Bài đã đăng của Thụy Khuê
Thụy Khuê: Tên thật là Vũ Thị Tuệ. Sinh năm1944 tại Nam Ðịnh. Viết tiểu luận văn học từ 1985. Ðã in bài trên các báo Tự Do (Pháp & Bỉ), Văn Học (Hoa Kỳ), Thông Luận (Pháp), Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), Người Việt (Hoa Kỳ), Diễn Ðàn (Pháp), Hợp Lưu (Hoa Kỳ), Phụ Nữ Diễn Ðàn (Hoa Kỳ)... Cộng tác với đài RFI (Radio France Internationale) trong chương trình Văn Học Nghệ thuật từ 1990.
(Wikipedia tiếng Việt)
Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ: Alexandre de Rhodes (Chương 5)
I- De Rhodes, người dẫn đường
Hai bộ sách nghiên cứu xuất bản trong thời kỳ thuộc địa và hậu thuộc địa, xác nhận và vinh danh Alexandre de Rhodes là người dẫn đường cho quân …
Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ: Ký sự Đàng Ngoài của Giuliano Baldinotti (chương 4)
Cũng như Borri, Baldinotti xác định nhiệm vụ «dạy dỗ» của các giáo sĩ, ngay từ đầu. Nhưng vì không thể «dạy dỗ» một dân tộc có trình độ tư tưởng cao hơn mình, nên ông phải hạ «nó» họ xuống hàng ngu muội, tăm tối, thờ cúng ma quỷ, để có cớ đến dậy dỗ. Đó là đường lối chung mà La Mã đề ra cho các giáo sĩ, về sứ mệnh «khai hoá» của họ.
Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ: Cristoforo Borri và ký sự Đàng Trong (chương 3, phần iv)
Để có chính nghiã cho việc truyền giáo, Borri phải dựa vào Thánh Kinh để xác định người Việt nghịch đạo: không thờ Đức Chúa Trời mà tôn thờ ma quỷ, cho nên cần phải giáo hóa dân tộc này bằng ánh sáng Phúc Âm và văn minh Tây phương.
lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ: cristoforo borri và ký sự đàng trong (chương 3, phần iii)
Cristoforo Borri viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà — ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi) — là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị. Vào năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, quan Khám lý Trần Đức Hoà đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ các giáo sĩ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn.
lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ: cristoforo borri và ký sự đàng trong (chương 3, phần II)
Sự tranh công của giáo đoàn Pháp với giáo đoàn Bồ, Ý, qua việc đặt tên thánh cho bà quý tộc, ân nhân đầu tiên của đạo Chúa ở Việt Nam, bắt đầu từ đây. Và việc này là nguồn cội sự trá mạo lịch sử truyền giáo ….
Lịch sử truyền giáo và chữ quốc ngữ: Cristoforo Borri và Ký sự Đàng Trong (chương 3)
Cristoforo Borri đã cho chúng ta biết rất nhiều về Đàng Trong thời chúa Sãi, về cách chuẩn bị nội chiến với miền Bắc cũng như ngoại chiến với người Âu và chinh phục nốt phần còn lại của Chiêm Thành. Bí quyết làm giàu đất nước của chúa bằng thương mại tự do. Sự tự tin trước người Âu. Tự chủ với các nước khác, điều mà ngày nay, chúng ta vẫn chưa hoàn toàn đạt được ….
Mất Tích Như Điều Kiện Sống Của Con Người
Ai là một câu hỏi trong tiếng Việt, được trả lời tức khắc trong tiếng Anh: Tôi (I), tiểu thuyết được cấu trúc như cuộc giao lưu ngôn ngữ, văn hoá, toàn cầu, về vấn …
Truyền giáo và quốc ngữ: Các giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên đến Đàng Trong (Chương 2)
Các giáo sĩ người Âu sang Đại Việt, luôn luôn có giáo sĩ Nhật đi kèm, làm thông ngôn; bởi vì người Nhật có thể bút đàm với người Việt, vì chữ Nhật chính là chữ Hán đọc thành tiếng Nhật. Ngoài ra, những giáo sĩ Nhật còn có kinh nghiệm chữ quốc ngữ Nhật la tinh hóa. Nhưng công lao của người Nhật (cũng như người Việt) trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ, thường bị các giáo sĩ người Âu bỏ qua.
