Trang chính » Biên Khảo, Điện Ảnh, Giới thiệu tác phẩm, Nghệ Thuật, Nhận Định Email bài này

L’élegance du hérisson: Từ một cuốn sách đến cuốn phim

 

 

herisson

 

Cuốn phim mà tôi mới xem có tên Le Hérisson (con nhím), được quay thành phim dựa trên cuốn truyện của Muriel Barbery với tựa L’Elégance du Hérisson (Vẻ lịch lãm của con nhím). Nhà thực hiện là Mona Achache (sinh năm 1981) với thành tích là làm diễn viên vai phụ vài lần và cũng có làm một phim tài liệu cùng hai phim ngắn. Chỉ có thế! Người ta không hiểu tại sao có sự thỏa thuận giữa tác giả với nhà làm phim dễ dàng như vậy nếu không là mối đồng cảm chớp nhoáng bắt gặp ngay phút đầu. Nên biết là việc điều đình đã xảy ra khá sớm nhưng lúc ấy theo báo Figaro thì cuốn sách đã bán được đến 700 000 cuốn! Và một ngạc nhiên khác: nhà thực hiện chỉ mua bản quyền sách với giá 35 000€ thôi (theo Figaro; nhưng một nguồn tin khác thì bảo là 100 000€, dù sao món tiền cũng còn cứ quá thấp). Suy việc, chúng tôi phỏng đoán là có một mối cảm thông sâu sắc và tin cậy nào đó giữa tác giả và Mona Achache chăng. Một điều đáng nói khác là tác giả Muriel Barbery nghe bảo là một người ngại tiếng tăm, cô trốn kỹ trong khi sách của cô bán chạy như tôm tươi, con số cuối cùng là trên một triệu cuốn chưa kể 250,000 cuốn tung ra sau đó dưới dạng sách bỏ túi. Còn cô Mona Achache thì tuy mới chập chững trong nghề nhưng theo thiển ý cô đã tạo một phim xem được, những sửa đổi từ cuốn sách sang cuốn phim cũng hợp lý thôi –vì lý do kỹ thuật.

*Từ cuốn sách…

Cuốn L’Elegance du Hérisson do nhà Gallimard xuất bản năm 2006. Tác giả là một người đàn bà trẻ (sinh năm 1969) cựu học sinh trường sư phạm danh tiếng ENS, có bằng thạc sĩ, một học vị riêng trong hệ thống giáo dục Pháp, về triết học. Bắt đầu viết cuốn sách đầu năm 2000, mãi đến sáu năm sau bà mới cho ra mắt cuốn này, cuốn thứ hai. Là một kẻ kín đáo, mặc dù tác phẩm được dư luận chú ý, bà không là khuôn mặt của đám đông. Sau khi ra mắt cuốn sách, bà sang Nhật cư ngụ cùng với chồng, vì qua cuốn sách ta cũng thấy bà bày tỏ mối hâm mộ đặc biệt đối với văn hóa Nhật Bản.

Câu chuyện xoay quanh ba nhân vật chính: bà gác dan chung cư sang trọng của giới trưởng giả tọa lạc ở số 7 đường Grenelle, tên Renée Michel năm mươi bốn tuổi, chỉ học hết bậc tiểu học nhưng mê đọc sách và nhờ đó có một hiểu biết văn chương đáng kể; cô bé Paloma Josse mười hai tuổi rưỡi, thông minh quán chúng, con một gia đình trong chung cư, bố là dân biểu, mẹ cũng có học nhưng không cần làm việc, chỉ ở nhà và chăm lo thứ “bệnh tưởng” của mình, một mẫu nhân vật Molière hiện đại; ông Nhật giàu có Kakuro Ozu (bà con xa gần của nhà điện ảnh nổi tiếng Nhật, Yasujiro Ozu) tượng trưng cho những người Nhật vừa giàu vừa có văn hóa. Cấu trúc của cuốn sách được sắp xếp bằng những độc thoại xen kẽ giữa bà gác dan Renée và cô bé Paloma. Bà Renée kể về đời mình từ nhỏ đến khi lấy chồng rồi chồng chết và bà vào làm chân gác dan. Công việc của người gác dan là phục vụ cho việc lên xuống cầu thang máy của người trong chung cư, phát nhận thư tín, bưu phẩm và vài việc lặt vặt khác; ngoài ra, đời sống riêng của bà là con mèo mập Léon và một góc khuất có cửa khóa, sào huyệt của bà trong đó chứa sách và là chốn trú ẩn yên bình mà không ai biết, nơi bà đánh bạn với tác phẩm của các nhà văn lớn.

