Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Hư ảo. Chàng

 

 
  

Mệt đuối sau đêm thức trắng cô gượng gạo rời giường vào phòng tắm đánh răng rửa mặt và trang điểm qua loa. Cô cho là thức trắng nhưng chính cô cũng ý thức được rằng mình có chợp mắt, dài hay ngắn không rõ nhưng ít ra cũng phải được vài phút. Dẫu sao, giấc mơ vẫn có đầu có đuôi đàng hoàng. Thời gian trong giấc mơ nghĩ cũng lạ thật. Một đêm ngủ bình thường của một người bình thường ở hạng tuổi cô là tám tiếng; vậy mà có khi ta nằm mơ thấy câu chuyện kéo dài tuồng như hàng tháng hàng năm; rồi cũng ngược lại, có giấc mơ kéo hết đêm dài (lúc thức dậy thì giấc mơ mới chịu chấm dứt) mà chỉ quẩn quanh một sự việc gì đó chỉ có thể xảy ra trong vài phút. Riêng đêm qua thì vì chuẩn bị cho chuyến đi bằng máy bay khởi hành vào sáng sớm nên cô vào giường ngay sau bữa ăn tối, định bụng rằng cho dù khó ngủ được ngay tức khắc nhưng nếu cứ nắm lì một lúc lâu thì rồi nhịp tim dần dần sẽ đập bình thường và giấc ngủ cuối cùng rồi cũng sẽ đến thôi. Nhưng không. Giấc ngủ không chịu tới. Chín giờ… mười giờ…mười một giờ… rồi nửa đêm. Cô cố tình xoay mặt ra ngoài để khỏi nhìn thấy con số lân tinh nhấp nháy của chiếc đồng hồ đặt trên bàn đêm, vậy mà mệt mỏi quá có lúc cô trở mình về hướng đó. Mấy con số cứ theo nhịp biến đổi từ 1 đến 59 và khi đến con số 59 thì cô hồi hộp nhìn trừng trừng vào để bắt gặp được cái đong đầy của chu kỳ thời gian. Cứ mỗi lần như thế thì nhịp thở trở thành gay gắt dồn dập khiến càng về khuya thân thể cô càng đè chặt lên nệm giường tưởng chừng như trọng lượng nó tăng lên theo với sự mất ngủ. Có khi cô lại thấy ngược lại, thân thể lúc bấy giờ nhẹ tênh và trôi bồng bềnh. Cô thở dài nhẫn nhục, tin rằng và đành lòng rằng mình sẽ thức trọn đêm…

Ấy thế mà rồi chuỗi ý tưởng cô theo đuổi bỗng đứt quãng. Có lẽ có một khoảng trống đen và sau đó rồi thì cô nhìn thấy ông.

– Ông? Thật ra ông không giống như vậy trong tưởng tượng của cô nhưng tâm trí cô lúc ấy lại quả quyết với cô rằng đấy là ông thì cô đành phải nghe theo chứ biết sao. Ông là ông cụ già râu dài, tóc bạc trắng, mặc chiếc áo the đen, tay cầm quạt, đĩnh đạc như Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh gì đó, bất luận là nhà nho xưa nào, nếu lại là nhà thơ thì càng tốt, cô nghĩ. Trong đời cô, cô chưa bao giờ thực sự nhìn thấy một ông cụ già –dù già đến đâu– khoác áo the đen, đầu đội khăn đóng và có râu dài như vậy. Nhưng có lẽ cô đã trông thấy những hình ảnh ấy trong các tài liệu sử học hoặc văn học trong đó có ảnh cụ Nguyễn Công Trứ hay Nguyễn Khuyến, các nhà nho cuối cùng khi người Pháp đã có mặt trên xứ sở và mang đến cho dân Việt của cô chiếc máy chụp ảnh của anh em nhà Lumière; nhờ vậy bọn hậu sinh của cô nhìn thấy cụ già Nguyễn Khuyến cóm róm, Nguyễn Công Trứ mặt mày nhọ nhem vì kỹ thuật chụp ảnh còn sơ khai và nghề in ấn cũng chưa đạt tới trình độ tinh vi như ngày nay.

