Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Biên Khảo, Tiểu luận Email bài này

Thơ ca của sự phủ định và sự phủ định thơ[1]

3 bình luận ♦ 22.10.2012

 

 

 

Những câu hỏi

Dù ai đó có thể hình dung một đường ranh giới khắc nghiệt giữa nhà chính trị và nhà thơ, thơ ca vẫn thường được sử dụng vào mục đích đấu tranh chính trị. Mối giao kết đầy tiềm năng, cùng lúc với những rủi ro, nguy hiểm của thơ ca và chính trị có thể được lí giải từ nhu cầu mãnh liệt được tham dự vào đời sống xã hội của nhà thơ, và từ sự tồn tại của thơ ca, không phải bởi khả năng đồng hành với các sự kiện nóng hổi, mà bởi khả năng chia sẻ những mối quan tâm thiết thân của một cộng đồng. Ở thời đại của chúng ta, các nhà nghiên cứu, phê bình văn chương và cả người sáng tác dường như muốn đẩy xa hết cỡ chiều rộng và chiều sâu của mối quan hệ thơ ca và chính trị, theo đó, cụm từ tính chính trị dường như đang trở nên hấp dẫn đến nỗi tất cả thơ ca đều có thể mang tính chính trị theo nghĩa nào đó, chỉ bằng việc mang lại một ý tưởng mới, một quan niệm mới, một cách nhìn mới với độc giả. Đó có phải là một áp đặt chủ quan, hay là một kì vọng vào sự tham dự của thơ ca trong cuộc sống thực của con người, bất kể tác giả có chủ ý hay không? Điều rõ ràng là, việc đẩy xa (hay là quy giảm?) tính chính trị của thơ ca đã đem lại những thách thức không nhỏ cho việc cắt nghĩa và sử dụng từ này: không chỉ bản thân quan niệm về “tính chính trị” luôn thay đổi giữa các cá nhân, việc đọc ra một bài thơ có tính chính trị hay không đã không (chỉ) còn liên quan tới chủ ý của nhà thơ thể hiện qua văn bản mà liên quan nhiều hơn tới cách diễn giải về ý nghĩa và sự tham dự chính trị của tác phẩm với rất nhiều hướng tiếp cận chính trị học văn hóa khác nhau. Người ta đã không còn nhìn vào đề tài hay thái độ của tác giả để đánh giá tính chính trị của thơ ca: từ những bài thơ, chẳng hạn, chống chiến tranh, kêu gọi, vận động, yêu cầu, đề nghị, nỗ lực khám phá hiện trạng xã hội, ca ngợi, khẳng định một ý thức hệ nào đó, vẽ ra viễn tượng tới những bài thơ riêng tư, không đề cập tới bất cứ câu chuyện lớn lao nào đều có thể mang tính chính trị khi nó khám phá mối quan hệ quyền lực trong đời sống con người. Phải chăng, nếu ai đó từng nỗ lực dán nhãn lên một mảng thơ ca là “thơ chính trị” như một mảng thơ chuyên biệt (cách gọi này vẫn rất phổ biến, có thể người ta vẫn thích những phân loại rành mạch như vậy?), với hàm ý đồng nhất rằng nó mang tính chính trị mạnh mẽ và trực diện, cũng đồng thời người ta đặt lên nó một cái nhìn đầy thành kiến: hoặc nó đáng giá vì liên đới trực tiếp tới các vấn đề chính trị, được cho là các vấn đề lớn, thuộc mối quan tâm của chỉ một số người nào đó, hoặc nó bị coi là “ít chất thơ”, “ít phẩm tính văn chương” vì câu nệ vào đời sống thực? Như thế, theo một cách nhìn nào đó, cái gọi là thơ chính trị bị loại trừ khỏi sự thẩm định theo các tiêu chí văn chương và cần đến một tiêu chí riêng để đánh giá? Một cách cá nhân, tôi trước hết muốn gạt bỏ nỗ lực khuôn hẹp một mảng thơ ca là thơ chính trị cũng như nỗ lực đưa ra chuẩn đánh giá cho nó. Việc gọi tên thơ chính trị tôi không nghĩ còn lí do để tồn tại nếu chúng ta thừa nhận thơ ca có tính chính trị một cách phổ quát, hay nếu chúng ta kì vọng tính chính trị như một phẩm chất tiềm năng của tất cả thơ ca và nghệ thuật, nếu chúng ta coi chính trị không phải là một cái gì siêu hình hoặc là một quan tâm chuyên biệt của chỉ một số người nào đó. Tất nhiên luôn phải cảnh giác việc khẳng định mọi thơ đều có tính chính trị nằm trong bản thân thế giới thơ, hoặc cào bằng mọi cảm xúc cá nhân và diễn ngôn chính trị, nhưng dường như chúng ta đã quá thiên vị các mối quan tâm chính trị khiến cho mỗi khi thơ ca bộc lộ sự kết nối rõ ràng với các chủ đề chính trị, người ta lại đặt ra những dấu hỏi.

Khi không cho rằng thơ chính trị là một cách định danh cần có, dường như có gì đó nghịch lí khi tôi thực sự băn khoăn về sự nở rộ của cái gọi là thơ chính trị − với ý nghĩa phổ biến mà tôi muốn bỏ qua − trong thơ Việt hôm nay. Dường như có một niềm tin lan tỏa rằng các nhà thơ Việt Nam hôm nay phải tự ý thức về trách nhiệm tham dự xã hội của thơ ca, và do đó, thơ Việt Nam hôm nay, ở bộ phận có ý nghĩa tham dự nhất, là bộ phận thơ mang chủ ý chính trị rõ ràng của tác giả, thể hiện sự lựa chọn, sự ủng hộ “đúng đắn” về chính trị, chống lại những thứ thơ ngủ quên trong sự điều kiện hóa của ý thức hệ bảo thủ và cũng khác biệt hoàn toàn với những dạng thức thơ “phi chính trị” khác. Mảng thơ không xuất hiện trên báo chí và các ấn phẩm chính thống này chủ yếu tập trung phản ánh các sự kiện nóng hổi của đất nước, bày tỏ phản ứng, thái độ của tác giả, có ý hướng gây tác động về nhận thức chính trị của người đọc, thường được đính kèm với thái độ phản kháng của nghệ sĩ nhằm đòi tự do ngôn luận, chống kiểm duyệt, lên tiếng trước những bất công, những đàn áp với nhân dân, và cuối cùng, thường được quy giảm trong cụm từ thơ bất đồng chính kiến. Khoan đưa ra những bàn luận cụ thể về tác giả, tác phẩm và đánh giá về phẩm chất văn chương của mảng thơ này, ở đây, tôi băn khoăn về chính ý nghĩa tham dự mà nó chủ ý hướng tới. Thơ bất đồng chính kiến có những phương cách tồn tại và gây ảnh hưởng như thế nào trong đời sống văn chương? Có thể lý giải thế nào về sự bùng phát của mảng thơ này trong đời sống văn chương ngầm ở Việt Nam đương đại? Điều gì khiến cho thơ bất đồng chính kiến có thể là một giá trị đóng góp vào bức tranh văn học ở nơi này và chỉ được quan tâm như một dấu chỉ của tình hình xã hội ở nơi khác? Liên quan tới chủ đề này là nhu cầu xây dựng một không gian công văn chương và câu hỏi về nhận thức về tính chính trị của một người làm nghệ thuật ở Việt Nam đương đại. Những quan sát và luận bàn dưới đây của tôi dường như mang chứa nhiều câu hỏi hơn là việc đưa ra những khẳng định chắc chắn về mảng thơ này.

 

Bóng ma của quá khứ

Thực tế thì, tiếng nói bất đồng chính kiến với thể chế đã bắt đầu từ những nhà thơ “trong hệ thống” chứ không phải những mũi tên từ bên ngoài, từ “những phần tử chống phá Đảng”. Có một mảng thơ hậu chiến của những người đã từng là người lính cụ Hồ, bày tỏ tâm lý vỡ mộng thời hậu chiến, cả nỗi thất vọng về giá trị thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa mà họ từng theo đuổi lẫn những dằn vặt về cuộc chiến vừa qua, những phản tỉnh về chiến tranh khắc nghiệt và số phận đau đớn của nhân dân, nỗi lo âu về tình hình đất nước, và nhu cầu được nói sự thật như một biểu hiện tự ý thức chính đáng của người làm thơ và tự thân thơ ca. Sự thống trị của “thơ Cách mạng” trong ba mươi năm 1945-1975, với dạng thức chủ yếu là trữ tình chính trị, với giọng điệu ngợi ca và những chủ đề chính được cụ thể hóa bằng nội dung tuyên truyền cho những đòi hỏi trong từng giai đoạn, như thơ chống Pháp, thơ góp phần xây dựng xã hội chủ nghĩa, thơ chống Mỹ, thơ giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc, ca ngợi Đảng, ca ngợi Hồ chủ tịch, cổ vũ chiến đấu, với nhiều khẩu hiệu từng là kim chỉ nam cho sáng tác như “văn học nghệ thuật là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, văn học “phục vụ chiến đấu, phục vụ công nông binh”, “phục vụ cuộc đấu tranh thống nhất đất nước”, bị phá vỡ. Một bài thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên, viết năm 1987, có thể đọc như một sám hối đau đớn, trực tiếp đề cập tới vụ thảm sát kinh hoàng những người lính vô tội trong chiến dịch Mậu Thân mà những câu thơ cổ vũ của ông đã góp phần can dự vào tội lỗi lịch sử ấy:

Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó ?
Tôi!
Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.

(Ai? Tôi!)

