Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Nhân đọc “Nửa Mặt Trời Vàng”…[1]

 

 

 

Tôi phải nói cho có đầu có đuôi:

1) Nửa Mặt Trời Vàng là đầu đề một cuốn tiểu thuyết mô tả một giai đoạn lịch sử của nước Cộng Hòa Liên Bang Nigeria, một quốc gia ở miền đông nam Phi châu vào một thời điểm nhất định: gìữa thập niên 60 khi mà quốc gia này sau thời kỳ lệ thuộc ngoại bang – hết Bồ đào nha đến Anh quốc – đã thu hồi độc lập; nhưng tiếp sau đó là thời kỳ anh em chém giết nhau, lý do ngoài mặt là sự phân biệt các gốc dân, các niềm tin tôn giáo khác nhau nhưng đàng sau nó còn có lý do thuộc về nguồn lợi kinh tế. Vào năm 1967 dân vùng Biafra ở mạn nam đa số là người gốc Igbo đã nổi lên đòi tự trị, tách khỏi liên bang. Họ thành lập chính phủ, tổ chức hành chánh, giương cao ngọn cờ có biểu hiệu nửa mặt trời màu vàng như quốc kỳ riêng của xứ họ. Cuộc kháng chiến kéo dài ba năm, lúc đầu họ có vẻ thắng thế nhưng dần dần lực lượng liên bang phản công bao vây cô lập dần các thành phố lớn, và cuối cùng họ đành đầu hàng trong khi thủ lãnh bỏ trốn sang Côte d’Ivoire tị nạn.