Truyền giáo và quốc ngữ: Chương 1 – Bối cảnh lịch sử Đàng Trong
Khi Alexandre de Rhodes tố cáo Trấn thủ Quảng Nam (lúc đó là Thế tử Nguyễn Phước Tần) vào năm 1644 càn quét đạo Chúa, bắt và xử tử André Phú Yên …; [rồi] ba ngay sau đó, thành Quảng Nam bị [Thượng đế] trừng phạt, thiêu rụi, thì câu chuyện trở nên nghiêm trọng, bắt buộc tôi phải điều tra đến tận nguồn, dùng kính hiển vi để xét ngôn ngữ của người thầy tu này, xem đâu là sự thật.
Truyền giáo và quốc ngữ
Sự tôn sùng chữ quốc ngữ nằm trong mặc cảm tự ti của người bị trị, dẫn đến tinh thần vọng ngoại cao độ, còn tồn tại đến ngày nay: Hiếm thấy sách, báo nào trích dẫn một câu văn, một lời nói, có ý nghĩa của người Việt, mà toàn trích dịch lời các tác giả Âu, Mỹ, như thể nước ta không có nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng nào cả.
Dâm tà và hậu hiện đại
Phần lớn những bài phê bình vinh thăng Nguyễn Viện đều cho ông là nhà văn hậu hiện đại. Mà thực chất tư tưởng của ông chỉ là bạo hành và hạ nhục người phụ nữ. Sự hạ nhục người phụ nữ không mới mà cũng không hậu hiện đại. Nó cũ như trái đất, như Thánh kinh.
Giáo sư Nguyễn Văn Trung qua đời
Tôi vẫn coi ông là người thày thứ nhất, dù không học ông ngày nào. Không chỉ vì sự nghiệp văn học đồ sộ của ông, vì ông mở đường cho triết học và phê bình Việt Nam vào thời hiện đại, mà còn ở tinh thần tự do, phóng khoáng, chấp nhận những sự lên án, đôi khi hết sức thiển cận và đầy ác ý của đối phương ….
Cung Tiến nói về Cung Tiến
Tất nhiên khán thính giả cũng biết, là trong cuộc đời này, không có gì là mới cả, cái gì cũng là cũ, nhưng mà tôi thấy rằng sau một thời gian tôi làm âm nhạc theo tonalité của Tây phương, bây giờ tôi muốn làm cái gì của Đông phương, của Việt Nam, cái đó dẫn tôi đi làm cái mà tôi khoái, mà hiện giờ tôi khoái nhất là làn điệu quan họ Bắc Ninh.
Đi tìm sự thực lịch sử về vua Gia Long
Trong 60 năm ở Pháp, tôi cố gắng gột rửa đầu mình khỏi mặc cảm thấp hèn, yếu kém của con bé “anh-đô-si-noa”, trong hành động cũng như trong tư tưởng, và chỉ thật sự thấy được cân bằng và bình yên, khi biết rõ về vua Gia Long, về người thiếu niên dũng cảm và kiên định đã tay không dựng lại cơ đồ, tái tạo một nước Việt Nam thống nhất, sau hơn hai trăm năm phân liệt.
Tự Lực Văn Đoàn Văn Học Và Cách Mạng (kỳ 47): Nhất Linh, ngày trở về
Giòng Sông Thanh Thủy được nhà Đời Nay in lần đầu năm 1961.