Trong cơn hưng phấn của thời kì Đổi Mới, được khuyến khích nói sự thật, các nhà thơ gắn bó lâu dài với cuộc chiến tranh, với chế độ dường như tìm thấy lại mình trong một vai trò mới: từ ngợi ca, tuyên xưng ngoa dụ một ý thức hệ độc tôn, thơ chuyển sang phê phán, phản biện xã hội, từ chỗ tuân thủ nguyên tắc thơ ca “đại chúng hóa” tới nỗ lực chống lại việc quy thuận dàn đồng ca “vần vè”, với những tác giả tiêu biểu như Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo hay những thế hệ người lính trẻ hơn như Đỗ Trung Quân. Cuộc đối thoại với những người chủ chốt trong hệ thống quyền lực của nhà nước, như bài thơ dưới đây của Thanh Thảo, cho thấy niềm lạc quan và sự tin tưởng vào chế độ:

BÀY TỎ

Kính gửi đồng chí Nguyễn Văn Linh

Có những khi cực kỳ mệt mỏi
hay là thôi, đồng chí Nguyễn Văn Linh ơi!
những con gà trống trong thơ Neruda
xin đừng gáy nữa.
Nhưng gáy lên báo hiệu bình minh
là bản chất gà trống
đừng thiến chúng tôi, hỡi những người bạn đầy tham vọng
chúng tôi không thể béo quay trên bàn thờ đầu xuân
Dù những con gà trống không gáy lên
thì bình minh cứ tới
những con gà trống nào mệt mỏi
hãy lùi ra!
Chúng ta đã căng ngực mình trước làn đạn quân thù
chính chúng ta
không thể nhìn được nữa
Vì Tổ quốc ta đổi mới
chúng tôi xin hiến tiếp đời mình.[2]

Nhu cầu thay đổi từ chỗ chính trị là cái được chỉ định, được định hướng của một giai đoạn văn học mang nặng tính minh họa tới tiếng nói chính trị của cá nhân đã dẫn tới ý thức tự phủ định chính quá khứ mình của một thế hệ các nhà thơ đã từng phục vụ tuyệt đối cho ý thức hệ chính thống.[3]

Nhưng ngắn ngủi như “Mùa xuân Bắc Kinh”, thời kì Đổi Mới hưng phấn[4] trong văn nghệ đã nhanh chóng đi vào thoái trào. Từ phản kháng với ý nghĩa bất đồng chính kiến với chế độ cộng sản xuất hiện từ sau thời kì này, ban đầu là cách các tác giả Việt Nam hải ngoại gọi những hiện tượng nhà văn trong nước như Dương Thu Hương, ở trong nước gọi là “Nhân Văn 2”[5], những nhà văn tỏ thái độ không theo chỉ thị và đường lối, đồng thời bứt ra ngoài ý thức thẩm mĩ có tính chất hiện thực xã hội chủ nghĩa, sau được dùng nhiều cho các hiện tượng văn chương bất đồng chính kiến nói chung, không kể trong nước hay hải ngoại. Những bất hòa khó thương thỏa giữa một bên là nhu cầu được nói sự thật và sống trong sự thật hiện trạng đất nước và một bên là sự kìm kẹp của ý thức hệ và không khí bức bối về mặt sáng tạo văn hóa kéo dài cho đến ngày nay. Những cuốn sách bị cấm. Những bi kịch thơ ca – chính trị không thể kể hết, từ số phận của các nhà thơ Nhân Văn – Giai Phẩm những năm 1950 ở Miền Bắc, hệ lụy tới nhà thơ lớp sau như trường hợp Hoàng Hưng, người vì không chấp nhận chế độ Cộng sản mà bị bỏ tù như Nguyễn Chí Thiện, những nhà thơ miền Nam là người lính Cộng hòa bị bỏ tù dưới chế độ mới như Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ…, những nhà văn Việt Nam sống ở hải ngoại bị ngăn nhập cảnh, và hàng năm vẫn có thêm những nhà văn, nhà báo Việt Nam nhận giải thưởng thường niên Hellman – Hammett, giải thưởng được trao cho các nhà văn trên khắp thế giới là nạn nhân của đàn áp chính trị hoặc lạm dụng về nhân quyền, trong cuộc đấu tranh cho tự do ngôn luận và nhân quyền ở Việt Nam. Những người “tử vì đạo” này mở đường cho một giai đoạn khác của tinh thần phản biện của thơ ca trong đó, khi ý thức phản biện, tự phủ định của thế hệ nhà thơ − chiến sĩ đã im vắng dần, chính là lúc tiếng nói bất đồng chính kiến rõ rệt với mục tiêu phủ định thể chế và ý thức hệ chính thống cất lên mãnh liệt. Hàng loạt các nhà thơ ở nhiều độ tuổi, từ thế hệ sinh vào thập niên 1950 tới những nhà thơ trẻ hơn, sinh vào khoảng những năm 60, 70, 80 của thế kỉ trước, với nhiều trải nghiệm lịch sử khác nhau, được gọi tên như những nhà thơ phản kháng, như Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng, Phan Bá Thọ, các nhà thơ nhóm Mở Miệng, hay nhiều nhà thơ khác xuất bản trên Tiền Vệ hay Damau, sống ở trong nước hay hải ngoại. Khác biệt về chủ đề, cách thể hiện và tiềm năng gây ảnh hưởng, bao quát là sự chuyển đổi từ ý thức phản tư để xây dựng sang ý thức phê phán để lật đổ, từ nỗ lực nói sự thật tới cảm hứng phủ định triệt để, một nỗ lực “thay máu”, sẵn sàng thách thức và phá hủy trong cảm giác hư vô chủ nghĩa là điều có thể quan sát thấy.

Chủ yếu mảng thơ bất đồng chính kiến này là những tiếng nói chống lại sự đàn áp tự do và kêu gọi cho dân chủ, đặc biệt tấn công vào những (niềm tin) giá trị của quan điểm chính thống, gắn với quyền lực của nhà nước và cùng với nó, những quan điểm và những tác giả, tác phẩm văn chương được vinh danh, được bảo lưu thông qua giáo dục trong trường học và cơ chế ứng xử văn hóa ở Việt Nam. Chủ đề giải thiêng hình tượng Hồ Chí Minh, chống lại sự thống trị dai dẳng của “tư tưởng Hồ Chí Minh”, phê phán chế độ cộng sản, bình luận và giễu nhại về hiện thực xã hội chủ nghĩa của Bùi Chát, Lý Đợi, Nguyễn Viện, Nguyễn Đăng Thường, Trần Tiến Dũng, Phan Bá Thọ…, những chuyên đề thơ xoay quanh các sự kiện Hoàng Sa, Trường Sa và các cuộc xuống đường của văn nghệ sĩ cùng các anh em dân chủ chống Trung Quốc (tiêu biểu là năm 2007 và năm 2010) tập họp thành một chủ đề chính trị rộng khắp của thơ ca, không phân biệt các nhà thơ trong nước hay hải ngoại. Thơ bất đồng chính kiến đã tỏ thái độ trực diện trong quan hệ với quyền lực của thể chế, với nhu cầu phá hủy quyền lực đó, và liên đới với ý thức về dân chủ, cũng như phong trào dân chủ trong những hành động trực tiếp. Cộng Sản được nhìn như một biểu tượng của sự khống chế tư tưởng và do đó, trở thành một đích nhắm của thơ ca trong cuộc tấn công vào ý thức hệ chính thống này. Tôi muốn mượn một bài thơ của Bùi Chát, trong tập thơ – chính trị Bài thơ một vần với chủ âm là từ “cộng sản” để hình dung không gian chính trị chính của mảng thơ này, trong một hình ảnh có tính chất ẩn dụ, sự ám ảnh về màu đỏ, và cùng lúc, ý thức và nhu cầu xóa bỏ màu đỏ ấy.

Tôi đứng trước một ngã tư
Đèn đỏ ngăn tôi lại
Những dòng người ra đi tất bật
Gió mát sau lưng họ

Chúng tôi, nhiều thế hệ
Bị giữ lại bởi đèn đỏ
Chúng tôi không cất bước được
Chúng tôi không bay lên được
Giao lộ ở khắp nơi
Không ai có thể vượt qua màu đỏ

Chúng tôi đứng trước ngã tư
Nhiều thế hệ

Chỉ một con đường đầy bụi đỏ trước mắt

(Đèn đỏTừ tập Bài thơ một vần, 2010)

Nỗi ám ảnh màu đỏ trong cảm hứng phủ định mãnh liệt hiện trạng xã hội, ý thức lật đổ, đầy hoài nghi, phẫn nộ trở thành dấu hiệu nhận dạng những thế hệ vừa muốn chối bỏ vừa khó chối bỏ quá khứ, vừa nỗ lực thoát ra khỏi ý thức hệ bao trùm xã hội vừa hiểu rõ cái gông xiềng nặng nề của nó.

Chủ đề nổi bật là lịch sử, ở khía cạnh nào đó, dường như được đồng nhất với chính trị. Tôi muốn dẫn ra đây ba nhà thơ phía Nam, Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng và Phan Bá Thọ, như những cách thức phản ứng khác nhau trong cách đặt câu hỏi về lịch sử, hai tác giả Trần Tiến Dũng và Nguyễn Quốc Chánh cùng năm sinh (1958) và Phan Bá Thọ trẻ hơn (sinh năm 1972). Trong mảng thơ bất đồng chính kiến, các nhà thơ này thể hiện sự khác biệt khi hòa trộn mạnh mẽ ý thức về khả năng biểu đạt của ngôn ngữ và sự biểu hiện nội dung chính trị, và chúng gây tác động bằng sức mạnh văn chương hơn là những ấn tượng về nội dung xã hội, lịch sử, chúng kết tụ suy tư ngay cả trong vẻ đùa bỡn, hơn là những cảm xúc thuần túy. Chúng ta hiểu rằng có những nhà thơ nhất định tin rằng thơ ca chỉ thuộc về cá nhân, không gì ngoài cá nhân, và có những nhà thơ tin rằng, từ những phản ứng cá nhân của họ, thơ ca có thể hướng ra những vấn đề chung, hoặc chính từ những vấn đề chung đó mà thơ ca khẳng định được tiếng nói cá nhân của tác giả.

Nguyễn Quốc Chánh ném ra một giọng thơ phủ định mãnh liệt như quét một nhát cọ lớn nhằm xóa sổ một thứ lịch sử chính thống mà ông cho là giả tạo, trong hình thức tự phủ định thơ ca của mình. Ông định nghĩa mình như một cá nhân, nhưng mỗi chi tiết thơ đều nhằm tái hiện một phần gương mặt lớn của quốc gia, dân tộc:

Hậu, hậu, nhưng không phải là hậu…

Nhìn thẳng: mặt tao trơ.
Nhìn nghiêng: mặt tao lệch.
Nhìn xuống hoặc lên: mặt tao đều bết.
Đứng cạnh Miên: tao lộng lẫy vàng.
Đứng cạnh Tây: tao hoang mang xẹp.
Đứng cạnh Tầu: tao khép nép hí.
Kiếp trước: cốt của tao là khỉ.
Kiếp này: cộng đồng của tao là ma.
Kiếp sau: quốc gia của tao là công xã.
Hồi xưa tao xăm mình đánh Tầu.
Bây giờ ông tao nghêu ngao bán đậu hủ.
Hồi đó tao gồng mình chống Tây.
Bây giờ bố tao ngồi vỉa hè sửa giày.
Hồi nãy tao bán mạng chống Mỹ.
Bây giờ vợ tao nôn nao lấy Huê Kỳ.
Đôi khi tao muốn quên: ôi những người khóc lẻ loi một mình!
Đôi khi tao muốn tin: ôi những người khóc lẻ loi một mình!
Đôi khi tao muốn điên: ôi những người khóc lẻ loi một mình!