Họ nói chuyện, đối đáp nhau nhưng cô không còn nhớ nội dung của những đối đáp ấy về chuyện gì. Tuy nhiên, có điều cô biết chắc –cô nhớ kỹ– là cô gọi ông bằng một nhân xưng đại danh tự cổ xưa dùng trong hán văn: “quân”! Từ mà cô rất yêu vì vừa thanh lịch vừa quí phái vừa trân trọng; trân trọng đến nổi kẻ sử dụng cũng thấy thơm lây. “Quân”, như trong câu thơ: Quân tri thiếp hữu phu (chàng hay em có chồng rồi –hình như là bản dịch của Ngô Tất Tố thì phải) rồi như: Hoàn quân minh châu song lệ thùy/Hận bất tương phùng vị giá thì…(trả ngọc chàng lệ như mưa/Hận không gặp gỡ khi chưa có chồng). Tỉnh giấc, khi hồi tưởng, cô tự giễu mình thì ra mình cũng có khả năng “hội nhập” vào không khí giấc mơ đấy chứ. Lúc ấy cô hiện thân là một Thúy Kiều chăng? Không, cô chỉ là cô thôi, một tâm hồn vừa đẫm ưót lãng mạn mà vừa “hiện đại” của con người ở thế kỷ 21. Ngồi trên phi cơ rồi cô còn băn khoăn với giấc mơ kỳ quái; sau cô tự nhủ chắc tại tâm trạng mình cũng có chỗ bất thường nên mới mơ giấc mơ lạ lùng như vậy. Mà quả thật là cô đang làm một cuộc phiêu lưu nhỏ, một cao hứng có chỗ hơi bất thường: cô đã hẹn với một người không quen! Và nơi hẹn cách xa hàng vạn dặm. Trong thời đại tân tiến của cô con người rất dễ nản lòng với cuộc sống quá đều đặn. Làm sao có thể chịu đựng năm này qua năm khác một công việc, những khuôn mặt quen thuộc, những hội hè định kỳ, tất cả đều đều như vòng bánh xe quay, không trật trìa trục trặc gì cả. Cho nên giới trẻ tìm cách bứt phá. Những bứt phá dù vậy cũng dựa vào khả năng của họ chứ chưa vượt ra được ngoài nó. Thí dụ họ mặc áo khoác nghiêm trang có cả cà vạt nhưng kèm với chiếc quần jean và bên dưới mang đôi dày chơi thể thao. Còn khi tổ chức đám cưới họ kéo nhau ra đảo xa, chỉ hai đứa thôi, mặc lễ phục và đi chân trần. Những phá rào kiểu đó chỉ có giá trị như chiếc pháo tép, chẳng làm ai giật mình kinh ngạc. Ngay cả cô, ngay cả điều cô đang làm, việc ngồi trên chuyến bay hôm nay, nếu công ty không cần một người có khả năng nghiên cứu thị trường mới, chuyến đi của cô sẽ không còn xem như một công hai việc thì liệu cô có nhận lời hẹn gặp không. Liệu, có ai vì một lời mời gọi bâng quơ của kẻ chưa quen mà bỏ công việc, lấy cái phép, mua một đường bay mười nghìn cây số, để tìm gặp? Trường hợp này hơi khác. Vì có cái sự vụ lệnh rồi nhận được cái mail mời gọi thật tha thiết. Con người ấy tưởng như có hai, ba trong một, khi thì yếu mềm trong cùng cực chán chường, lúc lại cộc cằn lạnh nhạt rồi bỗng sau đó vừa xa vắng mà vừa như van xin. Trẻ con hay người lớn? Gã vũ phu hay người thanh lịch? Người nghệ sĩ đích thực hay anh trai lơ lẻo mép? Tính tò mò của phái nữ đã xúi dục cô xông pha.

Kẻ hẹn gặp, cô gọi là ông. Chữ ông không trung tính, không là một tiếng nhân xưng lịch sự; chữ ông cô dùng hàm ý là ông lớn tuổi và cũng là ông như tên gọi, như danh tự riêng, có chút đặc biệt không phải để dùng cho bất cứ kẻ mày râu nào khác. Dù vậy, ông cũng chỉ là … ông thôi không là gì thêm nữa đối với cô.