josiah-balasko-herisson

Josiane Balasko trong vai Renée, bà gác dan trí thức với con mèo Léon

Renée cố tạo cho mình một bề ngoài hoàn toàn ăn khớp với vai trò người gác dan một cách gần như quá đáng bởi bà không muốn cho ai hiểu rằng bà có một sinh hoạt tinh thần vượt khỏi trình độ của giai cấp xã hội đáng phải có. Bên cạnh đó, bà cũng là kẻ nặng mặc cảm tự ti. Bà tự giới thiệu mình ngay trong phần đầu cuốn sách y như các nhân vật hát bội kiểu Tàu, như ta đây là… “Renée năm mươi bốn tuổi. Từ hai mươi bảy năm nay tôi là kẻ gác dan của nhà số 7 đường Grenelle, một khách sạn đẹp, tư nhân có sân và vườn bên trong, chia thành tám gian nhà ở loại thượng hạng, tất cả đều có người ở, tất cả đều sang trọng. Tôi, góa chồng, thấp bé, xấu xí, mập ú, có mụn chai đầy bàn chân, và có những buổi sáng có hơi thở của giống ma-mút. Tôi không học hành nhiều, luôn luôn nghèo khổ, che dấu, vô nghĩa. Tôi sống một mình với con mèo bự… Nó cũng như tôi không muốn cố gắng gia nhập vào đám đồng loại. Vì tôi hiếm khi dễ thương, tuy rằng luôn luôn lễ độ, nên người ta chẳng thương tôi nhưng họ vẫn khoan thứ bởi tôi ăn nhập với dạng thức xã hội mẫu của một đứa gác dan”…

Mỗi tuần hai lần vào buổi xế, Renée có người bạn đến viếng cùng uống trà với nhau, bà Manuela, một người đàn bà người Bồ Đào Nha, gốc trưởng giả thất thời, giờ cũng làm người đi lau quét nhà cửa cho người. Câu chuyện trao đổi giữa họ thuộc về công việc tủm mủn mà họ cáng đáng hàng ngày. Bà này không “thông thái” như Renée đến nỗi khi bà nghe lỏm chuyện người về kể cho bạn, chuyện hai con mèo một con tên Kitty còn con kia bà không rõ thì Renée vọt miệng: có phải Lévine không? (tên hai nhân vật trong Anna Karénine). Bà bạn gật gật ra chiều có thể là đúng nhưng gặng: liệu có dính dáng gì với… cộng sản không. Thì ra Lévine nghe thành Lénine!

Manuela

Ariane Ascaride trong vai Manuela, bạn của Renée

Cô bé Paloma Josse vì quá thông minh đã thấy trước cái lẩn quẩn chật hẹp ngu muội của đời sống vô nghĩa được tượng trưng qua hình ảnh con cá đỏ trong bình thủy tinh, đã quyết định sẽ tự tử vào ngày sinh nhật mười ba tuổi của cô. Sự lựa chọn đó không mang ý nghĩa bi thảm mà có chất absurdité của Albert Camus cho nên cô vẫn hăng hái sống, hăng hái ghi chép những suy nghĩ của cô vào nhật ký mà cô lấy tựa là những “suy tưởng sâu xa” và “nhật ký về sự chuyển biến trần thế”. Nhưng với những kẻ “bình thường” việc sống tách rời cộng đồng là một điều bất thường. Bố cô, một hôm tỏ vẻ khó chịu: “Tại sao con trốn?” Cô lý luận với mình rằng cô không đi trốn, cô chỉ tách xa mọi người để quan sát và suy nghĩ. Nhưng không biết trả lời sao với bố, cô không thể bảo tại vì các người làm tôi điên đầu và vì tôi còn một công việc trọng đại phải ghi chép trước khi chết; cô bèn nửa đùa nửa thật: “tại con nghe muôn thứ tiếng trong đầu.” Tai họa! Bố cô trợn trừng đến muốn lọt mắt ra ngoài và bà mẹ làm ra bộ tỉnh táo, vỗ về: “Không sao đâu con!” rồi lập tức gọi điện thoại cho ông tâm lý gia; còn Colombe, chị cô: “Em nghe bao nhiêu thứ giọng?…” Cuối cùng cô phải ngoan ngoãn cùng mẹ đến thăm nhà tâm lý mà cô chê rằng chẳng hơn gì cô. Cô đã dùng giọng văn hài hước để mô tả ông cùng câu chuyện đối đáp giữa hai người. Cô vạch mặt thứ trò chơi gian lận của nhà tâm lý và đạt được thỏa thuận với ông ta. Ông ta sẽ tuyên bố với mẹ cô rằng trạng thái tâm lý của cô bình thường để cô không cần đến gặp ông ta nữa.