(Rút từ tập Ê, tao đây, 2005)

Thơ Trần Tiến Dũng, dường như cùng một đích đến với Nguyễn Quốc Chánh nhưng từ một lối đi khác, muốn phơi mở những chấn thương trong tâm hồn một cá nhân, thứ chấn thương đã mất đi ý nghĩa riêng tư để trở nên những vấn đề chung, và đến lượt nó, những vấn đề chung về đất nước, lịch sử lại trở thành một giải pháp để khôi phục sự tồn tại cá nhân ấy. Nhìn vào hành trình các tập thơ của Trần Tiến Dũng theo thời gian, từ hai tập xuất bản chính thống Khối Động (nxb Trẻ: 1997), Hiện (nxb Thanh Niên: 2000) tới ba tập thơ xuất bản ebook và photo sau đó Bầu Trời Lông Gà Lông Vịt [eBook] (Tiền Vệ, Australia: 2003) và Hai Đoá Hoa Trên Trán Cho Công Dân Hạng Hai (Sài Gòn: 2006), Mây bay là bay rồi (Sài Gòn, 2010) có thể thấy con đường của kẻ làm thơ, từ chỗ cảm nhận sự vô ích, bất lực của cuộc đi tìm cái cá nhân, tự xóa bỏ những tình cảm riêng tư để trở thành một kẻ tham dự, một nỗ lực xóa bỏ đầy hoang mang, nhưng dường như là tất yếu với anh. Hình ảnh nhà thơ – kẻ ở đâu xa, hoài niệm những cánh đồng thơ bé, hoài niệm một thế giới sinh thái đã mất trong đô thị hiện đại dần dần bị thay thế bởi hình ảnh nhà thơ, kẻ đi giữa những lằn đạn của thời cuộc, vừa ngẫu nhiên vừa đương đầu hứng chịu, vừa bị tấn công vừa tự mang vết thương, tâm trạng bi kịch của cá nhân đã vượt ra ngoài nó để trở thành sự thể hiện số phận của dân tộc, của cộng đồng. Tập thơ mới nhất của anh thể hiện đậm đặc lựa chọn này. Tôi hình dung anh, trong số những hàng người dài, “đứng ở vỉa hè và đếm”:

Chúng tôi lại đếm
bắt đầu đếm từ mình, đếm đi, đếm lại
từ vỉa hè này đến ngã tư kia người nô lệ nối thành hàng
chỉ vào mình đếm một
chỉ vào người tình đếm hai…
sợi dây xích vô hình lúc căng lúc chùng sao mà quá dài
mỗi lần băng qua một vực thẳm lại bật ra vách những
nhà tù hung hãn.
Và sợi dây xích lạnh
và từng chùm âm thanh thẳng đứng rớt xuống thành
một cơn mưa

(Chúng tôi đứng ở vỉa hè và đếm)

Ở một bài thơ khác, nhà thơ tự định nghĩa mình, thẳng băng, quyết liệt và mỉa mai, tuyệt vọng cùng lúc: “Thế kỷ 21/tôi/dân xứ độc tài cộng sản” (Cách nói của những người tử tế), đồng thời, anh ý thức sinh mệnh hay thân phận của một nhà thơ không tách rời khỏi văn cảnh mà anh sống/chết:

Thi sĩ! Ngôn ngữ anh đi vào nỗi sợ chế độ độc tài để ý thức về cái sợ
Kéo lê sự sợ hãi dai dẳng này để bùng nổ cái sợ
Thi sĩ, anh không phải là người can đảm
Chọn hố thẳm hiểm ác bước ra một lần để biết mình có hay không thể vượt qua

(Đôi chân sợ hãi, tôi chọn bước ra)

Trần Tiến Dũng ý thức về những chấn thương sâu kín và những nứt vỡ của một nhà thơ – kẻ nương bám vào ngôn ngữ, để khơi mở nỗi đau và thể hiện khát vọng tự do. Ở những chỗ anh phơi mở nội tâm, tâm trạng của kẻ bên lề với nỗi tuyệt vọng khi lộ liễu, khi ngấm ngầm trong thơ anh có một sức nặng phản kháng tuyệt vọng như một liều thuốc độc êm ái. Nó khá nhẹ nhàng khi bắt đầu, và người ta chết cùng với sự nhẹ nhàng đó, để bày tỏ sự phản kháng.

Trong khi đó, xác lập một cuộc chơi khác của thế hệ trẻ hơn, thơ Phan Bá Thọ phản kháng bằng vẻ nhạo báng đầy hư vô chủ nghĩa của ngôn ngữ thơ ca. Lịch sử, trong thơ Phan Bá Thọ đã trở thành “đống rác vô tận” mà anh có thể chơi và sống cùng nó một cách tự do, thậm chí không đau đớn, không phẫn nộ, không hoài nghi nữa. Đồng ý hướng thơ rác với Lý Đợi, Bùi Chát, Phan Bá Thọ, hai tập thơ đã xuất bản mang tên Chuyển động thẳng đứng (2001) Đống rác vô tận” (2004), khai thác rác thải lịch sử như một thứ nguyên liệu qua các nguồn tin báo chí, các câu chuyện lịch sử, biến báo bằng những trò chơi chữ. Thi sĩ là kẻ ngập ngụa thỏa thích trong đống rác đó:

tôi, đang sống giữa một saigon dựng đứng nhiều sao
hào nhoáng & nông cạn, kỳ thực
saigon là con đĩ rạc không yêu không được
một con đĩ [rùng rợn, &] nhiều ý nghĩa

(thụ cảm – october)

Sài Gòn quá khứ là một huyền thoại, Sài Gòn hiện tại là một “con đĩ rạc”. Và trong đô thị ấy, Phan Bá Thọ lột trần mình nhiều lần để tự họa, thản nhiên, trơ lỳ, không cố tình gây sốc, nhưng người đọc có thể hình dung chứng động kinh có thể đến bất thần bên trong một cơ thể tích điện, một cách tự họa chân dung độc đáo có thể gây cảm hứng cho những nghệ sĩ trình diễn:

một bé gái 70 năm kinh nghiệm lạng lách trong những hẻm tối
một tên già chịu chơi & nát bét nhiều thứ, cùng rượu
họ đấy, biết tôi là ai 80%
tôi, không phải thúy hằng thúy hạnh rilke hay rimbaud
chắc, không phải đàn ông / đàn bà & đàng điếm
không đồng [ tiền / hiện / tính ] v.v. & .v.v.
(ôi, cái phẩm chất của những con người hoàn thiện & tự sướng)
thú thực tôi, một con bò bị cột chặt trong căn nhà hoang
với nhiều tiện nghi
thân lỗ chỗ những vết cắn lỗ cắm
mỗi ngày, tôi nhai hết một màu xanh cọng cỏ & mười xác chết
nuốt sạch 30 ký điện mà vẫn còn thèm.

(mày là ai)

Thay vì phục dựng lại gương mặt lịch sử, chúng ta liên tục thấy những sự từ chối, những chối bỏ của thơ ca. Ở Nguyễn Quốc Chánh là sự căm phẫn, nỗi giận dữ, ở Trần Tiến Dũng là sự đau đớn được bày tỏ trong những dạng thức mỉa mai hay đồng cảm, ở Phan Bá Thọ là sự nhạo báng, bất cần, và tất cả đều nhuốm màu tuyệt vọng, như thể lịch sử đang được đặt trước miệng vực. Lịch sử không còn được là một sự thật, nó bị hoài nghi, và bản thân lịch sử hoài nghi chính nó, nó bị nhạo báng, và bản thân nó là một nỗi nhạo báng. Con người, khi soi vào tấm gương lịch sử, dường như chỉ còn thấy gương mặt trống rỗng của chính mình, một gương mặt trống rỗng bị bôi xóa sạch sẽ bởi chính những sự bội phản, mà chúng ta hầu như quên mình là một nhân tố trong sự bội phản đó. Những cuộc lật mặt nạ liên tục diễn ra dưới hình thức phủ định, chơi đùa, hay mua vui với việc kể chuyện tiếu lâm lịch sử. Như thể chỉ cần gỡ bỏ những tấm áo đạo đức thần thánh đang choàng lên lịch sử, chúng ta có thể vạch mặt sự gian xảo của nó, tội lỗi của nó, chúng ta có thể tìm lại gương mặt đã bị giày xéo và bị xóa hết các đường nét của chúng ta. Dễ hiểu vì sao lịch sử, trong ý nghĩa này, đã trở thành một chủ đề quan trọng. Nhưng phải chăng chúng ta muốn tìm cách ngụy biện cho mọi bất công của loài người, và lý giải cho gánh nặng của thơ ca từ lịch sử, và do đó, lịch sử đang phải gánh nặng trên vai cả những gì nó không thực sự sở hữu? Phải chăng có thể đồng nhất những câu hỏi về thể chế và lịch sử? Song song với nó, là sự phủ định chính bản thân thơ ca để làm thơ: Nguyễn Quốc Chánh phủ định mạnh mẽ chính những cách làm thơ trước đó của mình, và những thi sĩ như Phan Bá Thọ thậm chí cố ý tạo rác chứ không “làm thơ” nữa. Khi thơ ca nỗ lực phủ định lịch sử, thơ ca, bằng cách tham dự mạnh mẽ vào bối cảnh chính trị xã hội, đã hiến mình cho một cuộc xuống đường tầm vóc. Khi thơ ca tự phủ định chính lịch sử thơ ca, thơ ca đã từ chối đi tiếp con đường sáng tạo từ quá khứ, nó tìm cách đứt gãy, chứng minh sự đứt gãy, và nó chơi hư vô trên một đống rác thơ vô tận.

Samizdat để kết nối

Khác với việc bày tỏ quan điểm bất đồng để xây dựng của nhiều nhà thơ thời kì đầu Đổi Mới, các phương cách thể hiện chủ đề chính trị cũng như phạm vi tác động của mảng thơ phản kháng này không tách rời sự lựa chọn chủ ý phương thức xuất bản samizdat theo hình thức photocopy, ebook và xuất bản trên các diễn đàn mạng. Lời mở đầu của Nguyễn Quốc Chánh khi tự xuất bản Của căn cước ẩn dụ trên Talawas cuối năm 2001, tập thơ thứ ba sau hai tập thơ được cấp phép của ông, sẽ luôn còn được nhắc đến như một tuyên ngôn đòi tự do của một nhà thơ tự bên lề hóa chính mình, thông qua hành vi tiên phong gây hấn với phương thức xuất bản chính thống, bằng việc phát hiện một không gian mới là internet:

“ Viết, in & phát hành trong sự cho phép, là một cách tiếp tay với sự phản động theo nghĩa là kéo dài những biến tướng. Bởi nó ít có tác dụng thúc đẩy. Mà chỉ thêm những kẻ đồng lõa với âm mưu bóp chết tự do cá nhân.