2) Tuy là cuốn tiểu thuyết nhưng phần bối cảnh lịch sử là thật. Câu chuyện được xây dựng quanh các nhân vật chính mà trục là chị em cô Olanna (em) và Kainene (chị), hai người con gái tân tiến con nhà giàu, được bố mẹ gửi sang Anh học hành đến nơi đến chốn. Một khi có được một hành trang kiến thức như họ, những suy nghĩ được đặt trên lý luận chặt chẽ. Theo mô tả của tác giả thì cô em xem ra có nhan sắc vượt cô chị, và vì nhờ sắc vóc cô sẽ được nhiều người chú ý do đó cô lãng mạn hơn chị cũng chỉ là điều hợp lý. Tính chất lãng mạn đó đưa cô đến một chọn lựa người bạn đường tương lai, một bên là anh chàng giàu có rất môn đăng hộ đối gốc người Hausa tên Mohammed, một bên nữa là vị giáo sư đại học trẻ tuổi Odenigbo có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, một mẫu thanh niên trí thức lãng mạn cách mạng. Cán cân tình cảm nghiêng về phía nào ai cũng đoán được. Trong khi cô em bay bướm thì cô chị nghiêm khắc, gần như khô khan mà sự có mặt trong những trang đầu sách đã gây ác cảm cho người đọc nhưng dần dần người ta sẽ nhìn ra giá trị của cô và sẽ bị nhân cách cô chinh phục đến nỗi việc mất tích của cô ở cuối sách đã khiến người đọc nuối tiếc. Có hai người đàn bà tất nhiên sẽ có hai hoặc nhiều người đàn ông, ngoài ông giáo sư còn có Richard, một thanh niên Ăng-lê. Anh chàng này theo mô tả của tác giả, ta thấy tuy là người Anh, đại diện cho thành phần cựu chủ nhân của đất nước, anh lại thất thế trăm bề. Anh bơ vơ trên thuộc địa cũ, lúc đầu ở nhờ người bạn gái Susan, sau nhân dịp gặp Kainene anh đem lòng yêu Kainene và bỏ rơi Susan. Nhưng, như nhận định của cô Hải Hà, người dịch sách, thì đó là một gặp gỡ khá bất thường của những mối tình dị chủng mà chúng ta quen nhìn thấy. Thông thường người đàn ông da trắng ở với người đàn bà da màu thì người đàn ông ấy luôn ở thế “thượng phong” từ vật chất đến địa vị xã hội; đàng này Richard chỉ là một kẻ chưa đủ trưởng thành, anh sang xứ người mơ tưởng sẽ viết được cuốn sách qua những nghiên cứu mỹ thuật làm bình bằng đồng để được coi là nhà văn. Tâm hồn anh trong trắng đạo đức đến nỗi khi gặp Kainene và cảm thấy yêu nàng, được nàng hôn chào (chắc là chỉ trên má) kịp đến khi nàng hôn lên môi thì anh đã cảm thấy không còn chung thủy với Susan nữa, anh lý luận: “Chung thủy không chỉ giới hạn trong phạm vi tình dục!” Khổng Tử cũng chỉ nghĩ đến như vậy là cùng. Yêu Kainene anh dọn về ở nhà nàng (cũng như trước kia ở nhà Susan) anh luôn luôn sống tùy thuộc vào đàn bà. Với Kainene, đôi ba lần anh nổi ghen nhưng không dám biểu lộ tình cảm mình, điều đó giải thích tại sao lần đầu anh không đủ bình tâm để thực hiện cuộc chăn chiếu cùng nàng: Richard bị một thứ mặc cảm tự ti khốc liệt, ít ra là đối với người đàn bà anh yêu. Ngoài những nhân vật chính còn khá nhiều nhân vật phụ, đa số là bạn của cặp Odenigbo-Olanna, như bác sĩ Patel, đồng nghiệp dạy học, Okeoma nhà thơ, bác sĩ Nwala; ngoài ra còn có thiếu tá Madu mà vị trí của ông ta đối với Kainene có chỗ hồ đồ khó hiểu, quá thân mật, gần như đồng lõa, phải chăng họ đã có gì với nhau trước khi Richard xuất hiện? Sau cùng, có một nhân vật quan trọng mà tôi chưa nhắc tới là chú bé Ugwu mười ba tuổi khi lần đầu bước vào nhà Odenigbo để giúp việc. Chú may mắn được ông chủ cư xử tốt, điều đó cũng chỉ là lẽ thường khi ông chủ của chú là một trí thức mà là trí thức cấp tiến có khuynh hướng xã hội. Rồi tiếp sau, ông chủ gặp bà chủ, chú bị bà chủ chinh phục vì nhan sắc mà cũng vì tư cách của bà nữa. Và như vậy, chú nghiễm nhiên trở thành kẻ quan sát và đồng thời, chứng nhân cho cuộc sống của hai nhân vật chính, Odenigbo và Olanna. Là một giáo sư trẻ có tư tưởng cấp tiến, Odenigbo nhiệt thành, nhiệt thành trong yêu đương, trong công việc và trong lý tưởng mà anh theo đuổi. Nhưng rõ ràng anh là mẫu người đại diện lý tưởng mà Mao Trạch Đông khinh bỉ so sánh với chất thải của sinh vật. Anh hăng hái tham gia phong trào đòi tự trị do Ojukwu đề xướng trong khả năng của anh và với lòng nhiệt thành tuổi trẻ; song song với “việc nước” chuyện lòng cũng diễn tiến tốt đẹp, anh yêu Olanna và được nàng đáp lại bằng những say đắm sôi bỏng ngang bằng. Theo truyền thống xây dựng truyện thì bên cạnh một nhân vật chính diện Odenigbo phải có nhân vật phản diện trên mỗi phạm vi đời sống. Trong chuyện tình cảm, anh vấp phải sự chống đối của bà mẹ cổ hủ đang tìm mọi cách để tẩy chay cô con dâu tương lai có học tân thời kiểu Olanna. Bà ta đã bạo tay đến độ đạo diễn cho một đêm chăn gối giữa cậu con trai mình với cô gái người làm nhân dịp Olanna vắng mặt. Anh ta lọt bẫy! Chuyện thường thôi. Tình mẫu tử tuy bị những thử thách dữ dội không làm cho hao hụt chút nào trong anh. Bắt đầu khi nhận tin mẹ chết trong chiến tranh, tinh thần anh xuống dốc. Cùng với sa sút tinh thần do cái chết của mẹ là tình trạng xuống cấp về mặt vật chất gây ra bởi cuộc chiến. Odenigbo buông tay, không còn là người thanh niên đầy hăng hái với lý tưởng thuở trước, cũng không là người tình nồng nàn đối với Olanna. Anh đâm ra nghiện rượu bê tha và, trong gam màu nhạt hơn, tác giả vẽ ra cuộc tình vụng trộm mù mờ giữa anh với một người đàn bà tị nạn mà quá khứ cũng mù mờ không kém. Olanna trái lại. Nàng tỉnh táo hơn nhiều. Khi được yêu nàng đền đáp hết mình; khi tìm thấy dấu hiệu xấu nàng cũng có những toan tính hết sức lý trí trừ một lần bấn loạn, nàng đã tự để ngã vào vòng tay Richard, ông anh rể hờ. Nhưng nàng, cũng như Richard, không ai có ảo tưởng về bước sẩy chân ấy cả, mặc dù Richard ngay lần đầu nhìn thấy đã sững sờ vì dung nhan nàng. Cặp trai gái chính, tuy nhiên chẳng chinh phục được tôi – người đọc – mà tôi lại đem lòng yêu cặp thứ hai, Kainene và Richard. Kainene lý trí và hơi lạnh lùng, và nhất là trên bình diện xã hội cũng như vật chất nàng đều vượt xa Richard, người tình Ăng-lê của nàng, ấy thế mà nàng cũng biết yêu và yêu được Richard, một hình tượng hoàn toàn ngược lại với quan điểm mà nàng xây dựng. Tình yêu nàng chừng mực, nó tiến chậm và nó tiến chắc nếu xét đến những trở ngại nàng phải đương đầu. Nàng lý trí và rộng lượng hơn ta tưởng, đặc biệt là cách nàng xử sự với người tình cũng như cô em ruột khi biết rằng hai người đã ngủ với nhau. Về gần cuối sách, ta thấy nàng tham gia vào công tác cứu trợ người tị nạn, tích cực trong những nỗ lực riêng đến nổi gặp nguy (không rõ lắm) cho bản thân. Còn Richard? Anh, cho đến trang chót, vẫn còn là cậu thiếu niên mới lớn. Anh tự đặt mình dưới sự nhào nặn của Kainene, nhưng anh cũng có chỗ đáng yêu. Là hình ảnh của thế hệ sau, anh như là kẻ đi chuộc tội cho tiền nhân thực dân của lớp cha ông. Anh ném trả lại thế hệ trước cái cung cách ông chủ để xin làm bạn thiết với người Igbo và anh tỏ rõ thiện chí trong việc tham gia thực sự vào cuộc tranh đấu của họ qua những bài báo do anh viết ra đến độ anh chàng thiếu tá Madu hãnh tiến kiêu căng cũng phải nhún mình cầu khẩn. Cuộc kháng chiến của Biafra cuối cùng thất bại nhưng tinh thần chiến đấu của họ vẫn khiến đối phương e dè. Lá cờ nửa mặt trời vàng sau rốt đành phải xếp lại. Quân đội liên bang tiến đến Biafra và vị thủ lãnh linh hồn của cuộc kháng chiến chạy sang tị nạn bên nước láng giềng Côte d’Ivoire để lại người phụ tá dàn xếp việc đầu hàng.

