Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Phê Bình Email bài này

Trải Nghiệm Học Thuật: Thơ Chuyển Đổi Hiện Thực (Transrealism)

0 bình luận ♦ 26.06.2019

 

Trích Sáng Tạo và Tái Tạo Thơ (phát hành mùa đông  2019)

after the handmaid tale
Diễn dịch tiểu thuyết Handmaid’s Tale của Margaret Atwood

 

“Không phải khoa học viễn tưởng, không phải hiện thực, mà dao động ở giữa, trong một khu vực bất ổn.” (Damien Walters, The Guardian: Transrealism: the first major literary movement of 21st century?)

Transrealism phát sinh từ tiểu luận A Transrealist Manifesto của nhà văn Hoa Kỳ Rudy Rucker, năm 1983. Theo nhận định của Walters, vào đầu thế kỷ 21, Transrealism đã tạo nên thành tích trong văn học, bắt đầu bằng truyện ngắn và tiểu thuyết. Transrealism có nội dung kết hợp rất cụ thể giữa thực tế và hư cấu. Không quá nhiều hư cấu, viễn tưởng như Harry Potter hoặc The Hunger Games. Sự kết hợp hiện thực với tưởng tượng phải có căn bản thực tế, ví dụ như tác phẩm The Handmaid’s Tale của Margaret Atwood, Times Arrow của Martin Amis.…  Có thể nhận xét chung: Transrealism hư cấu trên điều gì thực tế có khả năng xảy ra hoặc có nội dung gần gũi với thực tại.

Căn Cước: Chuyển Đổi Hiện Thực.

Chuyển Đổi Hiện Thực và Khoa Học Viễn Tưởng thoạt nhìn dường như giống nhau ở quan điểm đưa độc giả thoát ra khỏi thực tại phức tạp và giúp họ thoải mái trong một thế giới ảo. Tuy nhiên, khác với khoa học viễn tưởng trình bày hầu hết những chuyện không thể xảy ra, Chuyển Đổi Hiện Thực cho phép người đọc cảm nhận những gì hư cấu sẽ có cơ hội, có khả năng xảy đến hoặc tạo cho người đọc cảm tưởng có thể tin được dù biết là tưởng tượng. Chuyển Đổi Hiện Thực cho nhận thức sự hy vọng về một thực tế bất an, không vừa ý hoặc tồi tệ. Nói một cách kỹ thuật, chuyển đổi hiện thực là kiểm soát khả năng trốn thoát thực tế của tưởng tượng. Kết hợp hư ảo với cụ thể trong phương cách thỏa thuận nào đó để trở thành một khái niệm có thể chấp nhận.

Chuyển Đổi Hiện Thực đưa người đọc thoát ly thế giới hiện thực nhưng không hoàn toàn mất hết những nối kết. Thông thường, được sử dụng ưu điểm của khoa học hoặc những sự kiện cụ thể làm trọng tâm để hư cấu xoay quanh. Nó giải quyết sự mệt mỏi, nhàm chán của hiện thực, của tâm lý cá nhân và xã hội, của những lập lại nhàm chán, nhưng cùng một lúc không để cho người đọc cảm thấy bất lực trước một thế giới không còn khả năng kiểm soát.

Transrealism trong nghĩa từ ngữ: Realism + transcendence, tức là Hiện Thực + tính siêu việt, siêu nghiệm. Có thể dịch: Siêu Hiện Thực. Tuy nhiên, chúng ta đã có Surrealism trong nghĩa Siêu Thực (Siêu ‘HiệnThực). Chưa kể phong trào Superrealism, gần gũi với Hyperrealism, là phong trào nghệ thuật bắt đầu trong thập niên 1960-1970. Bao gồm hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh. Vì vậy tôi dùng chức năng văn học của “trans” trong phong trào Transrealism để dịch là Chuyển Đổi Hiện Thực.

Thơ Chuyển Đổi Hiện Thực.

Vào cuối thập niên 1980, nhà thơ Chí Lợi, Sergio Badilla Castillo (1947 – ) bắt đầu khai phá dòng thơ Chuyển Đổi Hiện Thực, dựa theo tuyên ngôn và tiêu chuẩn của người sáng lập, Rudy Rucker.

