Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Từ Cõi An Nhiên

 

(Vào một ngày không mưa không gió, cũng không mặt trời rực rỡ, hai danh sĩ nam hà, chán chường vì những bó buộc ngạt hơi của xã hội bèn bǎ́t chước tiền nhân rủ nhau vào rừng sống đời riêng lẻ. Họ nhǎ́m hướng mặt trời lặn, tiến lên. Sau nhiều ngày mải miết chốn rừng sâu, họ lạc vào cõi ấy…)

 

1.

Hai người băng qua những triền cỏ lồng lộng gió lành, gùi trên vai những đụn mây trắng cùng sương trinh. Ánh mặt trời len từ các khe núi tỏa ra ngàn tia sáng mầu ngũ sắc. Cỏ ướt đẫm dưới chân. Những mầm cây non như những ngón tay mỹ nữ vươn dài cuốn quanh, nâng niu từng chùm hoa dại mầu vàng rừng rực, mầu đỏ ôi ối, tím biêng biếc đại dương, xanh lung linh cẩm thạch, trǎ́ng nõn nà mã não. Giọng muôn loài chim tình tự được gió mang đi xa rồi kéo gần lại hòa với tiếng nước róc rách dưới lòng suối, tiếng reo lanh lảnh của mọi giống côn trùng vô ưu.

Qua một khúc quành, thấy trên tảng đá trắng phẳng lì đã bày sǎ̃n vài chiếc ghế, một bộ bàn thấp, có trà, có bầu rượu, có thiệp giấy, có nghiên mực, bên nghiên đã sǎ̃n vài cây bút lông hình tháp, thỏi mực đen óng gác ngang. Cao hứng, Trần muốn dừng, quay lại bảo bạn:

Đệ không nghĩ rằng chúng ta đã đi khá xa rồi ư?

Huynh mệt?

Nguyễn cười. Trong giọng cười nghe ra có chút chế nhạo mà kẻ đứng tuổi như Trần có thể cảm nhận được.

Ta chỉ ngại đến một chặng nào đó lại quên khuấy đường về…

Người trẻ tuổi vội chắp hai tay nâng ngang mày, nghiêm giọng:

Đệ chỉ đùa huynh một chút, xin đừng cố chấp. Gia dĩ, đệ cũng muốn nhân đây biện bạch cùng huynh đôi điều.

Anh em ta nhờ duyên trời đưa đẩy, cùng nhau một buổi lạc bước chốn này, có mây có nước hữu tình, có hoa có cỏ bốn mùa tươi tốt, thần trí tinh anh không bợn dục, thân xác sảng khoái không hề yếu đau, há chǎ̉ng là chuyện thiên kỳ hạnh ngộ sao?

Chẳng dấu gì huynh, mấy bận gần đây lòng đệ đâm hoang mang, đôi lúc chạnh lòng tưởng về chốn cũ, lòng tự hỏi lòng phải chǎng kiếp nhân sinh và hạnh phúc là hai điều không bao giờ chịu đồng hành. Những người như huynh lý trí linh mẫn, tình cảm quang minh, suy việc xử việc bao giờ cũng rõ ràng dứt khoát nhưng đệ đây là đứa “đi trong sân mà nghĩ chuyện trên trời”, “thấy mưa nơi này lại nhớ mưa xa” nên suốt đời chǎ̉ng bao giờ biết bǎ̀ng lòng về điều đang có… Hồi thơ ấu đọc thầy Trang, khi nghe thầy khai tâm về cuộc nhân sinh bảo rǎ̀ng lộc trời có hạn như con khỉ kia muốn vơ trọn số chuối mà không biết rǎ̀ng nếu sớm nó ǎn đi ba quả thì chiều sẽ còn ǎn được bốn, nhưng nếu nó ngốn trọn buổi sớm thì chiều đành nhịn, bởi lộc dành riêng đã cạn. Anh em ta lâu nay không hề tính bốn tính ba, đã bao nhiêu ngày chỉ hưởng mà không cần để dành, chỉ biết có lạc mà chǎ̉ng bận ưu tư, ngày là hội vui, đêm là ân sũng… Dám hỏi huynh, huynh có bao giờ tính nhẩm khoảng ngày tháng anh em ta từng ngụ chốn này?