Tôi có mấy chục người quen, một ít người bạn, và chỉ với cái văn minh vi tính, thơ tôi có thể được đọc một cách sạch sẽ mà không phải khom xuống để chui qua sự khám xét nào”. [6]

Thơ photo tự xuất bản ở Việt Nam sau đó đã có một hiệu ứng mạnh mẽ gắn với tên tuổi của nhóm Mở Miệng với nhà xuất bản Giấy Vụn. Nhà xuất bản Giấy Vụn đã thể hiện chiến lược như một cơ quan xuất bản bán công khai, bằng cách mở rộng phạm vi xuất bản với thẩm mĩ thiết kế và in ấn riêng biệt: ban đầu, các xuất bản phẩm gắn với những tác phẩm thơ của nhóm Mở Miệng (Mở Miệng, 13 tác giả, Khoan cắt bê tông), hay cá nhân các thành viên Lý Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy, các tác phẩm để kết nối trong – ngoài và các thành phố (47), rồi đến các tác phẩm có dáng dấp “phục cổ”, “cố sự tân biên” như một kết nối khác với quá khứ như Lĩnh Đinh chích quái (thơ thơ Đinh Linh), Lĩnh Nam tạp lục (Vương Văn Quang), Luận ngữ tân thư (Phạm Lưu Vũ)…, các tác phẩm “bù đắp” những thiếu hụt của xuất bản chính thống như Trại súc vật của G.Owen, các tác phẩm thơ của Trần Vàng Sao, một nhà thơ viết về những chấn thương chiến tranh với những quan điểm khác biệt với chính thống… Hàng loạt các nhà xuất bản ngoài luồng khác, được gọi là xuất bản vỉa hè, xuất bản photocopy dường như bùng phát, vào khoảng năm 2003 đến năm 2008 ở Sài Gòn − một không gian có tính chất biểu tượng, ở Hà Nội, và phía Bắc nói chung, các hình thức xuất bản photo đã từng tồn tại nhưng ít tiếng vọng, và không có một nhà xuất bản nào hoạt động tương tự như Giấy Vụn, những người chia sẻ hướng tự xuất bản có thể gửi vào Sài Gòn để in ấn các thi tập riêng − với tên gọi riêng, tùy theo người chủ trương như Tùy Tiện, Cửa, Da Vàng, Điếu Cày, Lề Bên Trái, Utopia, Tân Hình Thức… Tự xuất bản photo, chủ yếu là thơ, từ một hành vi bị động đã trở thành một lựa chọn thích đáng và được ý thức rõ của những người không muốn thương thỏa, như chia sẻ của Trần Tiến Dũng khi phát hành tập thơ photo thứ ba của anh Mây bay là bay rồi:

“Tôi không lạ gì khi thể chế này và hệ thống xuất bản độc quyền này đã mất khả năng văn minh “mua” giấc mơ đẹp và thơ sạch.

…Thơ cho tôi tình yêu và tình yêu tôi dành cho thơ là để thỏa mãn cơn đói yêu tự do và quyền con người”.[7]

Một trong những điều thú vị nhất với tôi chính là tính chất phi chuẩn cố ý như một biểu hiện của phẩm chất văn chương mới, một sự xác lập thẩm mĩ mới của các xuất bản phẩm vỉa hè. Ngoài nội dung có tính chất phản kháng, những chi tiết về bìa, cách trình bày, thiết kế cũng biểu thị một sự gây hấn, có thể là phá phách, có thể nhảm nhí cho vui mắt, như những bài thơ hình ảnh, thơ thị giác, thách thức mọi cấm đoán. Xin trích dẫn lời bình luận của Nguyễn Đăng Thường trong loạt phỏng vấn của Trần Tiến Dũng như một cách giới thiệu những văn bản thơ photo của nhà xuất bản Giấy Vụn thời kì đầu:

“Tập thơ jác từ jưởi bìa nâu. Bìa trước trống trơn, là một bức tranh trừu tượng. Bìa sau là hình vẽ một giai nhân bán khỏa thân, mang dớ đen tới bẹn, tranh Egon Schiele, một họa sĩ Áo ở Vienna vào đầu thế kỷ 20, thuộc nhóm họa sĩ "suy đồi" (Klimt, Kokoschka…) bị đốt tranh trong thời Hitler. Phía dưới có ghi câu trích dẫn Tadeusz Rózewics: "Tôi không thể hiểu được tại sao thơ được phép tồn tại khi những con người tạo tác ra nó thì đã chết. Thơ sống sót buổi tận thế, làm như không có chuyện gì mới xảy ra trên trái đất này ngày hôm qua. Tôi kinh tởm sự phi lí ấy", rút từ trang "Thơ Trung Âu" do Thường Quán chuyển ngữ, nhưng đã ghi sai/trại xuất xứ: "Tạp chí Thơ 19, mùa xuân 2000", thay vì "mùa thu" (đúng). Nhìn chung, tôi thấy rất đạt trên phương diện hình thức. Nội dung, lập trường, phá miễu… đã có hoan hô đả đảo náo nhiệt rồi, nên xin để qua một bên. Tuy nhiên, nếu cần đáp lễ những lời phê bình xây dựng tôi cũng có thể thêm: Dada chưa chết, còn sung sức, và hiện có mặt toàn cầu. Ngoài ra, Mark Twain, William Faulkner… đã nói tiếng nói của người da trắng nghèo, của người da đen nô lệ ở miền Nam. Nhóm Mở Miệng cũng đang làm một công việc tương tợ. Thơ dơ không tạo rác. Thơ dơ chỉ lấy rác của chế độ liệng trả lại. Cuộc sống thường ngày ở đây là một ngày xáo chộn trong đời con hẻm 47, là cái lồn què của một con cặc tầm thường.”[8]

Tôi xin đưa lại một số ảnh bìa các tập thơ để thấy một nhu cầu phản thẩm mỹ hay thẩm mỹ mới của các xuất bản phẩm vỉa hè, những hình bìa vui mắt ngoài cảnh báo về một không gian nguy hiểm cho những người đọc yếu tim thơ, đã gây tiếng cười giải thiêng từ bề mặt. Lưu ý là, ở các cơ quan xuất bản chính thống, cách trình bày và bìa luôn bị kiểm soát nghiêm ngặt, cách trình bày lạ hoặcthách thức đều có thể dẫn tới việc cuốn sách bị cơ quan kiểm duyệt văn hóa thu hồi.

Tập thơ Cailonbodi (2004):

Bìa 1: đinh linh vẽ thơ lý đợi – độc giả có thể tùy nghi trình bày trên nền này.

truong chay thit cho

BC-tholydoi

Bìa Tháng tư gẫy súng:

biaThangTuGaySung

Bìa tập Khoan cắt bê tông (23 tác giả, 2005): bìa giấy xi măng, với hình ảnh các bức tường nơi đô thị − “Rút hầm cầu, thông cầu”, “Cấm trèo”, “Nguy hiểm chết người”

khoancatbetong

Bìa tập Xaùo choän chong ngaøy:

xaochontrongngay

Bìa tập Hầm bà lần

hambalan

Bìa tập Xin lỗi, chịu hổng nổi

xinloichiuhongnoi

Bìa tập Ê, tao đây – Nguyễn Quốc Chánh

etaoday

Bìa tập “Đống rác vô tận”- thơ Phan Bá Thọ

dongracvotan

Dường như sẽ là không tương thích nếu tìm cách đồng nhất các hình thức samizdat đương đại ở đây và samizdat quá khứ ở những nước như Bulgari, Czechoslovakia, liên bang Soviet hậu Stalin hay Đông Đức. Khác biệt thấy rõ từ cái nhìn bề mặt là, do không còn bị hạn chế về máy móc và công nghệ, với sự phát triển của internet, samizdat ngày nay có thể sản xuất và lưu hành dễ dàng hơn, việc đòi quyền thông tin không được đặt ra hàng đầu. Bên cạnh chiến lược tồn tại và mở rộng nhằm phá vỡ thế độc quyền của xuất bản chính thống dưới sự cấp phép của nhà nước ở Việt Nam, chống lại sự trấn áp về ý thức hệ qua việc duy trì hình thức độc quyền này, hình thức được ưa chuộng là các ấn phẩm dạng sách, chủ yếu là thơ, hẳn có một mối liên quan sâu hơn tới một vấn đề chung của thơ ca ở mọi nơi đã được xướng lên nhiều lần: về sự sống mong manh của nó dưới sức trấn áp của các thể loại “mạnh” khác trên thị trường, bởi vị thế riêng lẻ của người làm thơ, hay của bản thân sự tồn tại của thơ ca. Ở Việt Nam, hẳn không phải là ngoại biệt, thơ ca chỉ chiếm một thị phần ít ỏi trên thị trường, các tập thơ mới hầu như ít có cơ hội bày bán trên các hiệu sách, và hầu như các nhà thơ không tìm được đầu tư để xuất bản thơ, trừ các chương trình xuất bản thường niên cho các hội viên Hội Nhà Văn. Nhưng có một nghịch lý là, trong khi nhiều tập thơ, nhiều tên nhà thơ bị kiểm duyệt gắt gao thì việc cấp phép cho xuất bản thơ ở Việt Nam lại hết sức dễ dãi: hầu như bất cứ ai cũng có thể tự bỏ tiền ra để xin giấy phép và in thơ, từ những nhà thơ chuyên nghiệp đến các nhà thơ ở các hội văn học địa phương hay những người trẻ mới xuất hiện, thật khó thống kê được một năm có bao nhiêu tập thơ đã được cấp phép và in ấn. Do đó, khi lựa chọn tự xuất bản, các nhà thơ có niềm vui của việc chia sẻ với một cộng đồng nhỏ mà họ hiểu biết ít nhiều, một cộng đồng có ý thức tách biệt với chính thống để tránh bị đồng nhất với những sản phẩm thơ ca được ra đời dễ dàng khác. Trong ý nghĩa chống lại sự trấn áp của truyền thông dòng chính, chống lại sự trấn áp với một thể loại phi thương mại rõ rệt này, các phương thức tự xuất bản ở Việt Nam đương đại dường như chia sẻ điểm nào đó với các hiện tượng xuất bản phá cách, độc lập ở nhiều quốc gia hiện nay. Song song với các hiện tượng phim, ảnh, nhạc dòng ngầm ở Việt Nam hiện nay, hay sự sản xuất samizdat của các nhóm hoạt động dân chủ, văn bản của nhà thờ, nhà chùa…, samizdat văn chương đã góp phần hình thành không gian của tự do ngôn luận và tự do sáng tạo.

Nhưng tôi muốn mở ngoặc ở đây một quan điểm: sẽ là thiếu chính xác nếu đánh đồng, quy giản, và xếp mọi nhà văn trong Hội Nhà Văn như là “những người phục vụ thể chế” và chia biệt các phong cách văn chương tiền phong / bảo thủ chỉ bằng các phương thức xuất bản. Khi tính chất đơn nhất về ý thức hệ đã sụp đổ, trong sự giao lưu văn hóa ngày càng mở rộng, không phải bất cứ ai ở trong Hội hiện nay cũng bị kìm kẹp bởi phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, không phải ai cũng là một công chức tuyên truyền, bởi lẽ đơn giản, bất cứ một người viết nào thực sự quan tâm tới văn chương đều phải mở rộng các phương pháp sáng tác của mình. Các nhà thơ samizdat (tự/bị) bên lề hóa, chỉ biểu thị bản thân bằng tác phẩm văn chương, không tham gia vào các hội chính thức của nhà nước để giữ sự độc lập cá nhân không có nghĩa là từ chối tham gia các sinh hoạt văn chương trong nước. Tôi cũng không muốn cắt nghĩa sự tồn tại và phát triển của samizdat đương đại Việt Nam chỉ như một phương thức xuất bản mang tính chống đối trong cái gọi là điều kiện “chuyên chế” “toàn trị”, và tôi nghĩ sẽ là thô bạo nếu dán nhãn tất cả các tác phẩm thơ xuất bản theo hình thức này là “thơ bất đồng chính kiến”. Dẫu vậy, sự khác biệt với chính thống vẫn là rõ ràng: từ ý hướng phủ định của văn bản thơ, từ sự lựa chọn có chủ ý phương thức xuất bản và do đó, mảng thơ này, trong không gian hoạt động của nó có thể mở những con đường mới. Người ta sẽ còn nhớ lại nỗ lực đòi dân chủ thông qua hình thức xuất bản báo chí công khai và bị đàn áp triệt để của Nhân Văn − Giai Phẩm để thấy, sự lựa chọn và trung thành với samizdat của nhiều nhà thơ hiện nay vẫn là biểu hiện của lòng quả cảm và giấc mơ tự do. Tiềm năng thơ ca của hình thức xuất bản này ở thì hiện tại và tương lai, sẽ nằm ở khả năng kiến tạo những thực hành thơ mới, tìm kiếm một chất lượng mới của thơ, nằm ở khoảng chơi tự do của các thể nghiệm giữa những kìm kẹp lơ lửng của thực tại, hơn là sức mạnh phản kháng và gây hấn với những quyền lực hữu hình như một Đảng cầm quyền hay thể chế nhà nước.