Không ai tham dự vào một cuộc đảo chính, mà còn được in sách, trong lúc các bạn đồng hành đều ở trong tù. Sự kiện này cho thấy hai điều:
– Ông Diệm không muốn bắt Nhất Linh; cũng như khi Sartre xuống đường biểu tình, Bộ trưởng Nội vụ đòi đi bắt, De Gaulle trả lời: Không ai bắt Voltaire.
– Nhất Linh không hề mắc bệnh tâm thần như nhiều người suy tưởng, thậm chí có người còn “chứng minh” và “xác định” điều này qua “văn bản”, để chứng minh ông đã tự tử tới hai lần!
Tự Lực văn đoàn Văn học và cách mạng (46)
Nhà nước Việt Nam “thứ hai” của người quốc gia được thành lập, cộng tác với Pháp. Bên cạnh nhà nước “thứ nhất” do Hồ Chí Minh lãnh đạo, chống Pháp, Võ Nguyên Giáp chiến thắng Điện Biên Phủ. Nhà nước thứ hai sẽ trở thành Việt Nam Cộng Hoà, sau hiệp định Genève, Ngô Đình Diệm loại Pháp ra ngoài. Từ đó, cả hai miền Nam Bắc không còn dưới sự đô hộ của Pháp.
Tự Lực Văn Đoàn Văn học và cách mạng (45)
“Giai nhân chỉ ở lại sàn lim có một đêm, sáng sau nàng bị cùm tay dẫn đi nơi khác, nhưng bóng nàng đã thoáng qua nơi giam cầm như chút ánh nắng tươi hé ra giữa khoảng trời mây đen đặc.” Khái Hưng chính là ánh nắng ấy, trong đêm đen trời Việt.
Tự Lực Văn Đoàn Văn học và cách mạng (44)
Theo [Hoàng Đạo] trên báo Việt Nam số 56 (19-1-46), trong vụ “cướp chính quyền,” thì hai ông Trần Huy Liệu và Võ Nguyên Giáp có công đầu …. Rất có thể vì bài này mà tới khi thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, cả hai ông Liệu-Giáp đều rút lui.
Tự Lực Văn Đoàn Văn học và cách mạng (43)
Chúng ta có rất ít tài liệu tin được viết về đời sống của các nhà cách mạng sống bên Trung Hoa trong giai đoạn 1940-1945 …. [Đ]ây là giai đoạn Hồ Chí Minh bị giam ở Liễu Châu [một huyện ở phía bắc tỉnh Quảng Tây] cùng với Nguyễn Tường Tam, cũng là thời kỳ “bí mật” nhất, vì thiếu thông tin, nên mọi người thường tìm cách chắp vá những mảnh vụn.
Tự Lực Văn Đoàn Văn học và cách mạng (42)
Việc sửa ngày vua thoái vị, thành 30 tháng 8, có lẽ chỉ vì lo lắng sự chính danh của một chính phủ vừa thành lập. Nay đã 76 năm qua, sự chính danh không còn quan trọng nữa, mà sự thực lịch sử quan trọng hơn. Chúng tôi nghĩ các nhà viết sử nên quan tâm đến vấn đề này: Nếu muốn bác bỏ ngày lễ thoái vị là ngày 23 tháng 8, do chính tay vua viết, thì phải đưa ra những chứng cớ thuyết phục.
Tự Lực văn đoàn Văn học và cách mạng (41)
Sau khởi nghĩa Yên Bái, Việt Nam Quốc Dân Đảng hoạt động trở lại tại hải ngoại với danh xưng “Việt Nam Quốc Dân Đảng Vân Nam Đệ Nhất Đạo….” Tại Việt Nam, năm 1938, Nguyễn Tường Tam, lập … Đại Việt Dân Chính. Năm 1939, Trương Tử Anh (1914-1946), lập ra Chủ nghĩa Dân tộc Sinh tồn và Đại Việt Quốc Dân Đảng …. Ba chính đảng quốc gia này sẽ hợp nhất với nhau vào cuối năm 1944 và sẽ giữ vai trò quan trọng 1944-1946.