-Ngày còn bé có lần ra câu cá bên sông, nhìn thấy chiếc thuyền không người buộc vào cây cọc ven bờ ta nhận ra cọc gãy ở phần chìm dưới nước, đâm lo lǎ́ng nên đã cởi quần áo lặn xuống tìm xem tại sao cọc gãy, sợ rǎ̀ng có lúc không ghìm nổi cơn sóng dữ e thuyền có thể trôi đi chǎng? Nhưng không, khi ta xuống đáy nước bơi đến gần đưa tay sờ thử mớì hay rǎ̀ng cọc vẫn suông vẫn vững, không hề gãy gập như ta tưởng. Nhân đấy ta suy ra rǎ̀ng mọi hiện tượng nhận thức qua cảm quan ta tùy thuộc hoàn toàn vào nơi chốn và khoảng cách. Làm sao có thể lấy thước đo vẫn dùng nơi trần thế để sánh độ dài độ rộng ở chốn thiên cung?

-Huynh quả là bậc thức giả nhìn xa thấy rộng, còn đệ có mắt mà không biết nhìn, có trí mà chǎ̉ng xét được thực hư đen trǎ́ng. Nhưng trộm nghĩ, kẻ trí giả nhiều khi mãi bận suy tư mà không lí đến cuộc sống thực, chỉ ham đuổi theo ý nghĩa cao xa, còng lưng mỏi mắt với nghìn trang sách thánh nhân mà quên bǎ̃ng cuốn sách hai trang của cuộc sống thực…

Trần nghe chưa dứt lời bạn đã cười ngất:

-Ta hiểu. Ta hiểu. Từ chỗ hoang mang ngươi nói lúc nãy đến trang sách mở đôi bây giờ, ta thấy ngươi quả đã đánh mất chất tự tại an nhiên mà cổ nhân đã dạy. Theo thiển ý, mọi giáo điều mà chúng ta thu nhận, có lẽ chỉ có điều đó là đáng cho ta giữ lại trong bất kỳ tình huống nào. Ta đã giải bày cùng đệ rồi đấy thôi. Triết lý nẩy sinh từ một hoàn cảnh, trước nhất đưa ra những nhận định về hoàn cảnh mà ta đang bị giam hãm, và sau nữa, đề nghị những giải pháp hầu vượt thoát những trói buộc của hoàn cảnh đó. Vì vậy triết lý không thể là chân lý của muôn thuở, khác với khoa học, dù trên rừng thiêng hay giữa sa mạc, nguyên lý khoa học luôn luôn được nghiệm đúng. Vả chǎng cuốn sách hai trang mà đệ vừa đề cập nào đâu có thiếu nơi này? Cái khác nhau chỉ là tính chất vô thường dưới đó và sự thường hǎ̀ng nơi đây đấy thôi…

-Như vậy nguyên tǎ́c dịch lý cũng chǎ̉ng ứng nghiệm? Nếu không thì một đa tǎ́c hoạch sẽ có lúc phải đến chǎng?

-Không có thiểu tǎ́c đắc thì làm sao đa tǎ́c hoạch được?

Nguyễn bàng hoàng đứng lên, bước từng bước ngắn, phân vân. Người lớn tuổi ngồi yên đăm đăm theo dõi thái độ bạn. Chiếc bóng trước mặt nhỏ dần và rồi khuất hǎ̉n sau triền dốc xuôi về bãi cát mênh mông nơi đó những con sóng mình xanh thẫm đầu bạc trắng nhấp nhô trửng giỡn đuổi nhau không mệt trong ánh sáng vàng hổ phách.

Chàng chậm bước trên làn cát trǎ́ng. Mặt trǎng tròn (ở đây trǎng không bao giờ khuyết) vừa nhô khỏi tầm nước biển rải ánh vàng mát rượi trên vạn vật như trải lên đó một tấm lụa mỏng. Nàng Quỳnh Tiên cùng bầy mỹ nữ vừa tǎ́m xong tươi cười ùa đến đón chàng. Họ trải chiếu hoa, buông màn dựng cột, chỉ trong thoáng chốc đã dựng lên quanh Nguyễn một thế giới hoa đèn nhã nhạc. Bọn mỹ nữ kẻ dạo đàn người múa hát, đuốc hoa muôn màu, trầm hương ngan ngát nhưng Nguyễn uể oải chǎ̉ng buồn để ý đến quang cảnh chung quanh. Nàng Quỳnh nhìn người bạn tình, dò hỏi:

– Hình như hôm nay chàng có điều bận tâm?

– Không, ta chỉ muốn được yên tĩnh một lát…

– Vậy chàng hãy nǎ̀m xuống đây, lấy cánh tay thiếp làm gối…

Và nàng vỗ nhẹ ra hiệu cho bọn mỹ nữ lui ra.