 

Nhu cầu về không gian công

Thơ bất đồng chính kiến gắn với phương thức tự xuất bản samizdat và các diễn đàn mạng như hình dung nổi bật về cuộc chiến đấu của văn chương chống lại những khống chế tư tưởng và đòi hỏi tự do cho nghệ thuật gắn bó chặt chẽ với nhu cầu tạo dựng một không gian công của văn chương hôm nay ở Việt Nam. Thực tế, ở bất cứ một thời kì thịnh vượng nào của văn chương một quốc gia, những kẻ tham dự (tác giả, bạn đọc) cùng các văn bản được tạo ra, các cuộc tranh luận, đối thoại xung quanh các văn bản đó đều kì vọng vào một nền truyền thông tự do, một không gian công cộng dân chủ. Trong nhiều năm trở lại đây, khi những không gian công văn chương chính thức như các báo Văn Nghệ, các hội nghị định kì của Hội Nhà văn… không đáp ứng được mối quan tâm chung, khi việc từ chối các giải thưởng của các cơ quan văn nghệ chính thức ở Việt Nam gần đây còn là một cách bày tỏ thái độ của người sáng tác[9] thì mạng lưới tự xuất bản kiểu samizdat và ebook, các diễn đàn mạng ban đầu đã hình thành như một dạng không gian công phi chính thức, mang lại kì vọng về các diễn đàn mới, tồn tại song song và độc lập với các không gian chính thức điều khiển bởi nhà nước, như một cách tự ý thức của văn học Việt Nam về sự phát triển của nó.

Phương thức tự xuất bản ebook được trông đợi như là một giải pháp mới của văn chương trong cuộc chiến với quyền lực chính trị, và một quyền lực mới: quyền lực của đồng tiền. Ý tưởng xây dựng một hệ thống phát hành ebook tiếng Việt được diễn đàn văn chương điện tử Damau thực hiện trong niềm kì vọng về một Cuộc cách mạng ebook[10], vừa đảm bảo sự tồn tại nguyên vẹn không kiểm duyệt văn bản, vừa bảo vệ được các tác phẩm dưới sự can thiệp của chính quyền trong việc thu hồi, ngăn chặn, vừa tận dụng các ưu thế về khả năng phát tán toàn cầu và số lượng ấn bản vô hạn, khắc phục hạn chế về số lượng ấn bản ít ỏi và khó lưu thông của samizdat dạng sách in.[11] Trong giai đoạn đầu xây dựng hệ thống phát hành ebook, các tác phẩm phát hành trên kệ sách của Damau được gửi tặng miễn phí cho bạn đọc trong nước. Nỗ lực này chia sẻ ý hướng chủ động nhập dòng với thế giới, trong đó, các tổ chức văn nghệ độc lập có thể trở thành cầu nối cho các tác giả chủ động tìm độc giả của mình, không phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước.

Các diễn đàn mạng đặt tại hải ngoại với những đường hướng và chủ trương hoạt động riêng, được thành lập bởi các học giả, nhà văn hướng tới một viễn cảnh khác của văn chương Việt như Talawas, Tiền Vệ, Hợp Lưu, Tạp chí thơ (cả hình thức in giấy và online), Gió – o, hay Da Màu[12], cùng với việc cổ vũ các xu hướng văn học mới, đặc biệt chú trọng tạo ra các tranh luận công khai về các vấn đề chung của văn chương và xã hội. Các văn bản bất đồng chính kiến và các tranh luận, như việc giới thiệu hàng loạt các tác phẩm và tác giả thơ tự xuất bản Sài Gòn trên Talawas chủ nhật, chuyên đề phỏng vấn các nhà thơ, các độc giả về thơ photocopy trên Tiền Vệ năm 2005 của nhà thơ Trần Tiến Dũng và nhiều thảo luận xoay quanh những vấn đề vốn là vùng cấm của xuất bản chính thống trong nước như văn học và chính trị, tình dục trong văn chương, về văn học miền Nam, Nhân Văn – Giai Phẩm, viết về chiến tranh, về kiểm duyệt văn hóa quanh các cuốn sách bị cấm đoán, cắt xén như Nam Dao với Trăng nguyên sơ, Ban Mai với Vết chân dã tràng, Nguyễn Đức Tùng với Thơ đến từ đâu… đã trở thành một kiểu biểu đạt đặc thù về những mối quan tâm chung của cộng đồng văn chương Việt xuyên biên giới các quốc gia. Di sản văn chương của quá khứ như Nhân Văn Giai Phẩm, văn học miền Nam được phục hồi dần dần với tủ sách của Talawas, Trên Kệ Sách của Damau, hình thành một dạng nguồn mở, để bạn đọc được download miễn phí các cuốn sách hay các tài liệu không được phổ biến chính thức trong nước, nhằm giảm thiểu sự bưng bít thông tin của quyền lực chính trị. Các mục Đối thoại của Tiền Vệ, Damau hay hình thức Talawas blog đều là những biểu hiện khác nhau trong việc tạo ra không gian tranh luận tự do. Mặc dù năm 2010, Talawas chính thức ngừng hoạt động sau 9 năm, nhưng dữ liệu vẫn đang tồn tại dưới dạng lưu trữ, và diễn đàn này chắc chắn vẫn luôn được nhắc tới như một nguồn tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu về Việt Nam quá khứ và đương đại. Tất nhiên tôi đã lưu ý rằng khó có thể đồng nhất việc lựa chọn phương thức xuất bản và phẩm chất của tác phẩm, và luôn có những lằn ranh tinh tế giữa cách tân thực sự và giả cách tân, giữa tiền phong và bảo thủ, chính thống và phi chính thống, nhưng có thể khẳng định, không gian văn chương trên mạng và tự xuất bản mặc dù luôn bị kiêng dè và thậm chí bị đàn áp, đã/đang tạo dựng một hình ảnh về đời sống văn học Việt Nam đương đại khác so với với hình dung khuôn sáo về một nền văn chương lệ thuộc nặng nề vào nhà nước, gắn chặt với tiêu chí tuyên truyền và phục vụ chính trị, tạo điều kiện cho sự tiếp nhận và thực hành các quan niệm nghệ thuật đa dạng và mới mẻ. Có thể là một tín hiệu vui khi ngày càng nhiều các tác giả trẻ và nhiều cây bút mới lựa chọn xuất bản theo cách phi chính thống này.

Cuộc chiến đấu cho một nền văn nghệ tự do là một vấn đề văn hóa, xã hội, chính trị lớn, và nó cần tới sự vào cuộc vừa với những tư cách cá nhân tự do độc lập có ý thức tham dự, vừa chia sẻ một ý hướng chung về không gian văn chương mới. Trong ý nghĩa lý tưởng nhất, nỗ lực tạo dựng không gian công văn chương, cũng như nỗ lực tạo dựng xã hội dân sự về mặt lý thuyết và thực hành sống trong sự thật, để nhớ lại những ý tưởng của Václav Havel về các xã hội hậu toàn trị luôn mang tiềm năng sống động, chống lại sự khống chế, bảo vệ sự tồn tại của văn chương trước cám dỗ và hiểm nguy của thị trường, và để các cá nhân được nói tiếng nói trung thực của mình. Tuy nhiên, tiềm năng về việc các không gian công này đồng hành với các sáng tạo văn chương và đồng hành với những xu hướng ý thức tiến bộ ở Việt Nam đương đại như thế nào là một câu hỏi khác. Một cách chủ quan, tôi cho rằng dường như luôn có thể quan sát thấy sự chuyển hóa từ dạng thức tạo dựng không gian công văn nghệ sang không gian công chính trị ở Việt Nam, điều có thể là một thiệt thòi cho sự phát triển của văn nghệ. Điểm này có thể gây tranh cãi, vì đường hướng hoạt động của các diễn đàn Tiền Vệ, hay Damau – hai diễn đàn nổi bật hơn cả trong thời gian này vẫn là sự chuyên chú tới các vấn đề văn chương nghệ thuật, nhưng dễ thấy xu hướng tìm tòi nghệ thuật thơ, các thể nghiệm đã từng được xướng lên nhiều năm trước đến nay dường như chìm lẫn, hay trở nên có vị trí nhỏ hơn so với nhu cầu bàn luận về chính trị, đòi hỏi tự do ngôn luận trực diện hơn. Dường như trong thời đại này, chúng ta chứng kiến những nhu cầu xung đột nhau trong bản thân sự sống của thơ ca: lựa chọn cất lên những tiếng nói với những phản ứng tức thì với không gian mà các nhà thơ đang sống hay lựa chọn suy tư về một đời sống chìm bên dưới các dữ liệu bề mặt của thời đại, những suy tư thường đưa thơ vượt thoát khỏi chính bối cảnh trực tiếp của nó để chảy cùng mạch với một nguồn sống bền bỉ hơn, mãnh liệt hơn trong đời sống nhân loại. Thơ ca, trong ý nghĩa nào đó, vẫn thường có một khả năng vượt thoát lên khỏi những buồn vui chật hẹp, những cơn nóng giận, những bất bình khó tránh; nhưng chúng ta đã chứng kiến thơ ca hăng hái đồng hành cùng con người như thế nào: nó sẵn sàng xuống đường, gia nhập các đoàn biểu tình, nó sẵn sàng khoác những tấm áo có những dòng khẩu hiệu có thể chia sẻ, cảm thông hay gây kích động mà dường như nó hiểu rằng, chỉ khi lột bỏ được những tấm áo đó, nó mới trở lại là nó. Nhưng vẫn là đáng cảnh giác: sự bùng phát phản ứng về chính trị trong thơ ca và văn chương được đồng nhất với khả năng duy nhất tạo dựng không gian công, như là những vấn đề chung đáng quan tâm nhất, làm át đi những nhu cầu kiếm tìm cái cá nhân, trong vẻ đơn độc vốn dĩ của nó. Phải chăng cuộc kiếm tìm đó không đáng là một mối quan tâm chung? Khi tự xuất bản và xuất bản mạng có thể là điều kiện cho sự giải phóng và tự do sáng tạo, thì điều mà văn chương Việt Nam thiếu dường như không phải là tự do mà là sự tự ý thức về nó, những giới hạn và tiềm năng của nó, của người sáng tác.

