Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định Email bài này

Hiện tượng Katherine Pancol

 

Pancol

Chân dung nhà văn Kathérine Pancol trên bìa sau của quyển
Les écureuils de Central Park sont tristes le lundi

 

Thú thật tôi thấy sách cô bày nhan nhản trên sạp mà chẳng bao giờ để ý. Tất nhiên tên tuổi cô được nói đến nhiều nhưng với một quốc gia có truyền thống văn học lâu đời như Pháp, quan niệm về giá trị của một tác phẩm là đề tài cho những cãi cọ dai dẳng. Có những tác phẩm ngay lần ra mắt đầu tiên đã được tập thể văn giới chấp nhận không hề cò kè và những tác phẩm khác, trái lại, được quần chúng đón tiếp niềm nở nhưng lại bị phe cầm bút dửng dưng. Và càng ngày càng dửng dưng thêm. Trường hợp Pancol là một.

Chẳng qua chỉ là sự khác biệt về một thẩm mỹ quan. Có lời đùa của một nhân vật (sâu sắc) nào đó khi quả quyết rằng tác phẩm lớn là tác phẩm mà ai ai cũng đều muốn bàn đến (để tỏ rằng ta thông thái!) nhưng thực sự thì chẳng ai đọc đến đầu đến đuôi cả! Như vậy vấn đề thưởng ngoạn trở thành khoảng không gian đầy tính kỳ thị nghiêm trọng, một bên là phe chữ nghĩa cùng mình (chưa chắc nhé nhưng cũng nên nhận đại, gồm thành phần chuyên môn, thành phần –phần lớn– tạo ra tác phẩm) còn bên kia là quần chúng hồn nhiên, tiếp nhận tác phẩm và chấp nhận/ không chấp nhận chúng khi trong đầu không cần có mớ lý luận căn bản làm tiêu chuẩn cho những phán xét và xác định giá trị.

Ngày nay, trên lĩnh vực truyền thông mà dẫn đầu là ngành truyền hình, người ta bất chấp giá trị thực của con người cũng như kết quả lao tác nơi hắn ; điều người ta chú trọng là sau lưng hắn có bao nhiêu quần chúng ngóng chờ, cái gọi là célébrité. Phương danh hay xú danh không đáng kể, miễn là số đông. Vì vậy có kiều nữ nọ nhờ làm tình trong bồn tắm bị (được) quay phim mà từ đó mọi người thích ngang cô ta. Hiện tượng blog cũng là một minh chứng. Có những blogs có đến hàng triệu độc giả nhờ kể điều gì đó mà mọi người chú ý… nhưng chắc tôi lầm vì kẻ đầu tiên quan niệm về blog không nhằm nói chuyện cao siêu văn chương triết lý chăng. Nói thêm như vậy chỉ để chứng minh rằng quần chúng có thị hiếu của họ trong khi giới élite thì chỉ muốn hướng quần chúng về với …lẽ phải!

Trở lại với Katherine Pancol: cô viết nhiều, sách cô bán chạy như tôm tươi (hôm nọ tôi thấy mấy cuốn sau cùng của cô được gom lại dưới hình thức sách bỏ túi, trang trọng không kém loại “collection” dành cho các nhà văn lớn trong loạt ấn phẩm của Pléiade). Năm 2011 qua bảng xếp hạng của báo Figaro thì cô được xếp hàng thứ ba trong số các tác giả có sách bán chạy nhất trong năm (1,213,000 cuốn; xin đừng so với sách Anh ngữ, thử tính với con số độc giả francophone thì như vậy đã nhiều lắm).

Tuy nhiên không hiểu ai sao chứ tôi thì thượng vàng hạ cám lắm. Tôi biết thưởng thức những tác phẩm lớn nhưng cùng lúc tình cờ vẫn theo dõi những feuilleton kiểu Sex in the City, hay Desperate Housewives được. Vì vậy mà tôi ít “kỳ thị” hơn người khác. Và vì vậy mà một hôm trông thấy cuốn sách nhỏ của cô (loại bó túi, rẻ tiền) thử lật vài trang, nhận ra có chỗ lãng mạn thích hợp cho tâm hồn những người nhạy cảm, tôi bèn mua về đọc và dịch cho riêng một người, làm quà.