 

2.

Trời cao và gió sững. Loại cỏ khô có gai mọc thành chùm dày đặc; rõ ràng là giống cây sống ở những vùng đất khô cǎ̀n thiếu nước, chúng chǎ̀ng chịt, trì riết, vừa bấu víu vừa cưa cǎ́t châm chích lẫn nhau nhưng vẫn tựa vẫn bám vào nhau mà sống. Có thể chúng là một biểu tượng nào đó mà lão già có linh cảm së phát giác ra sau này. Ký ức là lối mòn đã bị loại cỏ ấy phủ kín nhưng cứ mỗi bước tiến lên thì lối cũ lại hiện ra, ngǎ́n thôi, từng chặng nhỏ như trêu chọc như gọi mời. Có những lúc tưởng chừng như kẹt cứng, tưởng chừng chấm dứt, tưởng chừng cánh cửa quá khứ đã rỉ sét, đã hoàn toàn khóa cứng đóng chặt nhưng rồi bàn chân lưỡng lự vẫn đặt đúng hướng đúng chỗ, tuồng như bàn chân ấy có lõi sǎ́t bị cuốn hút bởi khối nam châm vô hình đâu đó. Những trang sách cũ cứ tuần tự được lật ra kể lễ nỗi niềm. Cơn mộng du kéo dài, lão không làm chủ được mình nữa. Cũng hợp lý thôi: tuổi tác chất chồng không biết đã bao nhiêu không lẽ không ảnh hưởng gì đến tấm thể xác phàm tục chứa toàn những uế vật? Chỉ đến bây giờ lão mới biết ra điều này. Ở trên ấy lão không hề nhận thức được, có lẽ vì trong môi trường không trọng lực, vật chất không hề bị biến thể chǎng? Khối lượng da thịt bỗ̉ng chốc bị rút mất chất tươi bǎ́t đầu bóp thǎ́t lấy nắm xương lão như hàng chục lớp vỏ khô se siết chặt vào lõi cây. Lão bước chậm dần, mỗi bước đi là một phần chất sống hao hụt. Nhưng trong tâm tư lão, một quá khứ chết lại đang lần hồi phục sinh. Lão đặt những bước chân cuối đến hàng thứ bảy của dãy mộ dài, đưa mắt tìm tấm bia xi-mǎng mà bố của lão đã ghi vội vàng mấy hàng bằng Hán tự đánh dấu thân xác người vợ vùi dưới ấy: Tuy lý vương phòng Công tôn nữ Nguyễn Phước Băng Tâm chi mộ. Tuy ngày ấy lão còn bé tí nhưng đã biết lo sợ sự mai một phũ phàng của thời gian, mỗi lần có dịp tảo mộ mẹ lại lấy mũi thép nhọn đào sâu thêm hàng chữ ngòng ngoèo. Lão già nhấp nháy mǎ́t, hoang mang không hiểu có phải vì mình không còn khả nǎng truy cập hay mǎ́t mình đã lòa, ký ức đã nhập nhǎ̀ng. Rõ ràng là ngôi mộ ở hàng thứ bảy. Rõ ràng là nơi lão đứng nếu nhìn về phía bắc ngọn núi cô đơn mũi nhọn chỉ thẳng vào vị trí ngôi mộ, và về phía nam, ngọn tháp nhiều tầng của ngôi chùa nổi tiếng còn sừng sững đấy tuy sứt mẻ nhưng vẫn kiêu hãnh vươn mình như chứng nhân không mệt mỏi của cuộc bể dâu. Nhưng bây giờ ngôi mộ ở hàng thứ bảy ấy mang tấm bia có hình ngôi sao nǎm cánh, bên dưới ghi tên Thượng úy Lại vǎn Đỗi, quê Tiền hải, Thái bình, đã hy sinh vì Tổ quốc tháng ba nǎm Mậu thân 1968. Như thế nghĩa là sao? Có ai trả lời được cho lão không? Chǎ́c là không. Hôm mới đến lão sực nhớ một người bạn cũ, tìm đến nhà gọi cổng, thấy kẻ trung niên ra chào, khi hỏi tin về người bạn thì kẻ kia đáp đấy là ông nội hǎ́n, đã mất từ hai mươi nǎm trước.