 

Về giấc mơ tự do

Mặc dù tôi muốn khẳng định mạnh mẽ giá trị của thơ bất đồng chính kiến và các phương thức xuất bản samizdat như những khả năng tạo không gian công văn chương mới ở Việt Nam hiện nay nhưng câu hỏi về phẩm chất thơ ca của tác phẩm vẫn được đặt ra. Khi thơ ca muốn lên tiếng cho mọi người, mặc dù mọi khẳng định rằng những bài thơ này nói theo cách của thơ ca hay xuất phát từ nhu cầu chân thực của tác giả, khả năng chinh phục hay không chinh phục người đọc của nó phải được dựa trên sự tiếp xúc với văn bản ngôn từ. Việc dùng những từ như dân chủ, khát vọng tự do, thời đại và những lời hiệu triệu, việc bày tỏ bất mãn và bức xúc, những tiếng chửi dễ dãi dường như không thể là dấu chỉ của các tác phẩm thơ ca có ý thức về dân chủ và thời đại, thậm chí đi tới chỗ hủy hoại chính ý nghĩa của nó. Không thiếu các bài thơ vừa là những bài thơ thất bại vừa là/hay vì thế cũng trở thành những bài thơ – chính trị thất bại, không phải chỉ của những người chỉ quan tâm tới dân chủ hơn là thơ ca, mà có thể cả những bài thơ mang tham vọng chính trị của những nhà thơ tài năng. Có những đường ranh chấp chới mà thơ ca cheo leo trên đó: làm thế nào một bài thơ có chủ ý chính trị được đọc với hiệu ứng thơ ca của nó, chứ không phải một bài báo mô tả hay một bài vè, một vở phát thanh được lên sẵn ý tưởng? Khi nào sự phản kháng thành một phẩm chất và khi nào nó chỉ là một mục tiêu?

Điều mà tôi băn khoăn nằm ở chỗ, dưới cảm nhận hết sức chủ quan của tôi, ở Việt Nam hiện nay, tính chính trị như một phẩm chất văn chương dường như bị đánh đồng, hay bị hiểu lầm với sự lựa chọn thái độ sống còn của cái vẫn mặc định như “đạo đức của người viết” với các vấn đề dân chủ, nhân quyền và chủ ý chính trị tiến bộ được đồng nhất với sự tấn công nhằm lật đổ ý thức hệ chính thống, ở đây là ý thức hệ của nhà cầm quyền. Khi tập trung vào phê phán xã hội độc tài trong niềm hi vọng về những chế độ xã hội khác tốt đẹp hơn, thơ bất đồng chính kiến ở Việt Nam dường như, ở khía cạnh nào đó, trở thành sự phát ngôn cho các phong trào dân chủ. Cho rằng sự phân biệt nằm ở quan niệm khác biệt về chính trị, từ chỗ chính trị như con đường đã được cắm sẵn cờ báo hiệu đích đến và hướng phải đi, tới chính trị như ý thức cá nhân trong việc bày tỏ một lựa chọn và chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn đó của nhà thơ, từ thứ chính trị bảo thủ, mị dân tới sự lựa chọn tiến bộ, đúng đắn của người làm thơ trong ý thức về trách nhiệm xã hội của thơ ca, hay đúng hơn, từ tuyên truyền tới chính trị đúng nghĩa? Nhưng làm thế nào khẳng định sự đúng, sai trong nhận thức chính trị của một cá nhân? Sự lựa chọn quan điểm về chính trị của các nhà thơ trên thực tế cũng khó rõ ràng: họ có thể rất nhạy cảm để lựa chọn đúng những xu hướng tiến bộ, họ cũng có thể bắt sóng sai lầm. Nhà thơ xác minh tư cách của họ là nhà thơ hay muốn trở thành những nhà hoạt động xã hội thông qua thơ? Và điều gì thực sự là thơ ca, chứ không phải chỉ là những chủ đề và thái độ, những phiên bản hời hợt của lòng nhiệt tình cá nhân lẻ tẻ rời rạc? Cái gì có thể trở thành cơ sở ý thức và thẩm mĩ cho sự thay đổi của thơ chứ không phải chỉ là việc tập hợp được một số anh em, bè bạn? Hơn nữa, ngay cả khi các nhà thơ hướng tới tấn công trực diện và muốn gây hiệu quả như một phong trào dân chủ, nếu thơ ca muốn hiến mình cho một cuộc xuống đường khổng lồ, tôi cho rằng có những lí do cho thấy họ sẽ khó đạt được một hiệu quả thực tế nào đó. Thứ nhất, khó lí giải cặn kẽ về một thứ ý thức hệ chủ yếu đang thống trị quan niệm sống của người Việt trong nước để các nhà thơ tấn công và lật đổ- gương mặt của ý thức hệ đó nằm ở đâu? Quan niệm đồng nhất sự tồn tại của chính quyền quyết định ý thức hệ của tất cả các công dân rõ ràng là thiếu chính xác, khi những đứt gãy, phân hóa, những rạn vỡ thấy rõ trong đời sống ở Việt Nam trong sự thâm nhập của các tư tưởng khác nhau… Thứ hai, tôi cho rằng, khi xung đột về ý thức hệ bị đẩy cao hơn tất cả, quan niệm về chính trị mang tính đối kháng, những vấn đề nhân quyền chung chung dường như đang là mối quan tâm quá rộng, có thể trấn áp những tiếng nói nhỏ hơn của các nhóm thiểu số, và sự trấn áp này khó đảm bảo cho những quan niệm có tính chất giải phóng. Thứ ba, những yêu cầu cụ thể và ý tưởng mang tính chất tham vọng về chủ đề thường cần tới một hình thức riêng biệt như chiến thuật gây tác động tới số đông người nghe, dễ đồng thuận rằng, một thứ thơ với ngôn ngữ và thi pháp “đơn giản hơn,” phổ thông hơn, mang tính chất ngôn ngữ nói sống động của các nhóm cư dân sẽ dễ dàng phổ biến và tiếp cận công chúng, nhưng tiếp cận ngôn ngữ nói sống động đó hẳn không phải là điều dễ dàng. Trong khi chống lại ảo tưởng về một thứ tự do không chính trị và cổ vũ cho văn chương phản kháng, văn chương đi theo tiếng gọi của ý thức dân chủ, dường như các nhà thơ quên cảnh giác việc quy giảm mọi văn chương về chính trị theo một nghĩa hạn hẹp là sự tấn công trực diện, nghĩa là quên cảnh giác về sự nhận thức hời hợt cả về chính trị lẫn văn chương. Vẫn có những bài thơ lay động trong vô số những sáng tác tầm tầm, nhưng thật sự, thơ bất đồng chính kiển phổ biến hiện nay cho tôi hình dung ra một hiện trường ngổn ngang, và cùng lúc, trống rỗng của văn chương.

Hẳn nhiên sẽ là không đủ nếu lý giải sự bùng phát của thơ bất đồng chính kiến cùng các dạng thức tồn tại của nó chỉ bằng những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đương thời, những nhu cầu bức thiết của thời đại như một bối cảnh nền mà có thể nằm trong bản thân nhu cầu tồn tại của thơ ca. Cuộc hôn nhân sắp đặt nhiều thế kỉ của văn chương và chính trị, trong đó chính trị mang hình ảnh người chồng trong xã hội nam quyền đã tan vỡ, nhưng từ chính trị, bị đeo ách, của quá khứ và hiện tại, dường như chưa bao giờ được trả về cho nó nguyên vẹn và bình đẳng như một ý hướng của nghệ thuật, nó luôn gắn kèm với nỗi cảnh giác thơ trở thành công cụ, phải kéo lê thân phận nô lệ của nó để phục vụ ý thức hệ của nhà cầm quyền. Cả phản ứng quá khích chống đối và hội chứng tách rời thơ và chính trị, từ chối đề cập, bàn luận về chính trị đều là những hệ quả của việc nhìn nhận ở góc hẹp mối quan hệ này. Hệ quả là, dường như văn chương Việt Nam, bởi luôn được nhìn trong bối cảnh chiến tranh, thực dân, hậu chiến, hậu toàn trị mà chưa bao giờ được thực sự vận động với nhu cầu văn chương bình thường của nó, đã tiếp tục củng cố một “truyền thống” nối dài từ quá khứ: mối quan hệ của văn chương và thể chế chính trị, chưa bao giờ không trở thành một trong những quan tâm chính yếu, dù dưới dạng thái độ này hay thái độ khác. Khi sự xung đột ý thức hệ còn là vấn đề chính trị hàng đầu, thì thiết yếu, mối quan tâm của văn chương về chính nó và về những vấn đề thiết yếu với từng cá nhân có thể bị lơ là, hay trở thành một mối quan tâm có vị trí nhỏ bé hơn rất nhiều. Đó là chưa nói tới một khía cạnh tiêu cực, với sức cám dỗ của thị trường, chính trị, hay cụ thể hơn, sự phản kháng với nhãn hiệu dấn thân có thể trở thành một món hàng địa phương mời chào khách quốc tế như các món quà du lịch của phương xa. Những tác phẩm bị cấm đoán vì “nhạy cảm chính trị” có thể bị đánh đồng với giá trị văn chương. Sự nhầm lẫn vẫn liên tục xảy ra. Dấn thân (vào chủ đề) chính trị trực tiếp có thể trở thành một thuốc thử cho thái độ tự trọng và lòng can đảm trong cuộc chiến đấu vì dân chủ của nhà thơ, cũng có thể, với rủi ro, biến văn chương thành một mẫu hàng có tính công cụ. Bởi khác với những cuộc xuống đường vì công lý, chiều kích chính trị của văn bản văn chương phải đuợc tính trên chiều kích chính trị của ngôn ngữ.

Có lẽ, để bình luận sâu hơn về mối quan hệ giữa văn chương/thơ ca và dân chủ, hay ý nghĩa can thiệp chính trị của văn chương, để gợi nhắc tới luận điểm về văn chương dấn thân của Sartre, cần đặt thơ với ý hướng phản kháng chính trị ở Việt Nam vào một khung khổ văn hóa và xã hội rộng hơn. Trong những giai đoạn nào đó, thơ ca có thể trở thành lực đẩy của xã hội, lịch sử văn chương thế giới sẽ còn ghi nhớ các nhà thơ mà cuộc đời và tác phẩm thường vượt ra ngoài một tồn tại cá nhân, gắn với các sự kiện, các xu hướng tư tưởng có tính chất quốc tế, như chiến tranh thế giới, chiến tranh Việt Nam, hay những liên đới tới chủ nghĩa phát xít, hay những đỉnh cao của thơ ca trong niềm hứng khởi của tư tưởng Marxist đã phủ sóng toàn cầu như Yeats, Pound, Robert Lowell, Maiakovski,… Văn chương bất đồng chính kiến đương đại liên quan nhiều hơn tới các nhóm bên lề, gắn với các vấn đề như không gian sống, màu da, chủng tộc, được nhắc tới nhiều là các hiện tượng văn chương lưu vong, văn chương hậu thực dân, văn chương của các nước vùng Caribe, văn chương Phi Châu, văn chương người da đen, và chủ yếu ở tiểu thuyết, với các tác giả Chinua Achebe, Wole Soyinka, Salman Rushdie, V.S.Naipaul…, và ở thơ như Seamus Heaney (bắc Ailen) Wole Soyinka (Nigeria)… Các hiện tượng này luôn là địa phương trong những mối quan tâm cụ thể, nhưng cũng là quốc tế ở ý nghĩa chính trị phổ quát của nó, nói cách khác, các vấn đề chính trị mang tính địa phương đã được nhìn nhận như một hiện tượng toàn cầu. Liệu văn chương Việt Nam có thể vượt qua những ám ảnh đấu tranh về ý thức hệ để không tự giới hạn chính khả năng của nó trong việc đứng về phía cái yếu, cái nhỏ bé, cái bị trấn áp, và không tự biến mình thành kẻ chịu nạn của ý thức hệ? Người viết dường như không có cách nào biện hộ cho sự tồn tại của mình ngoài tác phẩm: sự lựa chọn riêng tư về thái độ chính trị của họ luôn không được tính đến, nhưng họ phải chịu áp lực của lịch sử/thời cuộc lên lựa chọn sống/sáng tạo lẫn cả sự áp chế của các cách diễn giải lên sự lựa chọn đó.