Chuyến bay hạ cánh vào buổi trưa, cô còn phải đi thêm độ hai trăm cây số đường đèo bằng xe đò để đến đấy. (Cô quyết định gặp ông trước khi làm việc cho sở). Khi cô đến bến xe, cũng may cô thấy một chiếc xe nhỏ bảy chỗ ngồi và còn ghế trống. Trả giá hơi đắt hơn nhưng bảo đảm đến nơi đúng giờ. Sau một tiếng đồng hồ loanh quanh trên đoạn đường thấp, bây giờ xe đã lên cao. Nhìn lại sau lưng đoạn đường vừa mới đi qua đã thấy nó với cỏ cây, lùn tịt lè tè dưới thấp. Không khí nghe chừng mát dịu. Lần đầu cô lên cao nguyên nên mọi mỹ cảm đều được cô dành cho nó. Rừng đã bắt đầu bớt chằng chịt chỉ còn những thân cây cao thẳng vút sạch sẽ và tươi mát. Màu trời xam xám lẫn khuất sau những thân cây tùng bách vướng vài cụm mây lưng chừng như các cô thiếu nữ đẹp choàng khăn san. Ngay chiếc khăn san khi lần đầu nghe nói cô cũng không rõ nó như thế nào mà các nhà văn Hà nội cứ nhắc mãi cho đến khi cô về thăm quê thì cô mới thấy. Quả thật là cái khăn ấy quấn lên thân hình thiếu nữ mảnh mai cùng tha thướt với chiếc áo dài Việt thì tuyệt hết chỗ nói. Tuy nhiên cá nhân cô, cô chưa có dịp khoác vào mình chiếc áo ấy. Khi còn ở quê hương, cô bé tí làm gì có áo dài để mặc; còn bây giờ thì nhập gia tùy tục, cô mặc theo kiểu Âu tây. Chiếc áo dài vì vậy vẫn chỉ là một hình ảnh ngoài tầm tay, huyền ảo, siêu thực. Có lẽ vì vậy thêm một lý do để cô cho rằng nó đẹp. Đột nhiên cô ao ước có một chiếc giờ này để cô có thể khoác vào khi “trình diện” ông cho xứng với ông cụ áo dài khăn đóng.

Bắt đầu đến khoảng Trại Hầm, Trại Mát thì không khí nghe ra có mùi thơm, một thứ mùi không được dẫn từ mũi mà đâu từ lưng và hai vai. Cô nghe thân thể nhẹ nhỏm, cái nóng bức bám riết rít róng từ hai tiếng đồng hồ trước bay đâu mất. Ngay cả chỗ ngồi trên xe dường như cũng rộng ra, thoải mái lạ lùng. Cô nghiêng người tay gát lên thành xe, để gió đùa mái tóc. Và nhắm mắt nghĩ đến những hình ảnh đẹp nhất cô đã biết, cùng những kỷ niệm êm đềm mà cô đã sống. Cô thường có những suy nghĩ lạc quan vì tin rằng nếu sống với vui vẻ tin yêu thì chắc sẽ gặp vui vẻ tin yêu. Chợt nhớ tới một bản nhạc ưa thích vừa thu được trong máy, cô với chiếc xách tay bên cạnh mở ra, cắm headphone xoay xoay tìm chương trình chi chít trên màn ảnh, nhưng bên góc phải icône của hộp thư nhấp nháy báo hiệu có điện thư gửi cho cô. “Đã đến nơi rồi ư? Sớm thế?” Thư của ông. Chắc lại đoán liều, cô nghĩ. Cô không trả lời, trái với lệ thường.

Trái với những ngày tháng vừa qua. Cuộc làm quen qua internet mang trong nó khá nhiều điều mờ mịt, hai bên đều ý thức rằng không nên lấy đó làm thật. Cô yêu thơ. Rồi cô yêu những bài thơ ông viết. Rồi hai người nói chuyện về thơ. Chẳng ai trong hai mong chờ gì khác hơn. Có điều người ta cũng để lộ ít nhiều về con người của mình, nhân cách của mình qua những lời tưởng như vô thưởng vô phạt đó; vả, con người không thể đóng kịch suốt cuộc đời dài; cũng còn phải biết tạ ơn người khi thấy rằng người thành thật chứ. Hậu quả việc này đưa đến việc cô nhận lời hẹn gặp mà không lo sợ lắm. Mãi suy nghĩ vẩn vơ, bên tai cô thình lình giòng nhạc cất cao, giọng của một ông luật sư già kiêm ca sĩ tuy đã mất vẻ long lanh thuở trước nhưng vẫn còn chán ướt át mượt mà. Ở xứ cô có lẽ giòng máu văn nghệ luân lưu trong bất cứ kẻ nào. Ai đời mà ông luật sư lại hành thêm nghề ca sĩ. Ngày cô còn nhỏ, có ông thày thuốc cũng cao hứng hát và hát “được” lắm, rất có hồn. Đến nổi bản Chiều vàng của Nguyễn văn Khánh từ đó ít có người bạo gan thử. Vì sợ thua ông ta!