Castillo khởi đầu bằng khái niệm phi thời gian. Sử dụng quan niệm của Bazon Brock: dùng từ ngữ “Utopia” nói về một nơi chốn, một không gian không có thật, Brock chuyển sang “Uchrony” (U-topos sang U-chronos) nghĩa là thời gian không có thật. Đưa người đọc ra khỏi định chế của thời gian, một yếu tố quan trọng nhất trong đời người, để người đọc có một tâm lý khác về vũ trụ rộng lớn, về nhân sinh bao la chồng chất lên nhau, không cần phải theo thứ tự ngày tháng hoặc trật tự cụ thể đã quen thuộc.

Castillo quan niệm, sáng tạo không nằm trong khái niệm thời gian. Khái niệm này do ý thức mà có. Ông cho rằng khoảnh khắc đầu tiên và cuối cùng của sáng tạo là nhà thơ nhìn thấy tức thì cái tổng thể của bài thơ. Ông lập luận theo lý thuyết của Einstein về sự kết hợp giữa không gian và thời gian.

Transrealism sử dụng các yếu tố hư cấu để tạo ra những tượng trưng mới, ẩn dụ lạ lùng, làm thay đổi tâm lý và tư duy của người đọc. Đưa họ đến một nhãn quan cao hơn về đời sống và sự sinh tồn. Vì vậy các lý thuyết mới về nhân văn, vũ trụ học, vật lý học, hóa học, toán học, Lượng Tử…. được đưa vào làm nền cho tưởng tượng xây dựng thành nội dung.

Ở một điểm giao nhau giữa thời gian và không gian tạo ra khoảnh khắc thực tế của đời sống. Ví dụ, ngày 15 tháng 8 năm 2000, lúc 10 giờ 5 phút 8 giây và … thời gian đụng không gian, ngay lúc này, tức thì, là thực tế. Nếu hư cấu phá vỡ thời gian, không có thời gian, tự nhiên không gian sẽ chồng chất lên nhau. Ông đặt thơ vào những trường hợp không gian ba, bốn, năm chiều. Sự chồng chất và song song của các thế giới ảo cho thơ giải quyết những khó khăn của đời sống xã hội, tâm lý, tâm linh một cách khác hơn các lề lối đã thông dụng.

Nghệ thuật làm xáo trộn, không theo thứ tự của thời gian, mang những ý nghĩa kỹ thuật: 1- Làm nền để những sự kiện và yếu tố khác nổi bật. 2- Cùng một lúc những đoạn thời gian cắt lìa trở thành từng mảnh văn cảnh, mà sự nối tiếp có ý đồ nói lên một điều gì, không bằng lời. Sự xáo trộn thời gian, tự bản thân, là những ký hiệu thông đạt. 3- Sự đứt đoạn, mất thứ tự, đánh thức người đọc, phải để tâm theo dõi kỹ lưỡng hơn.

Ông cũng cho rằng, thơ Transrealism luôn luôn đối diện với thế giới cụ thể, hiện thực và thực tế. Sự biến dạng của vật chất, sự biến đổi của tư tưởng, sự biến hóa của khoa học và kỹ thuật, là đối tượng của kinh nghiệm chuyển đổi thực tại, mà nhận thức của con người hàng ngày ít quan tâm. Nhưng những hỗn loạn của thế giới vẫn tồn tại trong quá khứ và tiếp tục phát triển muôn hình sắc trong tương lai. Sự chuyển đổi hiện thực là những gì có thật, đang xảy ra và sẽ xảy ra.

Kinh nghiệm cho chúng ta nhận thấy: vũ trụ đưa vào trí não những hiện thực qua hình ảnh, biểu tượng, và ý nghĩa, với những hiệu quả chuyển đổi. Trong quá trình này, theo chủ nghĩa Chuyển Đổi Hiện Thực, nhà thơ nhận ra: không có sự khác biệt giữa chắc chắn và không chắc chắn. Đối với họ, bài thơ là một bằng chứng về một sự kiện, một trường hợp, trong sự xáo trộn thời gian một cách cân bằng, hòa hợp.

