bộ phận cư dân vùng đất nay là bắc bộ và duyên hải bắc trung bộ càng thêm thấm nhuần văn minh Hán, đặc biệt về giáo huấn Tống Nho. Họ là tác nhân của tiến bộ xã hội nhưng tâm thức dễ dao động giữa thế giới người nói tiếng Việt và thế giới người viết chữ Hán.
hợp tác với quân Minh: người kinh lộ (kỳ 1/3)
hậu duệ Mạc Đăng Dung lại khuynh đảo một triều đại xuất thân từ Thanh Hóa. Lần này, họ Mạc không phục vụ ai mà tự lập làm hoàng đế. Tính chất “bắc hướng” của tộc Mạc thể hiện rõ ràng khi Đăng Dung trói mình quỳ lạy tướng Minh ở cửa ải đồng thời xác nhận chủ quyền Trung Hoa trên dải đất phên dậu, hành động tủi hổ chưa vị vua phương Nam nào đủ can đảm thực hiện.
Nguyễn Phi Khanh- Nhà Nho Khoáng Dật, Sầu Muộn, và Lỡ Thời
So với tâm thức Phật giáo của vua Nhân Tông đầu đời Trần, vốn xem mọi sinh linh có tính Phật như nhau, nên đã gả Huyền Trân cho Chế Mân để gầy dựng một liên minh phòng vệ trước đế quốc Mông Cổ quá hùng mạnh, nhận thức chính trị của tầng lớp biết chữ tại châu thổ sông Hồng cuối Trần đầu Hồ có bước lùi đáng kể. Chính nho gia góp phần tạo ngăn cách giữa Chiêm và Việt, làm suy yếu cả hai dân tộc, tự mình biến thành mồi ngon trước Đại Minh đang bước vào giai đoạn toàn thịnh.
Nguyễn Phi Khanh Nhà nho khoáng dật, sầu muộn và lỡ thời (phần 3/4)
Hay nhắc đến thiếu thốn và cố sức hài lòng với nó chứng tỏ Ứng Long sống trong ám ảnh giàu sang. Cái nhàn của Chu Văn An xuất phát từ tâm nguyện, cụ từ tạ mọi ân sủng của triều đình một cách quyết liệt cực đoan. Cái nhàn của Ứng Long mang màu sắc thời thượng, nó giống như vật trang sức thanh tao giúp các nhà nho bớt căng thẳng trên đường lập công danh.
Nguyễn Phi Khanh- Nhà nho khoáng dật, sầu muộn và lỡ thời- phần 2/4
Ứng Long có xu hướng trầm trọng hóa điều mình chịu đựng, ngoài thủ pháp văn chương, nó phản ánh tâm hồn quá nhạy cảm theo hướng tiêu cực. Hai câu đầu đưa chúng ta ngược về bài hành Lũng Tây nổi tiếng, khi Trần Đào (812 – 885) nhìn thấy đống xương bên sông Vô Định, di cốt lương nhân của nhiều phụ nữ xuân sắc, những người vẫn ngỡ chồng mình sẽ trở về.
Nguyễn Phi Khanh- Nhà nho khoáng dật, sầu muộn và lỡ thời- phần 1/4
Dưới triều Trần, Phi Khanh tên Ứng Long. Thời trẻ, Ứng Long là lại viên thuộc Tam quán Kiều tài, đồng thời dạy kèm con gái tướng quốc Trần Nguyên Đán tên Trần Thị Thái. Bà Thái sau trở thành vợ Ông.
Ông sinh hoạt tài tử từ thuở thanh niên, vụng về khiến học trò có bầu rồi bỏ trốn, phiền nhạc phụ tương lai phải chấp nhận cuộc tình sôi nổi. Theo sử cũ, vì xuất thân bình dân lấy vợ quý tộc nên dù đậu Tiến sĩ, Ứng Long bị Thượng hoàng Nghệ Tông ghét bỏ
LÊ THƯƠNG: Chúng ta đã biết gì về phẩm cách, tài năng của ông?
Sinh thời ông không bon chen, lặng lẽ giữ cho mình một thái độ sống thật chuẩn mực cho nên dù nhạc của ông được phổ biến khắp nơi nơi, từ thành phố đến thôn quê, từ các em nhi đồng cho đến người lớn tuổi ai cũng biết, cũng thích, nhưng thanh danh ông lại ít được nhắc đến. Nếu tôi không lầm thì ông chưa hề được những tổ chức về âm nhạc từ trong nước đến hải ngoại vinh danh, dù một lần
Thoả hiệp Paris về khí hậu thay đổi
Tổng thống đắc cử Donald Trump đã có lần tweet đi — cái tweet ấy đã được truyền đi hàng trăm ngàn lần sau đó, và được đưa ra trong cuộc tranh biện giữa hai ứng cử viên tổng thống hồi tháng Chín năm rồi — rằng hiện tượng khí hậu thay đổi do nhiệt hoá toàn cầu gây ra bởi sinh hoạt của loài người là bịa đặt của Trung Hoa – a Chinese hoax – nhằm làm suy yếu ngành kỹ nghệ chế biến của Hoa Kỳ.
Trần Nguyên Đán (1325 – 1390) Đại thần, nho sĩ, nhà thiên văn kiêm đạo gia (phần 2/2)
Trần Nguyên Đán là nhà nho chính thống. Hoạt động cùng tâm cảm của vị quan nho học thể hiện trong hầu hết các tác phẩm còn truyền. Chính ông cũng khẳng định lựa chọn của mình khi tự ý rời bỏ chức vụ ở đài Ngự sử : “Nho phong bất chấn hồi vô lực” (儒風不振回無力), Ông sẽ gửi mình chốn sông hồ nếu phong hóa đạo Nho không được chấn hưng. Nói cách khác, Ông chỉ thích làm quan trong môi trường nho thuật được tôn trọng.
Trần Nguyên Đán (1325 – 1390) Đại thần, nho sĩ, nhà thiên văn kiêm đạo gia (phần 1/2)
Chúng ta sẽ tìm hiểu nhiều khía cạnh trong tâm hồn Nguyên Đán qua từng bài thơ để lại. Dù rời rạc về chi tiết thực tế, nhưng một tinh thần điềm đạm, quan tâm tới dân chúng, bình tĩnh trước thế cuộc vẫn xuyên suốt trong các vần thơ. Qua đó, có thể hình dung lại giai đoạn xáo trộn, bi thương mà chính sử không phản ánh hết.

Bình Luận mới