Xe ca vào thành phố, ngừng lại bến. Mọi người xuống xe, cô là kẻ sau cùng. Cô có tâm trạng phó mặc kể từ khi về đến quê nhà, một phần vì quen thuộc và một phần khác cô có cảm tưởng như mọi toan tính của cô chưa kịp thực hiện thì đã có bàn tay khác thực hiện, khuất bóng nhưng chu đáo. Lần này cũng vậy. Cậu thanh niên trẻ lái tắc xi cười với cô như đã quen cô từ lâu. Anh ta chẳng nói chẳng rằng đưa tay đỡ chiếc sac tay của cô và giục: “Xin cô lên xe để em theo kịp bác ấy. Bác chạy trước dẫn đường, bảo em đưa cô theo”. Hình bóng kẻ đàng trước sắp mờ trong sương chiều, vô hình chung cô cũng hấp tấp bước lên xe, ngoan ngoãn nghe lời cậu trẻ tuổi. Vẫn lên cao, càng cao hơn, sắp vút mất. Rồi bất thình lình dừng lại. Cậu tài xế kéo thắng tay cẩn thận rồi mới mở cửa xe cho cô. Bóng ông đàng trước in trên nền trời chiều hơi ủ dột. Cô bàng hoàng nhìn quanh: không còn phố xá nữa, chỉ mênh mông thiên nhiên. Có mây có nước có hoa cỏ có túp lều không bằng tranh nên chi không có hai trái tim vàng. Ngôi nhà khiêm tốn nấp sau hàng dậu đầy cây trắc bách diệp. Ông đến bên mở lời: “Chắc là cô mệt. Một vòi nước nóng thì sẽ thấy sảng khoái ngay”. Tuyệt! Phút gặp gỡ đầu mà tiết kiệm lời đến vậy thì tuyệt thật, cô thầm nghĩ. Cộc cằn ít lời mà làm được thơ ư? Ông đi trước, cô theo sau. Cô chưa nhìn rõ mặt ông nhưng đang cố gắng điều chỉnh hình ảnh con người thật trước mặt và hình ảnh tưởng tượng mà cô đã thêu dệt tự lâu nay; cho nên càng chưa nhìn rõ càng hay, cái nhập nhoạng ấy sẽ giúp cô bớt ngỡ ngàng. Hình dáng tuy có xa lạ nhưng lời nói, lối nói thì quen thuộc, vẫn cái giọng như đang tiếp tục một câu chuyện bỏ dở, không mở đầu và chưa đi đến kết luận; giả vờ quên đi những thủ tục lễ phép thông thường. Đã vậy thì cô cũng theo lối xử sự đó, tảng lờ như đã quen nhau từ lâu. Ngôi nhà vắng người như ngôi nhà hoang. Nhà của ông hay của ai khác, cô thấy chẳng cần nên quan tâm. Cô ngâm mình khá lâu trong phòng tắm vì cứ ngần ngừ sợ phải đối mặt với ông nhưng cùng một lúc tính tò mò cũng thúc giục cô bước chân vào cõi lạ. Phòng tắm và phòng dành cho cô kế cận nhau. Cô vào thay quần áo và ngồi trước gương tự ngắm mình. Đối với mẫu người như ông cô khó đoán nổi được làm sao cho hợp cái nhìn của ông, không phải vì cô muốn làm vừa lòng ông nhưng vấn đề là thích nghi với không khí chung. Cũng may là ông không khoác áo dài đen và cũng không có bộ râu dài như hình ảnh cô nhìn thấy trong giấc mơ.

Tiếng gõ nhẹ trước cửa phòng và ông hỏi vọng vào xem cô có thích dùng chút rượu khai vị trước khi ăn chăng. Cô coi đó như lời mời nên đành đứng lên mở cửa bước ra. Phòng hơi tối, ông lại ngồi trên chiếc ghế bành khuất bởi bàn viết; ngược lại chiếc ghế dành cho cô (chỉ có chiếc ghế duy nhất ấy thôi, cô không còn chọn lựa, chẳng lẽ cô đến ngồi ở bàn ăn kế bên?) thì ánh sáng chan hòa khiến cô có cảm tưởng ngồi dưới ánh sunlight giữa sàn quay và ông là đạo diễn đang ngắm cô qua ống kính; hoặc cô là tội phạm đang chờ chịu hỏi cung; nghĩ vậy nên cô trả đũa: “Em rất tiếc nhưng không thể ở lâu hầu chuyện anh được. Sáng mai em phải trở lại Sàigon vì có hẹn công việc”. – “Chuyện đâu còn đấy, xin cô cứ yên tâm. Tôi hứa sẽ chu toàn hết. Nhưng bây giờ có lẽ ta nên tìm lãng quên những phiền trọc hàng ngày. Cô nghĩ sao? Một tí rượu và vài câu hát sẽ giúp ta quên chúng đi chăng?” Cô không nói gì chỉ gật đầu vâng theo. Ông mang ra chai rượu, cách trình bày nhãn rượu khác với hình thức những chai rượu vang cổ điển. Thảo nào nó mang cái tên độc đáo: Moitié plein, nghĩa là đã có moitié vide. Câu chuyện vui đã trở thành biểu tượng cho định nghĩa lạc quan/bi quan. Kẻ bi quan chỉ thấy phần nữa chai rượu đã vơi đi trong khi anh lạc quan bảo rằng hãy còn một nửa nữa. Ngôi nhà có không khí lạnh lẽo khác thường nhưng ý nghĩ ấy chỉ thoáng đến rồi qua đi tức khắc vì tiếng nhạc đã vút lên làm ấm lòng. Vẫn khúc ca ban nãy chính cô đã nghe. Vẫn giọng trầm buồn của ông tài tử già kiêm luật sư. Có lẽ ông nghĩ là cô đã gửi cho ông bản nhạc như vậy tất cô phải thích nó; mà cô đã thích nó thì ông mở cho họ cùng nghe. Cũng nên coi đấy như cách “nịnh đầm” kín đáo. Bây giờ thì dù ông trong tối cô ngoài sáng, cô cũng gắng mở mắt quan sát ông xem thử ông ra sao. Không phải vấn đề đẹp hay xấu nhưng bề ngoài của một khuôn mặt thường vẫn là yếu tố quan trọng gây được thiện cảm hay không. Chịu, không trả lời được. Phải tập làm quen thôi, ít nhất là trong vòng dăm ba tiếng đồng hồ trước khi đêm hết ngày rạng.