Castillo là nhà thơ đã phát tán sự ảnh hưởng của Transrealism vào thi ca thế giới như các nhà thơ Bắc Âu: Edith Sdergran, Elmer Diktonius, Paavo Haavikko, Pentti Saarikoski; các nhà thơ Thụy Sĩ như Gunnar Ekelf, Lars Gustafsson … và nhà thơ Nobel văn chương 2011, Tomas Transtrmmer.

Ông sống trong tình trạng lưu vong và là hội viên của Taller of Stockholm, của Pelican International Group of Art. Sáng lập viên tạp chí North Pole and Pacion.

Đây là bài thơ của Castillo, cho người đọc một cảm nhận khái quát về thơ Transrealism.

Giấc Mơ của Người Nhập Đồng.

Lúc đó tôi mê sảng như người nhập đồng

phát hiện ngôi làng chìm dưới sa mạc.

Dãy tường đá bị cát tàn phá

những bà mẹ mờ nhạt như bố tôi mơ hồ.

Không phải vì ngây thơ thâm nhiễm sinh ngờ vực

mà ảo ảnh do sự chết gây ra.

Tôi đi về hướng sa mạc lớn

lắng nghe tiềm lực sầu đau lảm nhảm giữa đất hoang.

Lang thang qua đồng bằng suốt đêm ngắm sao sáng.

Ngày là giáo điều tuyệt đối trên cánh đồng

thể hiện tỏa sáng trên dãy đá vôi

trong phong cảnh nơi bìa đất khốn khổ:

Phải chăng ở đó là anh em hay kẻ thù?

có thể bố tôi đã cưỡi con bọ hung

chạy trốn ( phóng về nơi vô định)

giữa khắc nghiệt của vũ trụ vây quanh. (1)

(Bản dịch Ang ngữ: trên Transreal Poetry, 2006.)

Badilla Castillo cho rằng thơ Chuyển Đồi Hiện Thực quan niệm thế giới cụ thể trong kinh nghiệm thực tế bị hòa tan giữa sự hỗn hợp chuyển đổi và sự chuyển đổi của hạ nguyên tử (subatom) liên tục tương tác với vật lý. Có sự hỗn loạn nơi trung tâm của vật chất. Đó là yếu tố quan trọng và ngẫu nhiên cho sự chuyển đổi trong vũ trụ, trước sự nhận thức sơ sài hàng ngày của một cá nhân. Con người có thể cảm nhận sự chuyển đổi này bằng khả năng tưởng tượng để giả định một hiện thực khác song hành với thực tế. Nhận định của ông cho thấy thơ Transrealism liên hệ mật thiết với khoa học thực nghiệm. Thơ không còn là những tưởng tượng lan man, vô căn cứ hoặc hư cấu trong những hoang tưởng quá xa vời. 

Music and destruction

Mirza Ajanovic , Âm nhạc và sự phá hủy

Học Thuật.

Nhiếp ảnh gia Mirza Ajanovic nhận xét về diện nghệ thuật, Chuyển Đổi Hiện Thực là nghệ thuật thị kiến (visual art). Trình bày nhận thức cá nhân về sự thật hơn là bám sát trung thành với thực tế. Ông kết luận: Transrealism là thi ca của nghệ thuật thị giác. Ông viết:

“Bạn biết rõ: nhà thơ không bao giờ sáng tác dối,

Thực tế không thể đầy đủ, phải vượt qua sự ngụy trang

Hãy cho chúng ta biết sự thật để ánh sáng tràn ngập trí khôn

vì, nếu không, tất cả chỉ là đêm tối.“

Nhận thức đào sâu hơn bề mặt, là Chuyển Đổi Nghệ Thuật,

Qua vật lý và tâm lý quan sát thực tế chung quanh,

Quan sát thâm trầm tính hiện thực, nâng cao cường độ cảm xúc,

Diễn tả sinh động, gây ấn tượng, bằng tượng trưng,

Thẩm thấu ý nghĩa giữa ánh sáng và bóng tối,

Biểu tượng và tâm linh loài chim, ảnh chụp thần kỳ,

Nhận thức vượt ra màn che, kể cả màn tôn giáo;

Trong ánh sáng, vô hình ở một nơi bí mật,

Cư trú trong trái tim.” (2)

Thực tế, thơ Chuyển Đổi Hiện Thực chú trọng hình ảnh, tứ thơ có chất huyền ảo, tưởng tượng, để xây dựng bài thơ. Những hình ảnh được chọn lựa theo tiêu chuẩn: sắc bén, nhạy cảm, nổi bật, khiến cho bài thơ “có thể nhìn thấy”, do đó Ajanovic đã xếp vào dạng visual art.