Đó là cuốn Un Homme à distance– một người trong cách ngăn. Kẻ đọc bản dịch đề nghị với tôi một tên khác: Người Cuối Chân Mây, xa xôi thêm và trữ tình hơn! Xin vâng vậy, ta cũng nên đẩy hắn tới tận cuối trời.

 

Katherine-Pancol-Un-homme-distance

Cuốn truyện được viết dưới hình thức những bức thư từ đầu đến cuối. Ngày nay mà nói chuyện thư tín kiểu mầu mực xanh thơm ngát ý mong chờ, tình hé nụ bừng thơm trên nếp giấy như nhà thơ họ Vũ ngày xưa thì mới nghe qua chúng ta đã bồi hồi cả dạ. Định nghĩa của bức thư ngày nay khác hẳn với tinh thần bức thư ngày trước. Hồi đó mỗi bức thư là một cuốn tiểu thuyết được giản lược. Hình như không chỉ không gian ngày xưa mênh mông hơn bây giờ mà thời gian ngày xưa cũng dài, rộng không kém. Liệu chẳng biết những kẻ sống trước chúng ta có sở hữu đúng hai mươi bốn giờ trong một ngày hay có khi giữa hai múi ngày tiếp nối quả đất bỗng lén ngừng quay một lát, ăn gian để tặng nhân giới thêm vài giọt thời giờ làm chút quà nhỏ cho vui? Trong những công trình tập thể quả thật, thế kỷ chúng ta có những công trình lớn nhưng nếu tách ra chuyện cá nhân thì sao? Có khi tôi tự hỏi chúng ta sống như những kẻ chạy nước rút nhưng nếu mang đời sống của từng cá nhân ngày nay để so với ngày xưa thì đời sống chúng ta liệu có phong phú hơn không về mặt tri thức, tinh thần?… Ấy chết, nói nhiều chỉ tổ lạc đề. Kể bạn nghe câu chuyện anh chàng “nơi cuối trời”:

Cô chủ hiệu sách tỉnh nhỏ, một ngày nhận thư đặt hàng từ một kẻ xa lạ, một người Mỹ nhưng viết được Pháp văn, tỏ ra yêu đọc và sành đọc sách. Hôm nhân vật này đến hiệu sách là lúc cô vắng mặt (tình cờ hay nhân vật ấy cố ý lựa chọn?) y để lại một món tiền đặt cọc và yêu cầu nhà sách gửi theo địa chỉ y. Theo lời y thì y là một kẻ đi du lịch và được một nhà xuất bản bên Mỹ đặt một khoảng tiền để y viết loạt bài hướng dẫn du lịch trên đất Pháp. Chúng ta đang ở vào cuối năm 1997 khi mà internet đã bắt đầu được sử dụng, chưa sâu rộng nhưng đã có người dùng. Anh chàng người Mỹ có tên là Jonathan Shields có đầy đủ phương tiện liên lạc cho một kẻ đang di chuyển trên đất người với tư cách ký giả nhưng cô nàng chủ hiệu sách, Kay Bartholdi thì không. Cô từ chối các phương tiện mới với riêng cô, từ điện thoại, truyền hình đến vi tính. Vì vậy, cô viết thư tay khi anh chàng đã dùng mail (cũng có thể là cách sắp đặt để che dấu tuồng chữ). Ban đầu thư tín chỉ có mục đích trao đổi tin tức gìữa cô chủ hiệu sách và ông khách sộp đặt tiền cọc trước khi cần mua hàng, nhưng dần dần lời lẽ trong thư có bề ấm áp hơn nhờ chỗ ông khách tỏ ra thông minh đủ trình độ thưởng thức những tác phẩm nhiếu khi không đến do sự đòi hỏi của ông mà từ sáng kiến của cô chủ, tuy đề nghị nhưng có chỗ như áp đặt. Càng hay! Người khách hàng đọc thấy qua cử chỉ đó niềm tha thiết muốn chia xẻ lạc thú của sách vở mà cũng phản ảnh được sở thích đồng điệu giữa hai người. Theo lời cô nhân viên làm trong tiệm, ông khách được mô tả là một người đã già. Hình như điều đó không khiến cô chủ quan tâm. Cô viết thường xuyên cho ông khách tỏ bày ý kiến cô về mỗi cuốn sách, nhiều khi với rất nhiều đam mê được ghi nhận qua nội dung. Cô không thú nhận là cô sắp vị trí ông khách nơi nào trong lòng cô nhưng quả là dần dần cô đâm ghiền những lá thư ông viết từ trên nhiều nẻo đường của xứ Pháp. Rồi một lúc nào đó, ông đến miền Đông Nam và, như một tình cờ oái oăm, vào ngụ tại khách sạn nơi mà mười lăm năm trước cô trải qua mối tình lớn ở đấy và sau đó đánh mất nó vĩnh viễn. Cô chỉ mới lên mười lăm tuổi vào thuở ấy, người tình cô gần gấp đôi. Anh là một kẻ có tài, hiểu biết và nhiều tham vọng mặc dù yêu cô tha thiết, một ngày anh đã xuống tàu ra đi bỏ lại cô trên bến. Anh theo tiếng gọi của Hollywood không phải để làm tài tử mà thực hiện phim. Cô thất điên bát đảo với mất mát, tưởng có thể chết đi được nhưng cuối cùng đã gượng dậy tập sống cuộc sống khác. Cô trở thành cô chủ hiệu sách. Cô phản đối việc ông khách ngụ tại chốn kỷ niệm của cô, còn ông thì làm như vô tình và lì lợm nán lại. Rồi một hôm, ông bảo rằng nghe theo lời kể của người chủ khách sạn, ông mách lại cho cô chuyện cũ. Bức thư là quả bóng thăm dò vì người khách kia không phải là ai xa lạ, ông chính là người tình cũ của cô, người anh hùng thấm mệt đã trở về, muốn nối lại tình cũ nhưng ngại ngùng nên đã tự che dấu dưới mặt nạ mang tên Mỹ Jonathan Shields và vai trò giả làm du khách. Tình yêu lẽ ra có thể được phục sinh dưới thái độ thẳng thắn thú nhận lỗi lầm một cách quang minh chính đại nhưng nó khó chấp nhận qua lối tiếp cận ngòng ngoèo nhất là với người thiếu nữ non dại mười lăm tuổi yêu bằng dâng hiến toàn vẹn, đam mê vũ bão như Kay Bartholdi ….