Họ ăn với nhau bữa cơm tối và uống khá nhiều rượu nhất là về phần cô, lý do là vì cô không hoàn toàn cảm thấy thoải mái. Cô có trả lời những câu ông hỏi nhưng nghĩ lại cô không biết là cô đã nói những gì và ông đã nói những gì. Như người mê ngủ. Cứ thỉnh thoảng cô phải tự lay mình, giả vờ cười to hơn và làm một cử chỉ mạnh bạo, như thế cô tưởng mình sẽ thoát ra khỏi tình trạng ngật ngà ngật ngừ nhưng chỉ vài phút sau cô lại rơi vào chỗ mất hẳn ý thức. May thay cô nhai phải một miếng ớt cay rát cả lưỡi đúng vào lúc ông chờ cô trả lời câu hỏi ông đặt ra: …“có ba lựa chọn, hoặc ta đi uống cà phê và nghe nhạc, hoặc ta đi nhảy (cái này tôi không rành lắm nhưng nếu tìm tòi thăm hỏi tất ta sẽ tìm ra được nơi nhảy nhót; nhưng cô biết đấy, tôi không biết nhảy; dù vậy cũng chẳng sao. Tôi sẽ ngồi một chỗ, uống rượu và nhìn cô nhảy …với người khác) hoặc, sau hết ta bơi thuyền trên hồ”. Và ông tiếp như thể chỉ nói với riêng mình, “cho hết những giờ phút cuối”… Cô tỏ ý thích đề nghị sau cùng. Đã đen thì hãy cho đen, để chỉ còn có hư ảo, cô nghĩ. Trừ vài kỷ niệm mơ hồ tuổi nhỏ, cô chưa thực sự biết đêm đen. Đêm phố phường chỉ là ngày nhân tạo nhưng đêm thực sự là gì? Là trái với ngày, là đen khác trắng, là yên tĩnh trải dài chìm lắng trong tiếng côn trùng, tiếng con chó sủa xa, tiếng con gà trống ngái ngủ gáy liều, tiếng con vạc kêu canh và muôn nghìn côn trùng tỉ tê. Đêm sâu và rộng. Và dày. Và cô đơn. Đêm che kín tầm nhìn, phủ lên thị giác một tấm voan để giúp thính giác, khứu giác nhạy thêm. Có như vậy người ta mới nghe được mùi hoa bưởi nở báo tin đêm đã cơ hồ cạn: hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya. Hoặc một mình cô đơn quay về khoảnh vườn cũ mà ngỡ như có chân ai bước nhẹ. Đêm cũng thơm như một giòng sữa và nếu có lung linh trăng về thì tuyệt biết bao. Đêm nay là mồng mấy nhỉ, trăng ơi mi nơi đâu?