Về thơ của Castillo đã được giới phê bình nhận định, không phải là sự biến dạng của siêu thực, nhưng là sự pha loãng, tan loãng thực tế. Hình ảnh và ngôn ngữ liên kết với huyền thoại, kỳ lạ, bóp méo hiện thực, tạo ra những ảo ảnh nhưng có thể “sờ” được. Đó là nhận định của trang mạng Cyber Humanitatis, số 25, năm 2003 về tập thơ Cantonirico (1985). Thơ ông mang tính trữ tình nhưng luôn luôn ngấm ngầm giăng câu hỏi. Tứ thơ không liên tục mà xuất hiện từng mảnh như tinh thần Hậu Hiện Đại. Người đọc dễ dàng nhận ra thế giới giả mạo mà nhà thơ tạo dựng để trình bày những hiện thực không còn có thể cảm nhận như hiện thực một cách thực tế.

Chuyển đổi hiện thực là nhận thức không dứt khoát về thực tại, có dự đoán chủ quan, có nguyên mẫu biến dạng, có lý trí cân bằng vô thức.

Con Đường Ở Upplands Vasby.

Của Sergio Badilla Castillo.

Vùng ngoại ô nơi Ricado sinh sống

Trên đường vắng tuyết rơi mịt mù.

Một bóng ma chơi vĩ cầm dưới gầm cầu nhà ga

tiếng đàn tài tình vang dội.

Tôi là người lầm lẫn giờ tàu khởi hành

mang theo hành trang nặng quá sức.

Xin các cô tha thứ nếu tôi nói điều gì sai

vì miệng tôi giữ im lặng không đáng tin cậy.

Tôi đang tìm thằng con thất lạc trong trí nó

và đã ngưng gọi tôi bằng cha

bất chấp liên hệ huyết thống

Xa lìa nhau trong thảo nguyên bao la. (3)

[…]

Học thuật về thơ Chuyển Đổi Hiện Thực bắt đầu bằng quan sát một thực tế qua vật lý và tâm lý. Quan sát thực tại một cách nghiêm túc. Nâng cao mức độ cảm xúc. Chờ khả năng diễn đạt mạnh mẽ, xuất hiện những hình tứ tượng trưng, ẩn dụ … Ý nghĩa thuần cảm qua trái tim với ánh sáng và phần bóng tối của nó.

Về mặt học thuật, Chuyển Đổi Hiện Thực pha trộn kỹ thuật của Truyện Viễn Tưởng (SF: Science Fiction) với kỹ thuật mô tả “nhận thức ngay lập tức” từ chủ nghĩa Hiện Thực tự nhiên (Naturalistic Realism). Sự phối hợp này có mục đích bổ túc những yếu điểm và kết hợp các ưu điểm của cả hai chủ nghĩa. Chuyển Đổi Hiện Thực đề cập đến sự thoát ly và đôi khi cắt đứt hiện thực bằng thực tế của khoa học tương lai. Cung cấp những đặc tính nổi bật qua tự truyện hoặc mô tả từ kinh nghiệm có thật của tác giả. Tìm đến những giải quyết tốt đẹp hơn cho tương lai. Cùng một lúc giải tỏa những mệt mỏi, nhàm chán, lập lại của phái Hiện Thực, bằng những yếu tố kỳ dị, để tạo ra những ẩn dụ tâm sinh lý phù hợp với ý niệm của tác giả. Mang đến một hiện thực cao hơn hiện thực trong thực tế. Nguồn cung cấp cho những hiện thực chuyển đổi cao hơn là những “mô hình”, những điều gì, những sự kiện, mang tính khác thường một cách khoa học.