Tự Lực văn đoàn Văn học và cách mạng (40)
[K]hi tìm hiểu hoạt động của Tự Lực Văn Đoàn, chúng ta không thể không biết gì về Việt Nam Quốc Dân Đảng, phong trào cách mạng đi trước mà Nhượng Tống đóng vai chủ chốt bên cạnh đảng trưởng Nguyễn Thái Học, và cũng là người sống sót kể lại lịch sử đảng, vẽ chân dung các đồng chí âm thầm không tên tuổi, đã hy sinh cho tổ quốc.
Tự Lực Văn Đoàn Văn học và Cách mạng (39)
Vấn đề ở đây là [giới phê bình trong nước] vẫn theo lối mòn, đề cao văn học hiện thực phê phán mà Nguyễn Công Hoan là chủ soái. Không phân biệt giá trị hay dở của tác phẩm, tác giả. Đánh đồng các nhà văn có trình độ khác nhau. Co cụm lại trong một số tên tuổi được “chính thức” công nhận. Bỏ qua những mảng văn học lớn như Tự Lực Văn Đoàn, Văn học miền Nam.
Tự Lực Văn Đoàn Văn học và Cách mạng (38)
Nghệ thuật của Thanh Tịnh nằm ở sự chậm rãi … nhưng sâu lắng … không cảnh mẹ chồng nàng dâu ác nghiệt, mà là một sự chịu đựng âm thầm …. [Còn] Đỗ Đức Thu tạo ra một vũ trụ [xa lạ], từ bối cảnh, cách viết tới tư tưởng. Nhà văn chỉ muốn báo động: mọi sự kinh dị, huyền bí, luôn luôn phát sinh tự con người …
Tự Lực Văn Đoàn Văn học và Cách mạng (37)
Thạch Lam đã có lần kể: không phải vì tòa báo thiên vị, chỉ chỉ đăng những tác phẩm của người trong Văn Đoàn, mà vì những bài gửi đến Ngày Nay, tuy rất nhiều, nhưng ít khi thấy một truyện ngắn hay có thể đăng được. Việc đọc cả trăm quyển truyện gửi đến dự giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn mà không lựa được truyện nào, [đã cho thấy rằng] nhân tài không đầy dẫy.
Tự Lực văn đoàn văn học và cách mạng (36)
Truyện ngắn Thạch Lam làm tôi nhớ đến truyện ngắn Tchékhov, họ giống nhau ở một điểm là thường hay tả những người đàn bà tầm thường, ý nghĩ của họ cũng rất tầm thường, nhưng cái tầm thường ấy luôn luôn chở cái bi đát. Nhưng ở Tchékhov (hoặc Khái Hưng) cái bi đát chỉ đến trong đoạn kết, còn ở Thạch Lam cái bi đát len vào truyện ngay từ đầu, trong những chi tiết, những cử chỉ nhỏ nhặt:
Tự Lực Văn Đoàn văn học và cách mạng (35)
Dường như không phải đến thời ông Diệm, Nhất Linh mới có ý định [tự tử], mà ông đã nghĩ đến vấn đề này từ khi viết Bướm trắng. Và khi ông thực hiện ý định, năm 1963, ta vẫn có thể cho rằng đó là ý định của nhà văn chứ không phải nhà chính trị … bởi vì cái chết của Nhất Linh, nhà văn, có ý nghĩa triết lý, của con người đứng trước định mệnh ….
Tự Lực Văn Đoàn Văn học và Cách mạng (34)
Đẹp là một cuộc đối thoại dài giữa Nam và Lan, một nghệ sĩ và một người yêu nghệ sĩ, nhưng chưa chắc đã là hai người tri kỷ. Khái Hưng ghi lại ở đây những mẩu trò truyện với Nguyễn Gia Trí về cái đẹp, về quan niệm hoàn tất một bức tranh, về sự khó khăn khi đi tìm cái đẹp.…


Bình Luận mới