Cô đứng lên toan bước ra ngoài theo chân ông bỗng dẫm phải một vật gì đang di chuyển, trượt chân ngã về phía trước. Cô đưa tay cố níu lấy một điểm tựa mong giữ thăng bằng nhưng quanh cô trống không. Cô tưởng cô sẽ va vào bức tường chẳng hạn, hoặc cánh cửa kính, cửa sẽ vỡ nát, những mảnh thủy tinh sắc sẽ đâm lên mình cô, nhưng không, cô va vào ông, đúng hơn cô được ông hứng đỡ. Cô hơi ngượng nhưng kịp nhận ra mùi thơm rất dễ chịu phả vào mũi. Một mùi thơm rất quen thuộc, có lẽ là mùi kem cạo râu của đàn ông. Chàng! Đúng là chàng. Cô tròn mắt nhìn khuôn mặt đang nghiêng sát. Người của bảy tám năm trước. Và cũng trong cùng một gang tấc cận kề như thế này đây. Chỉ khác có mầu mắt, một mầu xanh lúc là mầu trời lúc là mầu thẫm đai dương lúc lại u uẩn mầu rừng rậm non cao. Có phải là chàng không? Nhưng làm sao lại là chàng được? Câu hỏi còn trong trí nhưng đôi môi nọ đã chạm môi cô nóng bỏng. Tai ù. Mắt hoa. Hơi men nồng phả vào lồng ngực dâng lên tận cổ trộn với thứ mùi da thịt của kẻ khác phái khiến cô đánh mất mình. Hạnh phúc rốt lại chỉ có nghĩa là buông thả. Cô buông thả để khỏi giữ hai chân đứng thẳng, để khỏi giữ thân mình bị hút về phía kẻ nọ, để khỏi sợ quần áo nhầu nhò xốc xếch, để khỏi sợ nhòe nhoẹt son phấn điểm trang. Trong vòng tay chắc nịch cô hoang mang không biết là của ai nữa. Của ông? hay của chàng, người đồng nghiệp trong nhiều năm đã từng làm chung với cô, họ từng ngồi chung xe đi về những chốn xa để đôn đốc thực hiện vài công tác, anh lái và cô bên anh như hình ảnh đôi tình nhân lý tưởng; gió bay xua tóc cô lên mặt anh, anh cười: tóc cô thơm mùi trái chín. Nhưng tại sao anh không chịu giữ mùi trái chín của những lọn tóc cô, tại sao anh xin đổi sang công ty khác, tại sao buổi chia tay anh không giải thích gì? Rồi sau anh biền biệt, lúc trở lại anh tỉnh táo khoe cô những tấm ảnh anh chụp với vợ với con anh. Chỉ có thể giải thích bằng hai đối cực: hoặc anh yêu cô quá đến chỗ ngôn ngữ không còn hữu ích (mà cô mù tịt không nhận ra được) hoặc anh chỉ coi cô như mọi con mồi anh chạy đuổi, nếu dễ thì thịt tức khắc mà khó quá thì bỏ rơi…Nhưng làm sao anh lại đến chốn này, nơi quê hương cô? Cô mù mờ quá đỗi. Và cô tê liệt rồi. Hoàn toàn.

Thuyền lướt trên hồ, không, thuyền như lướt trong sương và trên mây. Không tiếng mái chèo khua nước thế mà vẫn trườn mình đi tới. Ông ngồi ở mũi thuyền, đúng ra bóng ông ngồi ở mũi thuyền và cô ngồi xa ông, xa đến độ chỉ thấy loáng thoáng ông. Họ không nói với nhau lời nào từ khi bước lên thuyền, tưởng như họ không còn biết có nhau. Cô theo cô và ông (chắc vậy) theo ông. Hai kẻ sống riêng lẻ trong cõi chung.

…Tại sao tôi chọn Đà lạt? Tôi vốn ủy mị và mơ mộng. Đà lạt thích hợp với tôi. Mỗi lần đặt chân tới Đà lạt người tôi bay bổng. Lần đầu, tôi còn là thằng học trò lớp đệ nhất sắp mùa thi. Tôi tự bảo, nếu ở Đà lạt, tôi đậu tú tài là cái chắc vì Đà lạt lạnh thế này tôi làm việc đâu biết mệt (lúc đó tôi đang ngụ trên tầng chót của ngôi nhà mái tôn khu Thanh tra lao động Sài gòn, cả ngày đánh trần vì hâm hấp mặt trời). Tôi lần mò ra trung tâm phố, nhìn xuống mặt hồ, nhìn sang bờ bên kia nơi những rặng thông xếp hàng. Thằng học trò kiết, túi chỉ đủ hai vòng xe, tôi ao ước được ngồi trong chiếc quán cạnh hồ với ly rượu trong tay và nghe những bản nhạc tình. Cũng không có được hình bóng nào trong trí để tưởng nghĩ. Ký ức trinh nguyên. Tôi gọi thầm trong trí mình người yêu ơi, hãy đến với ta đi, đừng bỏ ta bơ vơ, ta có nhiều điều để dâng hiến lắm. Túi ta rỗng nhưng hồn ta đầy, ta biết cho ai bây giờ? Rồi tôi ra về như tôi đã đến. Không có gì đổi khác.