Ở trong những xã hội mà nhu cầu hành động chính trị của số đông dường như đang bức thiết hơn nhu cầu sáng tạo văn học, thì liệu có thể nghĩ tới một cuộc hôn phối thành công giữa văn chương, hơn thế, văn chương tiền phong (chứ không phải văn chương giáo điều và nô lệ cho chính trị, văn chương tuyên truyền) và chính trị? Liệu các nhà văn cách tân có thể đồng thời là các nhà văn phản kháng? Cùng lúc một người có thể đạt tới tham vọng kết hợp cả hai sức mạnh phản kháng và cách tân, hay đó chỉ là một ảo tưởng? Hay bản thân sự phản kháng là cách tân trong một văn cảnh nào đó? Phải chăng, nghệ thuật phải nói to lên khát vọng dân chủ, nếu không, người nghệ sĩ văn chương sẽ trở thành một kẻ viết không bám víu vào đâu cả, hoặc hư vô hoặc thừa thãi giả dối? Có thể mở rộng những con đường khác để đến tự do? Nhưng nghệ thuật bao giờ cũng sinh ra từ tự do và hướng tới tự do và hơn thế, trong ngôi làng toàn cầu, người ta có thể sống mà không bám vào một gốc gác, vào một khung cảnh hẹp, khi sự neo bám đó phá vỡ tự do sáng tạo của người viết? Tôi nghĩ rằng mọi phong trào thơ ca đều có thể mang lại sức mạnh, nhưng không nhất thiết phải là phong trào mới có sức mạnh. Quay trở lại với niềm tin cần xóa bỏ cụm từ thơ chính trị như hệ quả của cách nhìn thiên vị chính trị và hẹp hòi với thơ ca, cùng lúc hẹp hòi về quan niệm chính trị, vậy phải chăng thơ mang chủ ý chính trị đang bị biến hóa thành một từ ngữ chết, một sản phẩm nhất thời, hay tệ hơn, một món hàng thương mại hóa được sản xuất hàng loạt? Dường như tôi chỉ có thể đặt ra những câu hỏi bất tận về chủ đề này, nhưng rõ ràng, chỉ có thể trở thành một đóng góp với văn chương, nếu tác phẩm không chỉ là những dấu chỉ về tình hình xã hội nơi này hay nơi khác. Không có lí do gì để các nhà thơ tự kiểm duyệt vấn đề chính trị và xã hội ra khỏi thơ ca họ như một lĩnh vực “phi thơ”, cũng không có lí do gì để các nhà thơ cam kết với chủ đề đó như là một kì vọng về sức mạnh và trách nhiệm của thơ ca. Do đó, khi dễ dàng đồng thuận rằng cần chống lại thứ chính trị đồng phục/tuyên truyền/ngợi ca chỉ tạo nên những sản phẩm nô lệ, chống lại sự lựa chọn chính trị tuân phục/thần phục nhà nước độc quyền, đứng về phía dân chủ, chống lại cảm hứng trăng hoa mây gió giả tạo, cũng cần thảo luận xa hơn về tính chính trị của thơ ca, tính chính trị nằm trong mỗi sáng tạo riêng biệt, đưa đến cách nhìn mới, phá vỡ sự áp chế của cái độc quyền, bất kể nó ở chủ đề gì. Tôi không dám chắc rằng về mặt ý nghĩa, những bài thơ dường như chỉ tìm kiếm những sức mạnh biểu hiện của ngôn từ chẳng hạn, lại ít tính chính trị hơn những bài thơ phản kháng, hay bản chất vô vị lợi của ý thức mĩ học dường như xung đột với tính mục đích của phản kháng.

Thơ đã trở thành một dạng nghệ thuật mang tính chính trị mạnh mẽ thế nào, đó là một câu hỏi khác. Ai đã lần đầu tiên gọi ra cụm từ tính chính trị này, để đến nỗi chúng ta rối trong mớ bòng bong của nó? Nó làm con người và thơ ca tự do hơn, hay là trói buộc? Nó góp phần phá hủy những cản trở, hay chính nó là một cản trở? Nhưng nhìn xem, dù tính chất bất đồng luôn khác nhau từ nơi này tới nơi khác, có phải hiện tượng đó luôn có ở mọi thời đại, mọi không gian? Và thực chất, dường như nghệ thuật, văn chương luôn là “bất đồng chính kiến,” bởi nó luôn hướng tới một thái độ khác, một ý tưởng khác và do đó, sẽ là dễ dàng quá nếu lý giải hiện tượng nghệ thuật, văn chương bất đồng chính kiến chỉ với những phác thảo tình hình kinh tế, xã hội, chính trị như bối cảnh nền. Các nhà thơ sẽ nói rằng, không mấy ai viết cho một tương lai hư huyễn nào đó mà họ không hình dung nổi, họ viết cho người đọc cùng thời họ đang sống, họ không thể tách rời thời đại của họ, nhưng dù dĩ nhiên tôi không viết để bịt tai bịt mắt, trốn thoát khỏi hoàn cảnh hay vẽ ra những hi vọng hão huyền, tôi vẫn duy trì niềm tin rằng nó không có trách nhiệm xã hội nào cả ngoài việc trở nên tự do theo cách mà nó đeo đuổi. Có điều, tự do là bất khả nếu chúng ta chỉ là sản phẩm nô lệ, dù ngợi ca hay chống đối, của những ý tưởng và giá trị của kẻ thống trị, những ý tưởng và giá trị cuối cùng tấn công chính sự tồn tại của chúng ta. Tự do là bất khả và vô hướng nếu chúng ta thất bại trong việc nhận diện chính gương mặt của mình, và văn chương Việt Nam vẫn đang ở trong những bước chuyển đổi âm u, không ít đau đớn, không thấy rõ hướng, với những mớ bòng bong của quá khứ và hiện tại, các ý thức hệ, các thái độ văn chương.


[1] Xin cảm ơn các tác giả Phùng Nguyễn, Hải Ngọc, Phùng Hà Thanh vì những góp ý cho các bản đầu tiên của bài viết này.

[2] Báo Nhân dân số ra ngày 26-5-1987 đăng trên trang nhất bài viết với hàng tít đậm: Những việc cần làm ngay của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, kí tên N.V.L, mở đầu một loạt bài cùng nhan đề sau đó với tinh thần đổi mới. Loạt bài này đã kích thích văn nghệ sĩ bày tỏ quan điểm của mình. Bài thơ của Thanh Thảo như một sự hồi đáp quan điểm của N.V.L, được đăng kèm với bài viết Thơ: Can đảm và đoàn kết, báo Văn nghệ, Hà Nội, số 34 (22-87). Bản lưu trữ trên mạng tại:

http://www.viet-studies.info/NhaVanDoiMoi/ThanhThao_CanDamVaDoanket.htm

[3] Nguyễn Minh Châu, một nhà văn – người lính, là một trong những người tiên phong chỉ ra thực trạng văn học minh họa này bằng một bài ai điếu. Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa (1989) tiểu luận trong Trang giấy trước đèn, nxb Khoa học xã hội, 1994.

[4] Thời kì Đổi Mới gắn với Đại hội Đảng VI năm 1986, trong văn nghệ được đánh dấu bằng cuộc gặp của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tháng 10/1987 với các văn nghệ sĩ, và điểm thoái trào lần thứ nhất có thể tính bằng sự kiện Đại hội nhà văn 1989, Nguyên Ngọc thôi cương vị Tổng biên tập báo Văn nghệ. Có thể coi thời kì ngắn ngủi này như Đổi Mới giai đoạn 1 với những vấn đề được đặt ra như tự do sáng tác, dân chủ hoá văn nghệ, văn nghệ độc lập chính trị.

[5] Phỏng vấn Phạm Xuân Nguyên – Nghĩ sao nói vậy – Talawas 21.4.2005. Lưu trữ tại: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4337&rb=0202

[6] Nguyễn Quốc Chánh – Của căn cước ẩn dụ − Talawas.org – lưu trữ tại: http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=922&rb=

[7] Trần Tiến Dũng, Tựa tập Mây bay là bay rồi, thơ photocopy, Sài Gòn, 2010.

[8] Nguyễn Đăng Thường trả lời Trần Tiến Dũng – Chung quanh sự kiện tác phẩm văn chương xuất bản dưới hình thức photocopy ở Sài Gòn – Tienve.org. Online tại: http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=F5008FC678590C3D6817606E05807823?action=viewArtwork&artworkId=4491.

Ngoài ra, cùng trong loạt bài phỏng vấn này là các phần trả lời của các nhà văn, nhà phê bình Đoàn Cầm Thi, Đặng Thơ Thơ, Lưu Hy Lạc, Đinh Trường Chinh, Trịnh Thanh Thủy, Mai Ninh, Nguyễn Hương. Có thể theo dõi tại:

http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=32

[9] Nữ tác giả Ly Hoàng Ly (sinh năm 1975) từ chối tặng thưởng Hội Nhà văn năm 2006 cho tập thơ Lô Lô với lý do: "Khi đọc bài trả lời phỏng vấn trên báo của nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang – Ủy viên Hội đồng chung khảo Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, một trong những người trực tiếp chấm giải, tôi chính thức tuyên bố xin từ chối "Tặng thưởng" của Hội Nhà văn đã trao cho tôi. Qua bày tỏ của nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang, tôi không thấy được sự nghiêm túc trong việc xét giải, ngược lại còn thấy một thái độ thiếu tôn trọng các tác phẩm mà hội đồng đưa ra để bình bầu” (Thư gửi hội đồng chung khảo của Ly Hoàng Ly được trích trên các bản tin báo chí). Năm 2011, đồng loạt bốn nhà văn xin rút tên khỏi danh sách trao giải và dự giải của giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh: các nhà văn Sơn Nam, Nguyên Ngọc, Sơn Tùng, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

[10] Phùng Nguyễn – Cuộc cách mạng ebook – damau.org ngày 18.04.2011. Online tại: http://damau.org/archives/19535

[11] Tại Việt Nam, hiện nay đã có ít nhất một hệ thống phát hành ebook Tiếng Việt vận hành rộng rãi, nhưng hệ thống này vẫn chịu sự quản lý của nhà nước và chưa thể xây dựng ngay được những quy định rõ ràng về “quyền” phát hành ebook không kiểm duyệt. Nói cách khác, các ebook được phát hành trên hệ thống của các công ty phân phối ở Việt Nam vẫn chưa được phép chính thức phát hành ebook không kiểm duyệt, mà vẫn phải thông qua các nhà xuất bản; hơn nữa hệ thống này hoạt động trên nguyên tắc thương mại. Về mặt ý hướng, cơ chế hoạt động của hệ thống phát hành ebook của Damau là khác biệt vì không chịu sự chi phối của cơ quan kiểm duyệt trong nước cũng như quyền lực đồng tiền.