Paloma-with-goldfish

Garance Le Guillermic trong vai Paloma đang suy nghiệm “cái lẩn quẩn chật hẹp” của đời sống như bao nước đựng con cá đỏ

Cuộc sống của hai nhân vật vừa nêu ra đáng lẽ cứ tiến triển lặng lẽ như vậy nếu không có một biến cố mới. Bà Renée làm công việc hàng ngày và khi rỗi thì chui vào sào huyệt mà đọc sách và thỉnh thoảng cười thầm một mình về một lỗi văn phạm, một cách sử dụng từ ngữ sai lầm của những kẻ tự cho là ở trên bà, đồng thời lại đóng vai dốt nát khi tiếp xúc với họ. Cô bé Paloma thì cắm cúi một mình trong phòng, chống đối cô chị, dửng dưng với bố mẹ, rình rập quan sát mọi người, và nếu cần, sửa sai bố mẹ khách khứa khiến ông bố quát : “nếu sự hiện diện của mày chỉ để làm mất mặt khách thì tốt hơn mày cút đi nơi khác,” vì quả thật cô biết nhiều, hiểu thấu. Cô đang học tiếng Nhật vì cô rất yêu văn hóa Nhật Bản, và thích đọc sách tranh manga.

Đừng ai hòng len chân vào chung cư số 7 đường Grenelle vì chẳng gia đình nào muốn bán nhà, họ chỉ làm việc cha truyền con nối, nhưng sự lạ đã xẩy ra khi một ông làm nghề viết phê bình về món ăn bỗng ngã ra chết bất đắc vì bệnh tim. Bà vợ không muốn nán lại nên rao bán nhà. Khách mua nhà là ông Nhật Kakuro Ozu: một biến động lớn trong chung cư khi ông này dọn nhà đến và đưa thợ vào sửa chữa. Ozu trở thành hiện tượng cho mọi quan sát của đám người trú ngụ. Không thể khinh khi ông ta được vì ông ta giàu, chứng cớ là ông đã không bằng lòng với cách xây cất một bin-đinh hạng cao như vậy mà còn cho thợ đến sửa chữa cho vừa ý; cũng không thể có ác cảm với ông ta được khi ông ta ung dung bặt thiệp lễ độ với tất cả mọi người.

Đặc biệt là với Renée Michel, bà gác dan. Việc đưa khách mới đến để giới thiệu với bà là điều tự nhiên để bà hay rằng có thêm người đến ở tức thêm nhiệm vụ phải gánh vác. Nhưng thái độ của khách mới rất đặc biệt. Ozu chào bà kính cẩn, sự kính cẩn thành thật chứ không phải thứ lịch sự nhằm tăng tư cách mình hơn là kẻ kia của đám người lâu nay trong chung cư. Cũng trong thời gian đó, có hôm một người trong chung cư đã vô ý đánh đổ giỏ thức ăn mà bà Renée đang giữ trên tay khi ở chợ về. Cô bé Paloma có mặt lúc đó và chứng kiến trong số thực phẩm có cả một cuốn sách nội dung khá nặng nề. Cô phân vân không biết bà làm gì với cuốn sách ấy. Mang chuyện kể với ông Nhật (cô đã làm quen được ông trước nhất và được ông mời lên phòng ông chơi), ông này thì quyết đoán rằng bà gác dan là một loại “nữ hoàng nhập nội bất hợp pháp có trình độ văn hóa lỗi lạc”. Họ đồng ý cùng nhau điều tra về bà, và sau đó cô bé Paloma đã tóm tắt nhận định của cô bằng công thức “Vẻ lịch lãm của con nhím.” Đó là con vật luôn thủ thế với chùm lông nhọn, chẳng ai biết bên trong da thịt, lòng dạ nó ra sao; họa chăng chỉ có Kakuro, thủ đắc một truyền thống văn hóa thâm trầm và tinh thần nhân bản cho phép ông khám phá ra cái phong phú bên trong của con vật xấu xí ấy chăng?

Rồi bà Michel nhận gói bưu phẩm đưa đến mang tên người nhận là chính bà, cuốn Anna Karénine của Léon Tolstoï với giòng chữ ngắn: “Thưa Bà, Để nhớ đến con mèo (vì bà đặt tên nó là Léon) của bà, Thân mến, Kakuro Ozu”. Vẫn còn trong thế tự vệ bà đã viết lời cám ơn Ozu với mọi cách mà bà cho là đủ để hóa trang che đậy con người bà. Nhưng chỉ vài hôm sau, Ozu lại đến gõ cửa, nói về cuốn sách. Bà lại cám ơn lần nữa nhưng Ozu đáp không phải ông đến để được bà cám ơn mà là để mời bà dùng cơm tối với ông.