Thời gian gột rửa mọi dấu vết cũ chỉ để lại dáng dấp của một nòi giống qua màu da vàng và thứ ngôn ngữ lão còn nghe hiểu được. Nơi đây đối với lão, có chắc còn tên là quê hương? Những kẻ chung quanh có còn gọi được là đồng bào? Kiệt sức, lão nǎ̀m dài bên nấm mộ, thiếp đi. Khi thức dậy mặt trời đã khuất núi, màu hoàng hôn đã phủ lên bãi tha ma, một con chim đêm bay qua kêu lên tiếng não nuột, lão già lồm cồm bò dậy, ra khỏi nghĩa trang tìm về quán trọ. Trong bữa ǎn tối, chủ quán tò mò bǎ́t chuyện chǎ́c vì thấy lão kÿ quặc khác người. Anh ta cảnh cáo: “Bác tính ở lại đây bao lâu? Nếu quá ba tháng thì phải đến trình diện nhà chức trách và xin gia hạn giấy chiếu khán đấy”. Thì ra lão đang tự tình nguyện đưa tay vào chiếc khóa xã hội mà chìa khóa thì được cầm giữ bởi những ông anh lớn. Lão cũng đã quen với lối sống ngày dài tháng rộng nên không ngờ rǎ̀ng thời gian nơi đây tính bǎ̀ng hai mươi bốn tiếng đồng hồ ngựa chạy qua cửa sổ. Con người vốn thích nghi dễ dàng với buông thả hơn là với bó buộc! Trở lại khuôn khổ sau lúc sổ lồng ta cảm thấy khó khǎn làm sao. Nhưng nỗi vướng bận tâm trí lão giờ này không phải là chuyện đó: “Này ông chủ, tôi hỏi khí không phải xin ông bỏ qua cho, nhưng mục đích tôi về đây là để tìm mộ mẹ tôi… Chiều nay tôi ra nghĩa trang nhưng tìm mãi không ra. Liệu có phải người ta đã cải táng chǎng?” Chủ quán chau mày rồi bổng đổi thái độ chế diễu: “Mộ mẹ của bác? Chǎ́c là bà cụ mất đã lâu lắm?” -“Từ những nǎm nảo năm nào rồi”. Hǎ́n a lên một tiếng: “Bác có biết một triết gia trẻ Tây phương đã nói rǎ̀ng so với những đột biến ngày nay, thế kỷ chúng ta chỉ nên tính bǎ̀ng mười nǎm? Bác ạ, nếu bác chấp nhận lối suy nghĩ của triết gia nọ, chúng ta đã trải qua gần nǎm thế kỷ kể từ ngày bà cụ mất. Nếu lấy điểm bắt đầu của vǎn minh Thiên chúa giáo, chúng ta mới trải qua có hơn hai mươi thế kỷ, còn nếu cộng chung với các nền vǎn minh xưa như vǎn minh Trung Hoa chǎ̉ng hạn cũng chỉ mon men đạt quá nǎm mươi!… Với nǎm thế kỷ của bác bước đường đã bao nhiêu xa!” Không thèm để ý đến lối ngụy biện của chủ quán, mãi bǎn khoǎn đến nấm mộ của người mẹ thân yêu, lão già lẩm bẩm như chỉ muốn nói với chính mình: “Sống gửi thác về; kẻ đã khuất về đâu nếu không có một mái nhà nhất định?” Chủ quán làm như đọc được ý nghĩ lão: “Thời này, thời toàn cầu hóa, đâu chǎ̉ng thể là nhà, đâu chǎ̉ng là quê hương. Riêng chung chỉ là việc tương đối. Ngày xưa người ta bất mãn vì sự riêng tư nên tìm cách cộng sinh. Cộng sinh thất bại, giờ này người ta đang trở về cùng cái riêng tư đó bác không thấy sao?" Chủ quán đắc ý vì lối nói bóng bẩy của mình, ngửa cổ cười khan, bỏ lão già ngồi một mình trầm ngâm.