3) Cuốn truyện do một nữ văn sĩ trẻ viết, bà Chimamanda Ngozi Adichie, sinh năm 1977, tức là mười năm sau khi cuộc chiến Biafra chấm dứt. Bà tốt nghiệp đại học Nsukka, chính là nơi mà nhân vật giáo sư Odenigbo giả tưởng của cuốn truyện tùng sự, sau bà sang Mỹ học tại đại học Drexel University ở Philadelphia trước khi theo học khóa viết văn tại đại học Hopkins. Cuốn truyện thứ nhất của bà, Bông Bụt Tím, được giải thưởng dành cho các nhà văn trong Khối Thịnh Vượng Chung (Commonwealth) về tác phẩm xuất sắc đầu tay năm 2005 (Best First Book Award), tiếp theo năm 2007 bà nhận giải Orange Prize dành cho truyện hư cấu nhờ cuốn sách mà chúng ta đang nói đến, Nửa Mặt Trời Vàng (Half of a Yellow Sun). Những điều chúng tôi viết được dựa trên bản dịch nghĩa là không hề biết đến nguyên bản, nhưng điều đó theo thiển ý không quan trọng vì, sau những giòng sơ lược về nội dung cuốn sách và tác giả chúng tôi sẽ không bàn đến giá trị văn chương của tác phẩm mà là: nghĩ đến cái băn khoăn của kẻ cầm bút khi viết về cuộc chiến vừa qua của chúng ta.