Nhà sáng tác Chuyển Đổi Hiện Thực không nhất thiết phải am tường về khoa học hoặc kỹ thuật điện tử. Họ cũng không nhất thiết phải tin vào hiệu quả của khoa học. Họ có thể tham chiếu những khoa học mang tính ức đoán, hoặc thổi phồng, tuy nhiên họ phải tin vào luận lý, cách giải quyết, và ngụ ý bên trong, cho dù chỉ là biểu tượng.

[Tôi suy nghĩ và thử nghiệm loại thơ chuyển đổi thực tế (transreal) đưa đến nhận xét:

1- Cũng như những loại thơ không muốn công nhận thực tế là đối tượng duy nhất của thơ, hoặc hiện thực là nghệ thuật diễn đạt sự thật của thơ, như Siêu Thực, Hóa Ảo Hiện Thực, chủ nghĩa kỳ quái (fantasticism), slipstream, chủ nghĩa khoa học viễn tưởng…. Thơ Chuyển Đổi Hiện Thực cho hiện thực một vị trí bảo đảm về những gì đã chuyển đổi. Người đọc vẫn nhận ra những thực tế, thực tại như kinh nghiệm hiểu biết hàng ngày, nhưng có những tứ thơ vượt lên hiện thực với mục đích chuyển đổi thành một hiện thực mới để giải thích cho hiện thực cũ. Một thực tế ảo giải thích cho một thực tế hiện thực.

2- Sự chuyển đổi dựa trên căn bản hoặc phương tiện khoa học thực nghiệm hoặc kỹ thuật khoa học có khả năng gây ra những kinh ngạc, hoặc hữu lý trong tương lai gần. Tôi gọi là khoa học cận tưởng. Khoa học viễn tưởng đôi khi quá xa vời, sức tưởng tượng quá độ trở thành hoang tưởng, mất tính thuyết phục, mất sự bảo đảm của hiện thực.

3- Nếu không dựa vào khoa học và kỹ thuật, có thể dùng tưởng tượng từ quan sát đối tượng hiện thực, tuy nhiên sự tưởng tượng phải ở trong phạm vi có thể xảy ra hoặc có thể tin được. Nói một cách khác, Chuyển Đổi Hiện Thực không làm mất hiện thực, chỉ thay đổi hiện thực để bày tỏ những gì mà hiện thực không thể trình bày từ bản thân của nó.

4- Nếu đặt ra vấn đề biên giới giữa Chuyển Đổi Hiện Thực và Siêu Thực, phong trào kỳ quái, phong trào ma quái, phong trào thần thoại và hoang đường, câu trả lời là những biên giới này sát cận vào nhau và rất mơ hồ. Tuy nhiên, nếu sử dụng những kỹ thuật sáng tác của các phong trào khác vào thơ Chuyển Đổi Hiện Thực, phải bảo đảm những thể hiện đó nằm trong tứ phụ, không thể nổi bật hơn những tứ chính, đại diện cho chuyển đổi hiện thực.

Transrealism

Chưa Nhìn Thấy Giới Hạn.

Chuyển Đổi Hiện Thực là phong trào văn học mới phát triển trên thế giới vào đầu thập niên của thế kỷ, chưa có ai xác định được phạm vi sinh hoạt và giá trị tương lai sẽ ra sao.

Trở về lại người chủ xướng phong trào, Rudy Rucker, tuy ông nổi tiếng bởi học thuyết Transrealism thực hành qua truyện và tiểu thuyết, tuy nhiên ông cũng làm thơ. Chính ông đã cho biết qua Blog của Rudy (RudysBlog) (2019) ba bài thơ đã sáng tác từ năm 1976, thuộc về thơ Transreal Collection. Ví dụ như: Up All Night.

I could fall
I realize as
The upturned faces begin
To shake
Insanity is not a
Habit but a “jackals
Head” inside/outside the
Lambency
Imagine the hair-line cracks
Sudden black-dipt
Innards of a wind-faired
Auto laid out in
That basement with those H-2-0 trains
Back there
After graduation the cars were empty
I was searching the glove compartments
For a pint
Never mind
We started kissing with thunder coming on, yeah
thunder
.