Bây giờ thì ngược lại. Lúc tôi chẳng còn trông chờ gì thì bỗng có hơi thở nhẹ bên mình. Để làm gì nhỉ? Để phút ra đi nhẹ nhàng hơn chăng? Như tên tử tù được đãi bữa ăn no và hơi thuốc chót? Cạnh đó, ký ức bầy nhầy không làm sao lọc được chút ít thanh sạch để tâm hồn nhẹ mà bay lên. Nhưng không sao, tôi sẽ bay lên bằng cách này hay bằng cách khác. Cái đẹp không ở lâu được; cái đẹp phải chấm dứt thì mới trọn ý nghĩa chứ. Nhiều khi người ta phải góp tay giúp định mệnh hoàn thành công việc của nó.

Vẫn khuôn mặt cậu trẻ lái tắc xi hồi tối. Cậu đập cửa phòng thình thình. Cô vụt dậy mở cửa nhìn ra. Cô không đủ tỉnh táo để biết rằng mình đang ở đâu và làm gì nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt và nụ cười cậu thì cô hiểu ngay. “Nhanh lên cô, em chở cô đến bến xe kẻo trễ. Cô phải có mặt ở Sài gòn trưa nay” Cô hơi bối rối không biết phải làm gì và hơi mắc cỡ vì cô là kẻ luôn luôn làm chủ tình hình, công việc. Cậu nhỏ trực nhớ, đoán liều: “Cô khỏi cần từ giã bác ấy. Bác đã dặn em thưa với cô là bác xin lỗi phải có việc đi sớm”, rồi cũng giống như lúc đến, cô để cậu nhỏ dẫn dắt mọi sự. Không biết một kẻ say mèm, say dữ dội thì có giống trạng thái của cô giờ này không, nhưng chưa bao giờ trong đời cô cảm thấy có những khoảng trống trong chuỗi thời gian như hôm rồi. Ít nhất trong khoảng bảy tám tiếng đồng hồ vừa qua có sự đứt quãng mà cô chịu không biết mình đã làm gì trong những giây phút ấy. Chúng là những khoảng đen, tựa như lúc ta hoảng hốt nên đánh mất ý thức. Nhưng cô không hề hoảng hốt, cô gần như ung dung. Bây giờ chuyến xe lại theo con đường cũ trở về. Cô tựa vào thành xe mệt mỏi nhìn ra ngoài. Xe chạy đến đâu cô nhớ đến đấy, nhớ mình đã làm gì, nghĩ gì chiều qua. Nhưng sau đó? Sau đó cô đã ăn phải cháo lú.

Phi cơ cất cánh rời Sài gòn khoảng 9 giờ đêm. Ngồi yên chỗ là cô không còn muốn vướng bận gì nữa. Cô ném trả lại hết: công việc, cô cho là xong thì không cần nghĩ tới nữa; nhưng còn ông? Cô vẫn hoang mang muốn ôn lại đầu đuôi mấy tiếng đồng hồ bên ông hầu giải thích cái hụt hẩng quái dị nơi trí cô. Chịu! Và buồn ngủ. Cô buông xuôi vậy. Chỉ đến khi người ta dọn bữa ăn tối và người chiêu đãi viên hàng không chạm nhẹ vào tay đánh thức cô bằng nụ cười nghề nghiệp cô mới uể oải hé mắt và buộc lòng ngồi ngay ngắn lại để ăn; ăn xong thì cô hoàn toàn tỉnh táo, không muốn ngủ nữa mà tìm chỗ cắm cái laptop bắt đầu soát phần điện thư mà gần bốn hôm cô chưa hề mở xem. Trên sáu mươi cái, chuyện riêng chuyện chung, chuyện chính trị chuyện văn chương chuyện nghề nghiệp chuyện tình cảm đủ loại chỉ riêng vắng thư ông. Không biết sao cô mong thư ông như minh chứng cho mỹ cảm ông còn giữ về cô và để chắc chắn rằng trong những “khoảng trống” mà cô băn khoăn sẽ không có gì xảy ra cả. Tất nhiên là không có gì xảy ra rồi, điều đó cô biết (có một phút cô đã hoảng hốt soát xét thân thể mình xem có gì lạ không) nhưng những khoảng trống ấy phải mang trong chúng ý nghĩa gì chứ. Khoảng trống. Khoảng trống. Cô lẩm nhẩm một mình như người cuồng: “Tôi hiểu ý nghĩa của những khoảng trống ấy rồi. Chưa phải là tất cả nhưng ít ra một phần; phần còn lại thuộc về phạm vi siêu hình, tôi không biết được; mà cũng chẳng ai biết được”.