Kakuro

Togo Igawa trong vai Kakuro Ozu, mộr người bạn hào phóng của Renée

Phải chăng cuộc sống tối tăm xám xịt của bà gác dan từ đây đã nhận được chút lóe sáng qua vài cuộc chuyện trò về văn chương, nghệ thuật với Kakuro dưới hình thức những bữa goûter hay ăn tối khi tại nhà ông, khi ngoài nhà hàng sang trọng. Sự giàu sang của ông Nhật đã cho phép ông hào phóng –hào phóng mà vẫn thanh cao– khi tặng cuốn sách, khi tặng bộ áo quần để bà có thể ra đường như mọi người. Chỉ cần một mẩu đối đáp ngắn giữa hai người để đủ cho ta thấy cái thâm trầm của ông Nhật: ông đến mời bà đi ăn tối để mừng sinh nhật ông. Bà diện bộ quần áo mà ông biếu. Họ khoác tay nhau bước ra cửa khi hai phụ nữ ở trong chung cư vừa đi đâu về, nhìn thấy hai người và lên tiếng chào. Trong cung cách chào cho ta thấy là họ không nhận ra bà gác dan đi bên ông Nhật mà chỉ là một người phụ nữ nào đó khiến Renée Michel thắc mắc. Bà bảo với ông bạn: “họ không nhận ra tôi ông ạ!” Ông Kakura thâm trầm: “Họ không nhận ra bà vì họ chưa bao giờ thấy bà”. Ý tưởng chủ đạo của truyện ta có thể nói chỉ gồm trong hai đoạn, một do cô bé Paloma nói về bà gác dan (ví bà như con nhím), và một của Kakuro trên đây.

Người đọc, trong tinh thần truy tìm tinh hoa của tư tưởng tác giả, có thể không cần đi xa hơn; dừng lại ở đây cũng đã vừa.

Đoạn kết như thủ tục cần phải có của một cuốn truyện là cái chết của bà gác dan. Trong cảm giác lâng lâng nhờ dư vị đêm trước đi ăn tối với ông Nhật, sáng sau bà thức giấc, trở lại với công việc thường nhật của người gác dan là đẩy mấy thùng rác của chung cư ra tận vỉa hè chờ xe đến lấy và ra chợ. Bà nhìn thấy ông ăn xin vẫn lây lất hè đường quen thuộc hôm ấy đang múa may bất chấp xe cộ qua lại, bèn bỏ giỏ hàng chợ đến kéo ông vào lề. Một chiếc xe giao hàng buổi sớm ngang qua đấy đã xô vào bà. Renée Michel ngã xuống mắt còn đọc được giòng chữ sơn trên xe : “Giặt ủi Malavoin.”

Như con khỉ của Trang Tử đã ăn hết phần chuối dành cho nó, ta còn chờ đợi gì trong cuộc sống: René Michel đã ngốn ngấu những quả chuối cuối cùng của đời bà hơi vội vã nhưng hãy còn may mắn hơn chán vạn phần số khác. Phút cuối trong ngắc ngoải bà nghĩ đến cô bé Paloma, ông Kakuro, bà Manuela là những người bạn đích thật của bà và thầm vĩnh biệt chú mèo ú Léon! Phần Paloma, cô đã bỏ ý định tự tử và đốt chung cư; cô nguyện rằng từ nay cô sẽ đi tìm cái đẹp khi đã thấu rõ ý nghĩa của chữ “luôn luôn” và chữ “không bao giờ nữa.”

đến việc thực hiện cuốn phim

le-herisson-the-hedgehog-movie-poster

Ngôn ngữ viết không thể là ngôn ngữ điện ảnh. Với hai mẩu độc thoại xen kẽ nhà làm phim phải tìm cách thay thế. Người ta nghĩ ra cách giao cho cô bé Paloma chiếc máy quay phim để thu vào ống kính mọi ghi chép trên giấy của cô. Người ta cũng bỏ bớt đi vài nhân vật không cần thiết lắm, thí dụ chàng thư ký riêng của ông Kakuro là Paul Nguyễn, và sắp đặt cho ông này thêm một số việc do Paul đảm nhận trong sách. Tuy nhiên cuốn phim đã tương đối chấp hành đầy đủ công tác chuyển đạt chủ đích tác phẩm. Nó không bề thế, không đề nghị được cái khắc khoải của nỗi đời trong lời kể của bà gác dan qua các trang sách; nó khiêm tốn hơn nhưng người xem có cảm tưởng nhà làm phim có chỗ ngại ngùng sợ không dám làm đổ vỡ nét tế nhị của con nhím e có khi lầm lạc khiến nó xú lông ra chăng?

Rốt cuộc, như tôi đã nói một lần, đọc bài tóm tắt một cuốn sách (và cuốn phim) chẳng khác nghe trực tiếp truyền thanh trận bóng đá. Tốt hơn nên mua vé đi xem…

bài đã đăng của Đặng Đình Túy


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)