Tấn thảm kịch xảy ra ở Nigeria là thảm kịch chung cho những quốc gia nhược tiểu nhiều năm chịu ách đô hộ của ngoại bang ở vùng Phi châu mà cũng có thể là ở bất cứ nơi nào trên quả địa cầu. Một nước giàu nhờ tài nguyên thiên nhiên lại lạc hậu đau yếu vẫn là miếng mồi ngon cho chủ nghĩa thực dân dưới hình thức xâm chiếm trắng trợn của ngày trước cũng như dưới hình thức hợp tác, tương trợ xây dựng của ngày nay. Người đọc, qua những điều sơ lược mà chúng tôi đã trình bày trên đây có thể, khi đối chiếu với hoàn cảnh cận đại và hiện đại của xứ sở chúng ta, sẽ tự nhủ rằng hoàn cảnh ta và họ có nhiều chỗ tương đồng.

Nhưng trước nhất xin nhắc lại rằng qua vài giòng về tiểu sử bà Adichie, chúng tôi có lưu ý bạn đọc về năm sinh của nữ sĩ, năm 1977, mười năm sau khi cuộc chiến Biafra chấm dứt. Tôi nhấn mạnh điều này với một chủ đích rõ ràng rằng nhiều đoạn mô tả trong cuốn sách có tính chất thật khách quan thật trung thực đã dẫn đưa tôi đến chỗ nghĩ rằng món ăn nguội nhiều khi cũng có điều hay riêng của nó. Tôi tưởng tượng tới các nhà văn thế hệ 8x hay 9x của ta, không biết đã có vị nào dự tính viết về cuộc chiến Việt Nam ba mươi bốn, ba mươi lăm năm trước chăng. Adichie chào đời mười năm sau cuộc chiến Biafra, dù bà cũng có một lập trường nào đó đối với cuộc tranh giành cũ trên xứ sở bà vì tôi thấy ở trang đầu sách bà đề tặng những người ông mà bà không biết, những người bà còn sống sót sau chiến tranh, thậm chí tên những người đã ngã xuống nữa, nhưng ít nhất bà đã không chứng kiến tận mắt những cái chết, những vượt thoát chỉ trong chân tơ kẽ tóc sát cạnh hiểm nguy; bà cũng không biết thế nào là đói khát là sợ hãi… – bà chỉ tưởng tượng. Và tìm tư liệu trong đống hồ sơ cũ. Cùng lắm cũng nên tính đến các mẩu chuyện kể bởi những người đã sống qua. Qua cuốn truyện, thảm kịch Biafra được mô tả theo phương pháp đó.

Đến chỗ này thì chúng ta mong đặt vấn đề: nhà văn liệu phải giống nhiều hay chỉ giống ít nhà sử học. Đức tính cần thiết của sử gia là trung thực và công chính; liệu nhà văn có nên công chính và trung thực như nhà viết sử, trong khi sứ mệnh của sử gia là ghi chép sự thật thì người cầm bút chỉ dựa trên sự thật mà sáng tạo (cho dù việc tôn trọng sự thật là một giá trị phổ quát cho bất cứ hành động nào của bất cứ ai). Tuy vậy cũng đừng nên dùng định đề này mà áp dụng sát nút để sinh những quái thai mang tính tuyên truyền cổ động như trong các nền văn học của các thể chế toàn trị.