 

*

 

Mẩu cáo phó trên trang báo quen, mắt cô liếc qua, chỉ liếc qua thôi mà tưởng như bóng dáng người ấy đứng tần ngần trước mặt như buổi chiều nào chiếc tắc xi chạy đuổi theo hình người nửa mờ nửa tỏ in lên nền trời trên cao ấy:

Chúng tôi đau đớn thông báo cùng bằng hữu:

Ông Nguyễn văn Y

(tức nhà thơ XZ)

đã mệnh chung ngày…tháng…năm

tạì…

Ngày ấy là đúng vào hôm cô chuẩn bị khởi hành. Có thể là đêm cô không ngủ được và mơ thấy ông, được giải thích bởi khoảng xa cách của vài múi giờ cách biệt trên vùng địa cầu từ hai bờ của cùng chung một đại dương. Nhưng còn kẻ mà cô tiếp xúc ít nhất là trong sáu bảy tiếng đồng hồ liền ở miền núi thơ mộng, kẻ đã cùng cô chuyện trò nghe nhạc và ăn uống, kẻ có căn nhà mà cô trọ đêm ấy, kẻ chạy xe đàng trước hướng dẫn cho chú tài xế trẻ tìm đến nhà, kẻ ngồi ở mũi thuyền cùng dạo chơi trên sóng nước mông lung? Và còn nữa? Người thanh niên kia, không phải ông già nọ, hai người là hai hay chỉ là một? Cô bổng phát nóng ruột muốn quay lại.

Tất nhiên là cô không quay lại được. Cô không đủ mong muốn để quay lại. Điều mà mọi người thường cho là “muốn” chỉ là một thứ ước mơ nhẹ nhàng cho vui thôi. Ngôn ngữ vẫn thường có tính chất khuyếch đại, người ta bảo buồn nhưng thật sự họ chưa đủ buồn, bảo yêu nhưng chỉ mới cảm thấy dễ chịu bên cạnh một người, bảo say mê nhưng khi đặt họ trước sự chọn lựa thì họ lắc đầu ra điều đã vì nhiều đắn đo nên đành từ chối… Và bất thình lình ý nghĩ lạ lùng đến trong ý tưởng cô như một giải mã cho mọi nguồn cơn: hình như cô man mán nhớ rằng trong các loài sinh vật có những cuộc làm tình kỳ diệu, kỳ diệu ở chỗ con đực sau phút yêu đương ngã ra chết. Có phải giống ngựa trời? Con vật màu xanh lá đi đứng lúc nào cũng ngần ngừ không biết nên tới hay nên lui, luôn luôn giương hai cái càng đầy gai tưởng đâu ta là anh hùng, hóa ra con vật luôn giương nanh múa vuốt đó lại phải nhận chịu số phận bi thảm của cái chấm hết cuộc đời và cuộc tình cùng một lúc? Hay là loài ong? Sau phút khiêu vũ rã rời với nàng ong chúa, chú ong đực nào đủ sức bay lên cao, lên xa sẽ được cùng nàng ân ái. Liệu nàng có chịu tắm rửa như cô, có biết lựa bộ cánh đẹp nhất, loại nước hoa thấm đẫm nhất, màu son môi vừa bóng vừa thơm; liệu chàng có biết tìm chai rượu ngon đãi người đẹp, lựa bản nhạc hay đủ dìu nàng vào mê cung? Không đâu, đừng tưởng tạo hóa ác tâm. Tạo hóa vô cùng từ tâm vô cùng rộng lượng. Kẻ tử tù nào cũng được cho ăn bữa ăn cuối và hơi thuốc tìm quên!

 

 

 

.

bài đã đăng của Đặng Đình Túy


3 Bình luận »

  • Trần Nguyên Đán says:

    Được “khen” lại một cách “tế nhị” như thế thì cũng thấy ngon như ly cà phê nóng uống vào buổi chiều gió lạnh. Như buổi chiều Fort Worth bây giờ. Xin cám ơn.
    Tôi đã vào đọc lại các truyện ngắn khác của Đặng Đình Túy và nghĩ rằng sẽ là một độc giả “trung thành” của ông kể từ nay. Đán

  • Dang dinh Tuy says:

    Đa tạ. Tuy cũng đã viết không ít nhưng tôi vẫn  xử sự như cô gái lần đầu yêu không dám nhìn thẳng mặt người tình: mỗi khi đăng bài không bao giờ dám nhìn lại bài mình. Nhờ có người mách mới biết là có những giòng chữ khuyến khích. Lại là một người mình vẫn theo dõi vì có thiện cảm với lối viết.  Một lần nữa, đa tạ

  • trần nguyên đán says:

    Một truyện ngắn hay. Tưởng khó hiểu mà dễ hiểu, tưởng dễ mà lại khó. Khó mà hiểu hết những điều tưởng như dễ.
    Đọc một truyện ngắn hay cũng giống như uống một ly cà phê ngon vào một buổi sáng nắng ấm.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)