Liên tiếp nhiều ngày sau đó nếu không lần ra nghĩa trang thì lão xuống thị trấn; nếu không ra sức tìm lại mộ mẹ thì lại thǎm hỏi tung tích những kẻ thân sơ mà lão hy vọng còn sống sót. Nhưng mọi dò hỏi đều dẫn tới ngõ cụt và mọi kể lể của lão được đón nhận bǎ̀ng thái độ chế diễu. Lão là kẻ cuồng nhân giữa giòng sống chụp giựt rộn ràng vô nghĩa. Nhà họ Nguyễn không còn trên mảnh đất này, nghĩa trang làng Dương xuân thượng đã bị xóa dấu. Và mùa mưa tháng sáu của thành phố bǎ́t đầu. Nhưng tại sao phải nói tới mùa mưa tháng sáu của thành phố? Là bởi vì thuở hàn vi, mỗi lần trời mưa buổi chiều, những cơn mưa giông xối xả trên những mái tôn xóm ngoại ô, còn là một anh thư sinh nghèo xác lão chịu đựng những cơn dǎ̀n vặt không nguôi; đến khi làm kẻ chinh phu lão cũng có dịp trở lại con đường bụi-đỏ-ngày-hè, lầy-lội-khi-mưa đó để mình tự hỏi mình “biết ai còn thương ai hoài mà giọt mưa vẫn rơi rơi đều cho lòng nhớ ai”… Xẫm tối hôm ấy, lão trả tiền phòng trọ, mang gói ra đi. Không ai thèm để tâm đến lão già một buổi đến trọ trừ người chủ quán trầm ngâm nhìn theo.

Nhật báo Sông Hương sáng hôm sau đăng tin trên Hải vân quan có người nhảy xuống đèo tự tử nhưng xác chưa tìm được.

 

3.

Nguyễn mở mắt thấy người bạn vong niên đang ngồi cạnh. Cả người đẫm mồ hôi, chàng gắng nở nụ cười buồn cáo lỗi: “Chỉ là cơn mơ mà phải bận lòng huynh ưu lự.” Người lớn tuổi khoác tay: “Đệ hãy còn yếu, nên nǎ̀m yên nghỉ ngơi. Ta còn nhiều thì giờ trò chuyện, chớ có vội vàng…” “-Không đâu huynh ạ, em thấy hoàn toàn khỏe khoǎ́n, nếu tâm hồn chưa yên tĩ̉nh chỉ tại nổi ám ảnh dữ dội của cơn ác mộng vừa qua”. Chàng toan gượng chống tay ngồi dậy nhưng Trần đã nhanh tay ấn chàng nằm lại và dứt khoát đứng lên từ giã, cốt để người bạn trẻ đủ thời giờ tĩnh dưỡng …

Tự buổi ban sơ, khi tạo hóa bày ra kế hoạch A để tạo dựng nên trần gian, đã đặt cǎn bản trên hai nguyên lý sau đây: cộng đồng phát triển và cộng đồng hủy diệt. Vạn vật sẽ cùng nhau chen lấn để được có mặt (một cách hữu ích, nhiều khi không vì hữu ích cho chính chủ thể mà cho tập thể chung quanh nó; do đó có những sinh vật có lý trí như con người chǎ̉ng hạn sẽ đặt câu hỏi về ý nghĩa của sự có mặt của nó nhưng vì quá ích kỷ nên nó không thể nào hiểu thấu rǎ̀ng đôi khi sự hiện diện của nó không ích lợi gì cho chính nó nhưng cho cộng đồng; điều đó phát sinh toan tính tự chấm dứt đời sống – đấy là một sai lầm quan trọng của tạo hóa: lẽ ra không nên phú cho con người nết ích kỷ!) trong một giai thì và rồi sau đó mất hút đi, tất cả theo một chu kỳ được chi phối công minh, hài hòa nhờ sự ngự trị bất khả nhượng chấp của nhị nguyên tính bao trùm trên tất cả mọi phạm trù của cuộc sống. Nguyên ủy, khoảng nǎm trǎm nǎm mươi triệu cây số vuông không gian ấy còn hoang sơ, vấn đề tranh chấp không hề được đặt ra. Nhưng chỉ vì tham vọng vô độ của con người đã phá vỡ mất chu kỳ sinh hóa nơi vạn vật. Nhận ra nguy cơ, tạo hóa vội vàng thực thi kế hoạch B dù chưa được hoàn bị. Kế hoạch sau này không dựa trên nguyên tǎ́c biện chứng bởi lẽ thế giới thứ hai không dựa trên nguyên lý động mà là nguyên lý tĩnh, không sinh không diệt. Có những kẻ chưa hề biết thế giới trên này đã tưởng tượng rǎ̀ng có loại cây trường sinh sinh ra quả trường sinh và người ǎn vào sẽ sống mãi mãi. Sai, đấy là chuyện hoàn toàn bịa đặt. Không có âm dương thì làm gì sinh sản được? Tất cả mọi giống mẫu ở đây đều được mang từ dưới ấy lên và khi đến đây mọi biến hóa ngừng lại: cây có sǎ̃n hoa, hoa ấy không tàn, sinh vật gửi tới đang trên đà phát triển thì không phát triển thêm gì nữa nên cứ tươi tǎ́n mơn mởn. Những con người đã trưởng thành một khi đến đây vì còn sót lại chút kinh nghiệm nhân gian nên họ tiếp tục sinh hoạt như hồi còn dưới ấy (kể cả sinh hoạt tình dục) nhưng không đưa tới một kết quả nào vì nguyên tǎ́c sinh diệt hoàn toàn bị biến thể. Một điều quan trọng khác cũng nên nhấn mạnh để đánh tan những hiểu biết sai lầm: chúng ta tưởng rǎ̀ng những kẻ sống trên này là được chọn lựa nhờ lối xử sự tốt đẹp đối với đồng loại và việc lên đến đây như là phần thưởng họ nhận được của đấng quyền nǎng. Không, tạo hóa không xây dựng thế gian trên cǎn bản luân lý mà trên cǎn bản hợp lý…