Tôi không dám đề cập đến các tác phẩm nói về chiến tranh của các nhà văn miền Bắc vì một lẽ giản dị là tôi không biết chi nhiều, ngắm vài thân cây chưa đủ để phán xét cả cánh rừng; tôi chỉ cố nhớ lại những tác phẩm của các nhà văn miền Nam khi suy nghĩ về đề tài này, đối chiếu với những gì mà Adichie đã viết. Trước nhất, tôi thấy bà can đảm (khi tôi bảo bà can đảm thì tôi đã có hơi liều ở chỗ dù thấy bà không có ý bênh vực phe tự trị Biafra nhưng những nhân vật bà mô tả vẫn được đặt trên cán cân lệch), can đảm là vì bà mô tả cả mặt xấu của họ: cảnh Ugwu và các bạn đồng ngũ hiếp dâm cô gái bán quán nước, chẳng hạn. Khi gặp những đoạn như vậy, tôi giật mình và lập tức ôn lại chính những điều mình đã viết ra, những gì mình đã thực sự nhìn thấy, thực sự sống với, cùng những gì mình đã đọc được qua hai mươi mốt năm sống trong xã hội miền Nam Việt Nam. Tôi không dám cả quyết nhưng chắc là chưa có những thuật lại như vậy trên các bài viết có tính chất văn chương. Và, cũng vì trên kia tôi đã bảo nhà văn tuy không ghi chép sự thật nhưng ít ra phải tôn trọng sự thật nên lại thử đẩy thêm một bước xa hơn: có thể là chúng ta đã tìm cách khỏa lấp? Cá nhân tôi, tôi không tin là tôi có thể khỏa lấp. Chắc chắn là không rồi. Nhưng chẳng lẽ trong hoàn cảnh bi đát của một cuộc chiến quá dài của chúng ta, chưa bao giờ chuyện đó có thể xảy ra? Và phải chăng cuộc sống quân ngũ của tôi quá nhàn tản nên tôi không có dịp chứng kiến bộ mặt bỉ ổi như vậy? Không hẳn. Tôi đã nằm ngót năm trời ở vùng địa đầu và đó là thời điểm 1972, bộ không đủ chết chóc gay go ư? Tôi có mặt ở Pleiku trong những giờ phút chót, khi tại bộ tư lệnh quân đoàn từng nhóm các ông sĩ quan cấp úy chổng mông đốt tài liệu, các ông tá thì bay vù vù (tìm đại tá Tiếu ba lần đều được trả lời là ông đang trên trực thăng bay đâu đó). Bộ lúc đó tôi đi dạo mát ngắm trăng chắc? Tôi có nghe chuyện một vài ông loại “anh hùng hảo hán” cắt tai xác chết các binh sĩ đối phương xỏ dây đeo cổ(?) và nội chỉ nghe kể thôi đã lạy trời mình đừng gặp họ (vì gặp thì không biết mình phải xử trí ra sao với họ). Tóm lại, biết đâu trong trường hợp này tôi là kẻ may mắn.