Cuốn sách là một chuyện kể khéo với cách sắp đặt có kỹ thuật, một thứ story-telling không hơn không kém. Tôi nghĩ đó là lý do mà giới văn chương Pháp đã làm ra tai ngơ mắt điếc trước hiện tượng. Ở đâu cũng vậy, người ta phân chia ra hai loại văn chương. Tùy theo trình độ văn hóa của quần chúng, có những xã hội mà loại sách như thế này được chấp nhận dễ hơn trong khi những xã hội khác người ta khắt khe hơn. Chung qui thì dù dưới hình thức diễn dịch nào, cái gọi là văn chương cũng đòi hỏi đi kèm cùng tư tưởng, không chỉ đơn thuần dùng để mua vui trong vài trống canh mà thôi. Trong truyền thống văn chương Pháp, những tác phẩm mang theo cả một căn bản suy tư tạo thành triết lý đã từ lâu được xem như có tầm vóc đích thực, kiểu truyện của Jean-Paul Sartre hay kịch bản của Ionesco, Beckett. Ở xứ ta ngày trước, Vũ Ngọc Phan xếp vào loại tiểu thuyết luận đề. Nhóm Tự Lực văn đoàn được khai sinh với mục đích cải cách xã hội nên những tác phẩm của họ nhằm đả phá nếp sống cũ của họ được xếp vào nhóm tiểu thuyết luận đề như Đôi Bạn của Nhất Linh hay Con Đường Sáng của Hoàng Đạo. Vũ Khắc Khoan sau này khi viết Thần Tháp Rùa cũng ôm ấp những luận đề liên quan đến việc tranh biện về ý thức hệ chính trị. Có khi sự canh tân trong kỹ thuật cũng được đón nhận. Ít ra nếu không mang được một nội dung đòi hỏi suy tư thì những cố gắng làm mới trong hình thức cũng góp được giá trị cho việc sáng tạo. Bằng không thì mời bạn sang ngồi chiếu khác, nơi đó có Chú Tư Cầu của Lê Xuyên, Sống, Yêu của Chu Tử, toàn bộ sách của Lê Văn Trương hay tiểu thuyết của bà Tùng Long… Tiếp tục truyền thống chấp nhận văn chương bình dân, ngày nay ở Việt-Nam người ta dịch những nhà văn « best-sellers » Marc Lévy, Guillaume Musso bên cạnh Houellebecq và Kundera. Chưa biết mèo nào cắn miễu nào. Tưởng cũng nên nói thêm Marc Lévy, Guillaume Musso và Kathérine Pancol đều là những người viết đã sinh sống bằng những nghề chuyên môn khác trước khi theo đuổi nghề viết. (Marc Lévy theo học ngành vi tính; Guillaume Musso có bằng cử nhân kinh tế; Pancol xuất thân là nhà báo). Nghe đâu cuốn Les yeux jaunes des crocodiles (Những đôi mắt vàng của bọn cá sấu), một trong ba cuốn trong bộ của Kathérine Pancol cũng được dịch sang Việt ngữ. Một nhà văn, Patrick Besson, đã nhạo báng cách Pancol đặt những tựa đề cho hai tác phẩm tiếp nối quyển Les yeux jaunes des crocodiles, là quyển La valse lente des tortues (Điệu luân vũ chậm của loài rùa) và Les écureuils de Central Park sont tristes le lundi (những chú sóc ở công viên Central Park u sầu mỗi sáng thứ hai)… mà ông cho là lố bịch. Về phía Pancol, bà cũng lên tiếng chống chế cho cách kể chuyện của mình, nhấn mạnh rằng bà xuất thân là ký giả (chắc là méo mó nghề nghiệp, chỉ nghĩ đến chi tiết và sát với sự thực, mà lờ mất phần mà người Mỹ gọi là fiction.)

Cũng nên nói thêm về Pancol: bà sinh năm 1954 tại Casablanca (Maroc) vì thân phụ là kỹ sư lúc ấy đang góp công xây dựng đập nước và các công trình xây cất nơi này. Khi bà lên năm tuổi cả gia đình mới dọn về Paris. Bà đi học và xuất thân làm báo, viết cho Paris MatchCosmopolitain. Năm 1979 có người gợi ý bà nên viết tiểu thuyết, kết quả là cuốn Moi d’abord (Tôi trước tiên) ra đời, số bán lên tới 300,000 cuốn. Nhờ tiền bán sách, bà bỏ nước sang Mỹ ghi tên vào Columbia University học khóa viết văn. Cùng lúc sáng tác một số tác phẩm. Năm 1991 bà quay về cố quốc tiếp tục viết. Un homme à distance ra mắt sau thời gian này. Hiện bà đã có vài chục cuốn dưới giòng ghi “cùng một tác giả”. Hiện tượng Pancol cho thấy trong bất cứ xã hội nào cũng có hai giòng văn học, một cho giai cấp tinh hoa và một cho người ngoài phố, mỉa mai thay chính thành phần này mới là thành phần nuôi sống văn chương!

bài đã đăng của Đặng Đình Túy


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)