Trang chính » Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định, Phê Bình, Sáng Tác, Thơ Email bài này

Quan Sát Thơ Thế Kỷ: “As For Poets” (“Nói Về Thi Sĩ”) của Gary Snyder

0 bình luận ♦ 28.03.2019

Gary Snyder
Nhà thơ Gary Snyder

Quan sát thơ: Một cách chuyện trò với bản thân và những nhân vật tưởng tượng. Cuộc tương luận thầm lặng kéo dài sau khi bài thơ chấm dứt. Bài thơ càng mang nhiều tranh cãi càng có giá trị; càng gây nhiều nghi vấn càng gia tăng chiều sâu; càng gợi nhiều ý càng say sưa hư cấu.

Ngày nay, từ Đông sang Tây, người làm thơ nhiều hơn người đọc thơ. Người làm thơ đạt tiêu chuẩn như lá vàng giữa mùa xuân, đang bị xanh tươi chèn ép từ từ rơi khỏi cành, hoặc sống sót cô đơn cô lập không giống lá mùa xuân. Vì sao xanh tươi lại tệ bạc với vàng khô? Vì hầu hết thơ vạch trần sự sống hời hợt và mê muội.

Khiến cho thú tìm đọc thơ hay như kẻ phiêu lưu giữa bơ vơ bất chợt nhìn thấy dấu tích của kẻ bơ vơ khác.

Quan sát thơ hay như xem một đoạn phim lôi cuốn, động lòng, chiếu chồng lên đoạn phim của bản thân, khiến hình ảnh trên màn hỗn loạn, nhưng bất ngờ tạo ra ý nghĩa. Rồi sau khi chấm dứt, từ từ, một lúc nào đó, cả hai đoạn phim nhập lại chiếu thành một đoạn phim khác mà bản thân đóng vai chính hoặc đạo diễn.

Quan sát thơ là hành động chống lại cô đơn bằng cô đơn; chống lại trống rỗng bằng nhìn nhận trống rỗng. Một trong vài tác dụng lớn của thơ là điềm chỉ cho người đọc tiến về hướng nhận xét sâu sắc, tư duy thâm trầm, quen dần những phi lý rồi bình thường hóa những phức tạp.

Quan sát thơ hay là một thú sống thoải mái xây dựng lòng tự tại.

Quan sát:

As for poets [Đối với thi sĩ]
The Earth Poets [Những thi sĩ thuộc Đất]
Who write small poems, [Viết những bài thơ ngắn,]
Need help from no man. [Không cần ai giúp.]

The Air Poets [Những thi sĩ thuộc Khí]
Play out the swiftest gales [Phát ra những ngọn gió nhanh]
And sometimes loll in the eddies. [và đôi khi cuốn theo cơn lốc]
Poem after poem, [Thơ tiếp nối thơ]
Curling back on the same thrust. [Xoắn ngược vào hướng gió thổi.]

At fifty below [Dưới 50 độ]
Fuel oil won’t flow [Dầu xăng không chảy]
And propane stays in the tank. [Gas đọng trong bình.]
Fire Poets [Những thi sĩ thuộc Lửa]
Burn at absolute zero [Cháy ở độ 0 tuyệt đối]
Fossil love pumped backup [Tình yêu hóa thạch muốn được bơm dự trữ.]

The first [Đứng đầu]
Water Poet [Thi sĩ thuộc Nước]
Stayed down six years. [Ở dưới sâu sáu năm.]
He was covered with seaweed. [Bị rong biển bao phủ]
The life in his poem [Đời sống trong thơ họ]
Left millions of tiny [Ghi lại hàng triệu]
Different tracks [Đường vết li ti khác nhau]
Criss-crossing through the mud. [Đan dệt trong bùn.]
With the Sun and Moon [Với mặt trời và mặt trăng]

In his belly, [trong bụng,]
The Space Poet [Thi sĩ Không Gian]
Sleeps. [Ngủ.]
No end to the sky — [Bầu trời vô tận]
But his poems, [Nhưng thơ của ông]
Like wild geese, [Như bầy ngỗng hoang]
Fly off the edge. [Bay khỏi chân trời.]

A Mind Poet [Thi sĩ Tâm Trí]
Stays in the house. [Ở trong nhà.]
The house is empty [Nhà trống rỗng]
And it has no walls. [Không tường vách]
The poem [Bài thơ]
Is seen from all sides, [Thấy được từ mọi phía,]
Everywhere, [Khắp nơi]
At once. [Ngay lập tức.]