Nguyễn thị Hải Hà, trong một bài điểm sách viết về Văn Miền Nam Thời Chiến, tuyển tập do nhà thơ Trần Hoài Thư thu thập, chọn lựa và xuất bản, có nhận định rằng qua 117 truyện ngắn mà cô đã đọc, tuyệt không có truyện nào mang ý thức căm thù đối phương. Dù đã biết vậy mà khi nghe cô nói, tôi rưng rưng cảm động, vừa tự hào cho tuổi trẻ (kể cả chính tôi) thời ấy. Tôi không biết nhờ đâu mà những người thanh niên miền Nam đã hành động đẹp đẽ làm vậy. Tất nhiên chúng ta không có mắt để nhìn khắp, nhìn thấu suốt, và một khi có ông đã xẻo tai người đeo vào cổ thì chuyện kia cũng có thể xảy ra lắm chứ. Nhất là những trường hợp của những cuộc hành quân truy lùng trong những vùng xôi đậu, nơi mà người dân ban ngày phải tỏ ra ủng hộ phe này và đêm đến thì hoan hô cổ võ phe kia. Một viên đạn bắn tỉa, một bẫy nổ, một hầm chông được ngụy trang gây chết chóc sẽ có thể là đầu mối cho một loạt càn quét trả đũa hung bạo hơn thường lệ. Tất nhiên người thanh niên Việt Nam sẽ không hành xử như toán lính của William Calley, nhưng không có nghĩa là điều tệ hại không bao giờ có thể xảy ra. Chỉ có nghĩa hiếm hoi hơn. Hai mươi mốt năm đánh nhau, gương anh hùng liệt sĩ không thiếu vậy mà hầu như mọi thanh niên miền Nam vẫn vừa cầm súng mà vừa… lý sự rằng cuộc chiến mà họ theo đuổi không hẳn là lối lựa chọn duy nhất. Có lẽ phải nói như thế chăng, một cuộc chiến tranh… nhân đạo. Cũng là cách để giải thích việc thua cuộc. Tôi dám ngoa ngôn một chút khi đưa ra nhận xét này: hầu hết các cấp chỉ huy thấp (thiếu úy hay chuẩn úy) ít hay nhiều đều đã có một lần trải lòng mình ra bằng văn chương. Đã viết ra tất phải suy nghĩ – trừ trường hợp có kẻ suy nghĩ giùm và vạch sẵn lối đi, nhưng ở miền Nam thì không đến nỗi như vậy. Do đó họ có thái độ chung chung là làm một cuộc chiến tranh nhân đạo. Trong quân đội, kỷ luật là điều quan trọng. Và khi các cấp chỉ huy trực tiếp, thí dụ cấp trung đội, phần nhiều là những người trẻ có học thức, họ cũng rất để ý đến hành vi của thuộc cấp thì chắc những sự việc đáng tiếc hiếm khi xảy ra. Từ nhận định căn bản rằng những người lính phía bên kia chiến tuyến khi cầm súng ra chiến trường, dù sao đi nữa, cũng với động cơ chính đáng là lòng ái quốc, chúng tôi đã chần chừ/suy tính/e dè/cân nhắc thiệt hơn/và rốt cuộc, nhiều lần đã đối xử với họ (tất nhiên là trong phạm vi trách nhiệm và sứ mệnh cho phép) khá rộng lượng và trân trọng!

Tây Phương, kể từ 1945 không hề biết đến chiến tranh. Cuộc sống giàu có, ổn định không có xáo trộn xã hội đáng kể, đối mặt với một tác phẩm viết về chiến tranh, nhất là cuộc chiến tranh xảy ra nơi xứ nghèo đã khiến họ bàng hoàng. Bảng tường trình giàu chi tiết của Adichie tất nhiên phải đánh động lương tâm họ, nhưng với tôi những điều bà viết chỉ mới làm rơi rụng được lớp vỏ ngoài. Chiến tranh không chỉ có vậy, nó đau đớn rách nát vò xé cưa xẻ băm vằm đâm chém ta vạn lần hơn thế. Chỉ có kẻ trong cuộc mới nói hết được. Liệu khi gom lại những giòng ghi từ hai mươi mốt năm vừa qua của những kẻ bên này và bên kia chiến tuyến đủ nói hết cuộc truân chuyên mà người dân Việt đã chịu đựng? Rốt cuộc vấn đề không phải là nói lênquên đi trong cách thế bao dung đẹp đẽ nhất mà người thi sĩ viển vông nọ đã mơ ước rằng “cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp,” thì rồi:

Bồ bịch hết không đứa nào là ngụy
Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng
(thơ Cao Tần)

 


[1] Half o a Yellow Sun, tiểu thuyết của Chimamanda Ngozi Adichie, chuyển ngữ do Nguyễn thị Hải Hà. Nhà xuất bản Lao động và Công ty sách Bách Việt, Hà nội

 

 

.

bài đã đăng của Đặng Đình Túy


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)