[12] Hiện nay một số trang mạng văn chương này đã ngưng hoạt động hoặc cập nhật thưa thớt, chỉ còn hai diễn đàn chính cập nhật hàng ngày là Tiền Vệ và Da Màu. Chủ trương của Tiền Vệ: “TIỀN VỆ là một trung tâm văn học và nghệ thuật trên mạng lưới thông tin toàn cầu, với hai hoạt động chính là phổ biến các tác phẩm mới và tiến hành các cuộc tranh luận về văn học nghệ thuật. Mục đích chủ yếu của TIỀN VỆ là nhằm góp phần xây dựng một khối Thịnh Vượng Chung của văn học nghệ thuật Việt Nam, nơi, bất chấp những dị biệt về địa lý và chính trị, mọi người có thể gặp gỡ nhau trong nỗ lực tìm tòi và thử nghiệm để trả công việc sáng tác trở về đúng nguyên nghĩa của nó: làm ra cái mới.”/ “TIEN VE is an online centre for the arts (including literature, music, visual and performing arts) whose principal activities are presenting new creative works and organizing debates on aesthetic and artistic issues. The main aim of TIEN VE is to contribute to the formation of a Commonwealth of Vietnamese Arts, where, regardless of geographical and political differences, everyone can join and share their endeavour in exploration and experimentation so that artistic creativity is reunited with its original meaning, namely, the making of the new.” Chủ trương của DaMàu: “Văn chương phi biên giới: ngôn ngữ, văn hóa, phái tính, màu da, tín ngưỡng”. Đây là hai tạp chí văn học của người Việt ở hải ngoại, cập nhật bài vở hàng ngày của các tác giả viết Tiếng Việt cả trong và ngoài nước. Về chủ trương của Tiền Vệ, xin đọc thêm bài: “TIỀN VỆ và tự do tư tưởng & diễn tả cho nghệ thuật Việt Nam đương đại”, online tại:

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=33FA0F54398ABA0097EE5F6EB878E572?action=viewArtwork&artworkId=8544, bản dịch tiếng Việt của bài tham luận “TIEN VE and Freedom of Thought & Expression for Contemporary Vietnamese Arts” do Hoàng Ngọc-Tuấn, một trong những người sáng lập tạp chí Tiền Vệ, đọc tại hội nghị quốc tế “Echoes of a War” trong cuộc triển lãm NAM BANG!, tại Casula Powerhouse Arts Centre, ngày 17/04/2009. Bản dịch này đã được đọc trong cuộc toạ đàm “Thơ và Nhạc thời chiến ở Việt Nam”, tại Casula Powerhouse Arts Centre, chiều ngày 19/04/2009. Sự hình thành và chủ trương của Damau được Phùng Nguyễn, một thành viên ban biên tập thuyết trình trong buổi hội thảo “Thực trạng và xu hướng của văn học Việt nam hiện nay” ở tòa soạn Việt Báo (US) ngày thứ bảy 11.12.2010, văn bản bài viết “Damau, Một chặng đường” online tại http://damau.org/archives/17410

bài đã đăng của Nhã Thuyên


3 Bình luận »

  • Có điều, tự do là bất khả nếu chúng ta chỉ là sản phẩm nô lệ, dù ngợi ca hay chống đối, của những ý tưởng và giá trị của kẻ thống trị, những ý tưởng và giá trị cuối cùng tấn công chính sự tồn tại của chúng ta. Tự do là bất khả và vô hướng nếu chúng ta thất bại trong việc nhận diện chính gương mặt của mình, … (NT)

    + Có lần, tui xem một phim, loại phim nhiều tập võ hiệp Trung Hoa. Ông đại tướng được ông thừa tướng túc kế quyền mưu mời vào phủ để dự tiệc. Bước vào phủ, ông phải để lại thanh kiếm cho người cất giữ. Trong tiệc, lời qua tiếng lại, ông giận, kiếu từ ra về. Nhận lại thanh gươm. Lúc đó võ sĩ có lệnh đến bắt. Ông tuốt gươm : lưỡi gươm biến mất, còn cái… cán thôi! Dĩ nhiên, loay hoay, đại tướng đã bị gươm kề ngang cổ!
    Gươm là phương tiện của võ tướng. Có thể xem ngôn từ, chữ nghĩa, tiếng nói là phương tiện của nhà thơ hay không?

    + Có một khía cạnh khá quan trọng trong tiếng Việt. Đó là thành phần Hán Việt.
    Trước 75, có khoảng 25-30% từ Hán Việt trong tiếng Việt. Sau, này có chừng 60-70%. Hán Việt được dùng thường xuyên trên đài và báo chí VN. Trong dân chúng có thể ít hơn, nhưng vẫn còn mật độ dầy đặc hơn xưa. Tui có thể trích ra bất cứ bài viết nào thuộc các tờ báo nhà nước VN, đếm từ Hán Việt sẽ không ít hơn 60%. Đó là chưa kể sự khác nhau rất lớn giữa từ Hán Việt trước đây và hiện tại.

    + Đại Hàn Dân Quốc và Nhật Bản cũng là những nước còn giữ chữ gốc Hán trong tiếng nói của họ. Và sự khác nhau giữa họ với VN là: học sinh trung học của họ buộc phải viết thông thạo khoảng 2000 Hán Tự, lên College, đòi hỏi khoảng 3000. Khác nhau ghê lắm. Bởi, người Đại Hàn và Nhật, về mặt học thuật, họ có thể sáng tạo thêm tiếng nước mình dựa một phần trên sự hiểu biết Hanja và Kanji.

    Còn VN?, mặt này, VN bất khả. Điều nghịch lý là, tuy không thể đọc được Hán Tự, tiếng Việt hiện tại lại “dày đặc” từ Tàu theo TQ ! Điều này khá rắc rối và nguy hiểm. Vì người Việt có thể nói “xử lý” con người và chất thãi giống nhau. “Sự cố” dùng chung cho cả accident tai nạn và event sự kiện v.v… Hễ “chính thống” đã “nhân dân” thì là cứ nhân dân, ít ai muốn dùng khác, như dân chúng, công chúng, cũng là từ Hán Việt do người Việt đặt ra.

    Tóm tắt,
    Viết ý kiến này tui hoàn toàn không nhằm thuyết phục ai. Vả chăng, nhà thơ cần nói gì thì họ nói hết trong tác phẩm của mình. Trong thâm tâm tui rất mong được đọc những sáng tác thi ca hay và đẹp từ tiếng nói của hiện đại Việt Nam. Xưa hay nay, thể loại nào cũng được. Tân kỳ hay cổ điển, thanh hay tục, cũng không hề gì. Có điều, nếu đã tục thì tục nên hay hơn những dấu mốc trong văn học VN.

    Hanja
    http://en.wikipedia.org/wiki/Hanja
    Kanji
    http://en.wikipedia.org/wiki/Kanji

  • Phan Đức says:

    Theo tôi, cần phải phân biệt rạch ròi giữa chính trị và đảng trị, nếu không thì người
    có khả năng hay sở trường sáng tác sẽ dễ mắc vào vòng lẩn quẩn của trò chơi chữ nghĩa mà nhà nước CS. cố tình tạo ra như một cái bẫy.

    Đối với nhà cầm quyền, chính trị trong quan điểm tổng quát hóa của họ là đảng trị. Do
    đó, họ phê phán bản nhạc này hay vở kịch kia v.v. là thiếu tính đảng, chứ không phải là tính chính trị. Hình như tác giả bài này hiểu chính trị như nhà cầm quyền hiểu thì phải? Người sáng tác tài giỏi có thể viết ra một bài thơ hay mà không cần xử dụng những từ ngữ liên quan đến chính trị như người CS. thường vơ vào cho chính họ.

    Nơi giới sáng tác, chính trị được hiểu như một bầu trời rộng lớn có khả năng bao quát được gần như hầu hết lãnh vực trong đời sống con người, chứ không chỉ gói trọn trong
    ý thức hệ của chính quyền.

    Văn chương là sáng tạo. Đó là yếu tố không thể không có của người sáng tác, vì thế cái
    trống rỗng của văn chương không đáng lo cho bằng nó có mới lạ hay không.

    Bài này có chi tiết sai về Trần Dạ Từ là người chưa hề một ngày làm lính Cộng Hoà.

  • Có những đường ranh chấp chới mà thơ ca cheo leo trên đó: làm thế nào một bài thơ có chủ ý chính trị được đọc với hiệu ứng thơ ca của nó, chứ không phải một bài báo mô tả hay một bài vè, một vở phát thanh được lên sẵn ý tưởng? Khi nào sự phản kháng thành một phẩm chất và khi nào nó chỉ là một mục tiêu? (NT)

    Có người muốn thơ hôm nay như như viên đạn, như cái búa, hay chí ít cũng là tiếng… đù. Tui hiểu họ muốn nói gì. Nhưng tui đọc thơ, và không đồng với ý đó.
    Tui nghĩ, thơ không phải là cái búa. Thơ là năm ngón tay chắc dẻo cầm búa. Chưa đủ. Lực không nằm tại búa. Nội lực thơ tiềm ẩn. Là một điểm mạch nhảy nơi huyệt Nội Quan mặt dưới cổ tay cầm búa.

    Nguyễn Trãi viết bài thơ “Dục Thúy Sơn”, trong thời kỳ đang đánh giặc:

    Hải khẩu hữu tiên san
    Niên tiền lũ vãng hoàn
    Liên hoa phù thủy thượng
    Tiên cảnh trụy nhân gian
    Tháp ảnh trâm thanh ngọc
    Ba quang kính thúy hoàn
    Hữu hoài Trương Thiếu Bảo
    Bi khắc tiển hoa ban

    Tạm dịch:

    Cửa biển có ngọn núi Tiên
    Năm trước ta vẫn thường hay qua lại
    Hoa sen nổi trên mặt nước
    Như cảnh Tiên rơi xuống trần gian
    Bóng tháp như cái trâm bằng ngọc màu xanh
    Giắt búi tóc màu thúy in trong mặt nước sóng sáng như gương
    Bổng nhớ đến ông Trương Thiếu Bảo
    Tấm bia khắc thơ điểm hoa rêu lốm đốm

    Bài thơ là một bức tranh đẹp. Rất đẹp. Đẹp như cảnh Tiên. Và một chút hoài cảm tình bạn thơ văn. Tuyệt không có một câu “hào khí ngất trời ” cừu hận nào, ngay trong thời giáp chiến. Đọc bài thơ khiến yêu thêm giang san cẩm tú và mến mộ tình cảm văn nhân. Thế thôi, yêu và mến. Nhưng biết đâu chính lòng mến yêu đó khiến dây cung nghĩa sĩ Lam Sơn buông những mũi tên chính xác!

2 Pingbacks »

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)