 

Dịch:

Nói về thi sĩ [1]
những thi sĩ Đất
viết nhiều thơ ngắn,
không nhờ cậy ai. [2]

Những thi sĩ Khí
viết những gió vùn vụt
đôi khi thành lốc xoáy
thơ cuồn cuộn thơ
Xoắn ngược thổi theo gió. [3]

Xuống dưới 50 độ
dầu xăng ngưng chảy
gas đọng trong bình.
Những thi sĩ Lửa
cháy ở độ lạnh tuyệt đối
bơm tình yêu hóa thạch vào dự trữ. [4]

Dẫn đầu
thi sĩ Nước
sáu năm lặn dưới sâu
giữa rong biển bao phủ.
Đời sống trong thơ
ghi lại
hàng triệu đường li ti
đan dệt nhau trong bùn. [5]

Mang mặt trời mặt trăng
trong bụng,
thi sĩ Không Gian
ngủ say.
Trời bao la vô tận
còn thơ
như bầy ngỗng hoang
bay ra khỏi chân trời. [6]

Thi sĩ Tâm Trí
sống trong nhà.
Căn nhà trống rỗng
không tường vách.
Từ khắp nơi
từ mọi hướng
đều nhìn thấy bài thơ
tức khắc. [7]

 

“Thi sĩ là ai? – Một người không hạnh phúc, che giấu nỗi khổ đau sâu đậm trong tim nhưng đôi môi được sinh ra để tiếng thở dài, tiếng khóc, tuôn qua nghe như khúc nhạc kỳ diệu”. (Soren Kierkegaard.)

Gary Snyder (1930- ) là nhà thơ am tường về văn hóa, triết học và văn chương Đông Phương, nhất là Trung Hoa và Nhật Bản. Ông là một trong những nhà thơ nổi tiếng về thể thơ Tân Hài Cú hoặc “Hài Cú Tây Phương”. Một nhà thơ thành danh tham dự vào phong trào thơ The Beat và phong trào thơ Phục Hưng tại San Francisco. Được mệnh danh là thi sĩ công huân về Sinh Thái (poet laureate of Deep Ecology). Giải Pulitzer về thi ca 1975. Giải American Book 1984. Giải thi ca Bollingen 1997. Giải thơ Ruth Lilly 2008. Thành viên của California Arts Council.

Tựa đề trực tiếp cho biết thi sĩ sẽ nói về thi sĩ. Thoạt nhìn, cảm tưởng rất bình thường, có lẽ là tầm thường, nhưng nếu đặt lại câu hỏi: Tại sao thi sĩ lại giải thích, phân định, lý luận về thi sĩ? Phải chăng vì thi sĩ khó hiểu? Hoặc có sự lầm lẫn nào khiến cho họ muốn biện minh?

Trong văn hóa và ngôn ngữ Việt, có sự phân biệt rõ rệt giữa người làm thơ, nhà thơ và thi sĩ. Làm thơ, ai cũng có thể làm. Nhà thơ là người làm thơ được số đông quần chúng không quen biết công nhận bởi họ có những bài thơ, tác phẩm được công chúng yêu chuộng. Thơ của họ được đăng tải trên báo chí, tạp chí văn học, tuyển tập có trình độ, bởi những chủ bút, chủ biên, biên tập viên nổi tiếng có sở học và có vị trí xác định trong văn trường. Giữa nhà thơ và người làm thơ có một thể loại không chính thức, tạm gọi là “ Tiền thi nhân” (trước khi trở thành nhà thơ đúng nghĩa). Họ được công nhận và ca ngợi bởi bằng hữu và người quen. Thơ đăng ở những nơi phi văn học hoặc được đăng tải phát hành nhờ quen biết, hoặc bởi sự lựa chọn thiếu sở học và kém kinh nghiệm của người chủ trương. Thậm chí, họ được trang hoàng bằng những giải thưởng văn chương bởi ưu thế chính trị, kinh tế, xã hội hơn là vì tài năng.

Thi sĩ là “kẻ sĩ” làm thơ. Sĩ là từ ngữ Việt trao tặng cho những người có mức độ học hành cao cấp, có khả năng hiểu biết chuyên môn và tổng quát, có sở kiến, sở luận, và sở học được công nhận bởi giới hàn lâm và bình dân, như bác sĩ, tiến sĩ… Tuy nhiên, cao hơn bằng cấp, cao hơn trình độ học vấn, văn hóa Việt xác định chữ “sĩ” trong nghĩa “sĩ khí” mà người ta thường lầm lẫn với “sĩ diện.” Khí của kẻ sĩ, nôm na, là lòng tự trọng đối với bản thân và xã hội, lịch sử. Ý thức mục tiêu và việc làm. Không làm văn học một cách hèn hạ. Không làm văn chương kiểu mất tư cách. Không gây phương hại đến tha nhân và môi trường. Ví dụ, người làm thơ hoặc in tác phẩm văn chương có hại cho nền văn học, không thể là thi “sĩ”. Làm thơ nịnh nọt uy quyền, tung hô vạn tuế, không thể là thi “sĩ”. Quan điểm này tuy phổ quát dễ hiểu nhưng trong thực tế người ta thường lơ là, thường lầm lẫn khen ngợi.