(Thức Suốt Đêm.)

Tôi có thể ngã xuống

Tôi nhận ra

Những khuôn mặt ngửa lên bắt đầu

Lắc

Sự điên rồ không phải

Thói quen nhưng là “đầu

chó rừng” bên trong / bên ngoài

Sự ngoan cố –

Hãy tưởng tượng đường chân tóc nứt nẻ

Bỗng dưng ảo giác – tối tăm

Bên trong của cơn gió thông suốt

Tự động tuôn vào

Căn hầm với những chuyến tàu H2O

Trước kia

Sau khi cô đặc dần những chiếc xe trống rỗng

Tôi lục tìm trong ngăn chứa găng tay

một bản in

Đừng quan tâm

Chúng tôi khởi sự hôn nhau với sấm sét rền vang,

vâng, đúng là sấm sét.

Chúng ta có thể ghi nhận bài thơ này không dính dáng đến khoa học cao cấp, chỉ liên quan đến những hiểu biết bình thường như H2O và những liên tưởng mơ hồ. Có thể vì bài thơ xuất hiện trong giai đoạn sơ khai của Transrealism, cũng có thể quan điểm thơ của Rucker khác với Castillo. Khó cho chúng ta xác định trong lúc này vì chưa có đủ trải nghiệm cũng như tài liệu cập nhật. Chúng ta cũng thừa nhận, bài thơ này khó hiểu. Không cho người đọc những dấu vết để lần dò tìm ngụ ý.

Một bài thơ khác của Rucker:

Ông Jones.

Vào một mùa thu

người ta chích thuốc ngừa trước

cuộc bầu cử.

Có bốn cách giải thích hợp lý.

Hoặc là.

bây giờ một lần nữa chúng ta lướt

trên sóng của câu chuyện.

Sự tái tạo của bào tử,

Chiến tranh vi khuẩn

luôn luôn hiện diện

suốt thời gian. (4)

Có thể nhận định, thơ Chuyển Đổi Hiện Thực luôn luôn liên hệ với các ngành khoa học, y khoa, và kỹ thuật điện tử. Nhà thơ dùng những dữ kiện, tài liệu, hoặc sản phẩm để hình tứ tưởng tượng trong thơ cho người đọc cảm giác gần gũi và có căn cứ cụ thể nơi kiến thức thực tế.

Nhận định này không ngăn cản những bài thơ Chuyển Đổi Hiện Thực không liên quan đến khoa học. Theo tôi, chỉ cần một thực tế, hoặc một cụ thể vững chắc để hư cấu dựa lên sáng tác là hội đủ điều kiện. Cũng như mọi thể loại thơ, thơ hay đòi hỏi ba yếu tố: Ý nghĩa, cảm xúc và thẩm mỹ.

Chủ nghĩa Chuyển Đổi Hiện Thực thuộc về phạm vi Hậu Hiện Đại vì sử dụng những tài liệu từ khoa học hoặc kỹ thuật nhưng phát triển theo dòng văn chương kỳ lạ tiến vào thế kỷ 21.

Phong trào Chuyển Đổi Hiện Thực và thơ của nó đang di chuyển trên những con đường chưa biết sẽ về đâu. Trong ý niệm của Rucker: “Thế giới là vô lý, Chúng ta nên cười hay khóc? Tôi nghiêng về vui cười, sẽ có cảm giác tốt hơn. Cho dù, đôi khi tiếng cười thua bại và hành động tàn bạo chiến thắng. Đôi khi không còn gì ngoài nước mắt rơi.” (the world is absurd. Do we laugh or do we cry? My bent is to laugh; it feels better. But sometimes laughter loses and brutality wins. Sometimes theresnothing left but tears.)

Tôi Thử Nghiệm

Thơ Chuyển Đổi Hiện Thực.

Proventil Gặp Gió Mặn.

Dùng thuốc xịt chống suyễn nhiều năm,

vợ tôi giải thích như bác sĩ,

thuốc làm cơ bắp khí quản nở ra,

thay vì teo lại gây khó thở.

Dùng thuốc xịt Proventil lâu ngày,

vợ tôi nghiệm thấu một chuyện,

tình yêu dùng để hít vào,

thay vì thở ra,

dùng để khoan khoái

thay vì phiền muộn.

Hôm ở đảo, giữa gió mạnh, nàng xịt thuốc hai lần.

Gió tống thuốc vào phổi, sặc sụa.

Đêm hôm đó, vú nàng nở lớn dị thường.

Từ hai chén trở thành hai bát sứ,

trưng tủ gương, nội cấm không được sờ.

Tuy kinh ngạc nhưng vô cùng thích thú.

Chẳng phải là điều tôi mơ ước hay sao?

Đến gần khuya, vú bềnh bồng đầy cảm xúc,

phồng trẻ em lén nh chị láng giềng.

Khi trăng lặn, vú lớn hơn cả vú mẹ,

trồi hai tầng như căn nhà trên đồi cao.

Tôi khám nghiệm suốt đêm đến gần sáng.

Ngủ thiếp trong cảm giác rành rẽ vú đàn bà.

Khi thức dậy,

vợ đang pha cà phê,

thấy đôi vú bình thường qua áo mỏng.

Vợ nói:

Không biết sao ngực đau?

Sao tôi vừa ngủ vừa thức vừa cười lớn tiếng?

Không trả lời, tôi hỏi, đã xịt thuốc suyễn chưa?

Ghi:

(1) DREAM OF A NECROMANCER

At that time I had the necromancersdelirium who discovers

a village under the ground of the desert.

Caustic stonewalls devastated by the sand

confused mommies similar to my dim father.

It was not the innocence that infiltrated the doubt

but the mirage that the death causes.

I moved away towards the desert

to listen the strength of my pain prattle back in the wasteland.

I rambled over the plain and I spent whole nights

watching at the stars.

Days of absolute dogma in the plain

clues that shone on the limestone stone

in a landscape at the edge of the miserable land:

Were perhaps my brothers there or perchance my enemies?

or maybe my father on a beetleshaunches

fleeing (moving about without a definite destination)

around the severity of the universe.

(2)

‘You know this well: the poet never lies,

The real is not enough; through its disguise

Tell us the truth which fills the mind with light

Because, without each other, all is night.

Perception beyond Appearances, Transcendental ART,

Observation of physical and psychological reality,

Acutely observed realism; brought a new level of emotionalintensity,

Strong, dramatic expression, Symbolism,

Masterful Meanings in Light and Shadow,

Bird Symbolism and Spirituality, Mystical Photography,

Perception beyond any veil; including the veil of religion;

‘In Its light, invisible in a secret place,

In the heart It resides.

(3) Una calle de Upplands Vsby

(A Ricardo Donoso)

En el suburbio donde vive Ricardo

los copos de nieve se derrumban como ciegos en la calle desierta.

Un fantasma toca su violín bajo el puente de la estación

con plenitud maestra.

Soy yo el que se equivoca de época de y de trenes

con estas maletas que pesan una tonelada.

Perdónenme seorassi dije algo impropio

porque es mi boca la que no calla en un imponderable silencio.

Busco a un hijo que ser extravió en su memoria

y dejó de llamarme padre

aunque la sangre es ligadura y las

distancias separan en la inmensidad de la estepa.

[…]

Bản dịch: Roger Hickin. Nhà thơ Tân Tây Lan, nghệ sĩ tạo hình. Nhà xuất bản.

A street in Upplands Vsby

(for Ricardo Donoso)

In the suburb where Ricardo lives

snowflakes fall blindly in the deserted street.

A phantom violinist under the station bridge

plays with masterly intensity.

Imthe one who gets his epoch and his trains wrong

with these suitcases that weigh a ton.

Forgive me ladies if Ivesaid something improper

my mouth just wontstay shut in imponderable silence.

Imlooking for a son who got lost in his memory

and ceased to call me father

despite blood ties and

distances that divide in the steppesimmensity.

[…]

(4) Mr. Jones

One fall the

people were vaccinated before the

Election.

There are four plausible interpretations.

Or were.

Now we are again singularities surfing

on the wave of story.

Spore replication,

Virus wars,

it was there all

the time.

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)