Trong thập niên 1980, trên văn đàn hải ngoại, Văn Lang thi sĩ (Nguyễn Bá Trạc) và Thanh Long văn sĩ (Vũ Huy Quang) đã đăng tải một loạt bài đối thoại dưới hình thức viết thư mang nội dung phiếm luận, đã xác nhận, thi sĩ là một danh phận không cần bằng cấp, không cần sở học, chỉ cần làm thơ và quen biết các chủ bút, chủ báo và những nhà phê bình hạng thấp, nhất là, nếu có tiền cung phụng, tự dưng sẽ trở thành thi sĩ, văn sĩ. (Xem tạp chí Văn Học, báo Người Việt, 1979-1985.) Tiền thi nhân (tiền văn sĩ) là những người thông thường có ý đồ và hành vi tự đánh bóng bản thân quá khả năng sáng tác, bị người khác xem thường, làm vạ lây đến những nghệ sĩ sáng tác chân chính. Không phải chỉ thơ văn hải ngoại có vấn nạn này, trong nước cũng vậy, ở khắp thế giới đều có. Gary Snyder muốn phục hồi và trình bày chân diện thi sĩ thật sự qua một số khuôn mặt khác nhau bằng những chi tiết ẩn dụ.

Bài thơ chia làm 7 đoạn hoặc 7 mô hình diễn đạt với mô hình đầu tiên chỉ có một câu khai cuộc: Nói về thi sĩ.

Mô hình diễn đạt là gì? Theo truyền thống, văn học phân chia cấu trúc bài thơ theo tứ thơ, ý thơ, ngữ pháp, câu, đoạn và nhóm. Bài thơ xây dựng từ những thành phần rời, được ráp lại. Đầu thế kỷ 21, cấu trúc thơ được nghiên cứu như những mô hình diễn đạt nhỏ chồng chất lên nhau tạo thành mô hình lớn là bài thơ. Mô hình diễn đạt là một khối hoàn tất ý nghĩa dùng làm ẩn dụ đại diện cho một nội dung bao gồm từ ngữ, cú pháp, phong cách, ẩn dụ, tứ và ý. Nhìn cách phổ thông, mô hình diễn đạt là một hệ thống bao gồm tất cả những gì sinh hoạt với nhau, có khả năng mô tả, giải thích, lý luận, thuyết phục… ý nghĩa của điều tác giả muốn nói. Mô hình văn chương bao gồm khả năng truyền đạt thẩm mỹ từ hình thức đến nội dung. Nội dung mô hình như một bức tranh, không nhất thiết theo thứ tự trình bày của hệ thống ngôn ngữ. Tất cả những thành phần bên trong mô hình tương tác mật thiết với nhau hoàn thành một ý nghĩa nào đó.

Bài thơ nói về sáu loại thi sĩ có cá tính và tài năng khác nhau: Thi sĩ Đất, Khí, Lửa, Nước, Không Gian, và Tâm Trí.

Phân tích theo thứ tự tạo hóa, Đất, Nước, và Lửa là những thành tố đầu tiên tạo ra Khí, thành lập Không Gian cho sự sống. Sau đó, mới đến tầm quan trọng của Tâm Trí. Snyder muốn trình bày diễn tiến của thi ca đi từ lúc ban sơ cho đến khi trưởng thành. Thơ trải qua nhiều giai đoạn, càng về sau càng nặng phần tâm tư và trí tuệ. Khả năng và hiệu quả sáng tác của thi sĩ thay đổi theo từng thời đại. Tư tưởng là sản phẩm từ tâm trí nhưng không phải là khả năng sáng tác. Thi ca đương đại được thành hình bởi khả năng sáng tác do tâm trí chủ lực, tư tưởng và cảm xúc đóng vai phụ.

Snyder dành vị trí ở chặng đường sau cùng cho thi sĩ Tâm Trí, trong mô hình diễn đạt đương đại. Con người thời nay thường xuyên tiếp xúc với người chung quanh và xã hội nhưng thật ra họ cô đơn và cô độc. Khi một mình trong căn nhà, đối diện với truyền hình, máy computer, internet, điện thoại di động… họ hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài. Họ cô độc dù có thể có gia đình chung đụng. Thi sĩ thời nay không lang thang, không đi mây về gió, không đích thân truy lùng những nơi xa lạ, tìm kiếm những kinh nghiệm dị thường, mà ẩn thân trong căn nhà suy tưởng, tu tập sở học, thâu nhận kiến thức, theo dõi tình hình địa phương, thế giới, khoa học, nghệ thuật, nhân văn…, chiêm nghiệm đời sống chung quanh và đời sống xa xôi ngàn dặm qua mạng lưới. Ở nhà nhưng là căn nhà trống rỗng, không tường vách ngăn chận, không ràng buộc vào hoàn cảnh, tự do và trong suốt để thơ được đời sống nhìn thấy một cách dễ dàng.

Lấy mô hình thứ bảy này làm ví dụ:

 

image

Mô hình này bao gồm hai mô hình nhỏ. Mỗi mô hình nhỏ hàm chứa mỗi tứ thơ. Có thể nhìn như hai cảnh trong một bức tranh hoàn tất ý nghĩa. Những thứ tự của tứ thơ, những chùm ảnh liên hệ với nhau, những câu thơ đủ nghĩa … có thể thay đổi vị trí mà không thay đổi nội dung của mô hình chính.

Khái niệm này dẫn đến học thuật sáng tác thơ. Truyền thống sáng tác dàn trải tứ và ảnh theo thứ tự cú pháp, đường ngang từ trái sang phải (ngôn ngữ dòng ABC…) hoặc như Trung Hoa, viết từ phải qua trái, từ trên dọc xuống dưới. Sáng tác thơ ngày nay trình bày trong dạng mô hình, không nhất thiết phải theo thứ tự. Trình bày bất cứ như thế nào, miễn diễn đạt được điều muốn nói. Khi nhìn vào mô hình toàn diện của một bài thơ, sẽ thấy rất nhiều mô hình nhỏ và trong mô hình nhỏ có những mô hình nhỏ hơn. Như nhìn vào bức họa, những hình vẽ không cần tuân theo thứ tự thời gian hoặc không gian, thậm chí, không cần theo luật viễn cận. Miễn vị trí của hình vẽ có thể trình bày thẩm mỹ và gợi ý hoặc biểu lộ ý nghĩa cho toàn bức tranh.

Ví dụ:

image

Snyder mô tả sở thích và sở trường của mỗi loại thi sĩ, ví dụ thi sĩ Lửa, nguồn thơ không bao giờ cạn, dù ở độ 0 tuyệt đối, lạnh cùng cực, vẫn cháy. Càng thất bại, càng thất vọng, càng đau khổ, thơ càng hay. Thi sĩ Nước ẩn nhẫn ở một nơi sâu lắng, âm thầm làm thơ ghi nhận đời sống qua từng chi tiết. Vai trò của thi sĩ Nước quan trọng cho văn học vì họ tập trung sáng tác vào nghệ thuật văn chương. Snyder cho họ đứng vị trí dẫn đầu. Thi sĩ Gió làm thơ nhanh, bất chợt theo hứng khởi. Phải chăng Bùi Giáng nói ra thơ, hạ bút thành thơ? Thi sĩ Không Gian, dường như thơ của họ rất quen thuộc. Thơ có trời có đất, nói kiểu Mai Thảo. Ngôn ngữ ngỗng hoang chở ý tứ bay ra ngoài giới hạn là ẩn dụ cho hầu hết thơ hay trong thế kỷ 20.

Gary Snyder trình bày những nét nổi bật của sáu loại thi sĩ trong quan điểm sự khác biệt của thơ là do cá tính của thi sĩ. Những cá tính tương tựa hoặc đồng dạng có thể tập hợp thành sáu nhóm chính. Lấy những yếu tố Nước Lửa Khí… làm ẩn dụ đại diện. Cá tính và nhịp sống là hai yếu tố tạo ra phong cách đặc thù của thi sĩ. Thiếu cá tính, thơ nhạt nhẽo. Thiếu nhịp sống, thơ hấp hối.

Bài thơ As For Poets không có nhiều lớp ý nghĩa, diễn đạt theo kiểu liệt kê. Ý định của tác giả thể hiện khá rõ ràng. Bài thơ cũng không có kết luận. Để mỗi người đọc tiếp tục suy nghĩ về thi sĩ. Có lẽ, hơn ai hết, chính người làm thơ, cần tự hỏi, phải chăng mình là thi sĩ?

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)