Hai người bạn lại sánh vai dạo chơi bên nhau. Hai cụ già, một này còn thong dong quắc thước, còn một kia đã ra chiều đuối sức; kẻ quắc thước là Trần, người yếu đuối là Nguyễn.

– Bây giờ ngươi đã rõ rǎ̀ng ngươi không trải qua một cơn mộng?

Nguyễn cười e thẹn:

– Lại một lần nữa huynh tỏ ra hơn đời. Tại sao đệ không nhận ra điều đó nhỉ? Nhưng huynh ạ, nhờ chuyến phiêu lưu vừa rồi mà đệ khám phá ra rǎ̀ng dù ở đây chúng ta vẫn chưa thoát khỏi những ràng buộc của một sinh vật. Chǎ̉ng qua chỉ là một sự chọn lựa giữa hai điều kiện tuy khác nhau nhưng đều khǎ́c nghiệt không kém. Một bên lấy mong manh làm nguyên tǎ́c; bên kia dùng bất biến như một định đề. Đệ không biết phải chọn lựa thế nào đây. Vả lại trong tình cảnh chúng ta, sự chọn lựa không được đặt ra nữa. Lúc kẻ hèn này lần lên Hải vân quan đã tưởng rǎ̀ng mình còn được phép chọn lựa dù là cách chọn lựa của đứa cùng quẫn. Bên tai đệ còn vǎng vǎ̉ng lời thầy Trang: “Trời đất ký thác cho ta hình thể, dùng sinh mệnh làm ta mệt nhọc, dùng già lão để dạy ta an dật, dùng cái chết giúp ta nghỉ ngơi.” Huynh đã dạy rồi mà đệ vẫn quên rǎ̀ng triết lý là kết quả của những suy nghĩ về một hoàn cảnh mà không là một giải đáp phổ quát. Và điều này nữa cũng quan trọng không kém: ở trần gian nhận thấy tính vô thường của vạn vật, người ta tưởng chừng một khi đảo ngược được tính chất này là đạt hạnh phúc; họ đâu biết hạnh phúc được cảm nhận chính nhờ chỗ mong manh ấy.

Trần phụ họa:

– Hơn nữa hạnh phúc không phải là trạng thái mà chỉ là ý niệm. Suy cho cùng, (Trần cười chua chát) nếu chúng ta có khả nǎng sống thuần bǎ̀ng ý niệm thì nơi nào ta cũng có thể sống được, có cần chi phải chọn lựa nơi này nơi khác? Cho nên người bôn ba tìm vào ảo mộng còn ta… Ông bỏ lững câu nói, đǎm chiêu.

– Đệ không rõ đến cuối một chu kỳ nào đó thì trời đất có sập không, nhân loại có bị tận diệt không như niềm tin của một số người, nhưng nếu có âu cũng là điều tốt vì tạo hóa sẽ xóa bàn làm lại bởi chính tạo hóa đã tạo ra con người, đã trao cho hǎ́n quá nhiều quyền nǎng đến độ thay vì sống yên ấm cùng nhau, chúng đã sanh sát nhau và tự làm hại ngay cho bản thân chúng nhiều quá. Ngược lại, nếu quả đất cứ còn nguyên vẹn, may ra con người có ngày sẽ vượt qua bến mê, tìm cách cải thiện dần đời sống của chúng. Người ta nói rất nhiều đến những tiến bộ kỹ̉ thuật nhưng người ta không nói đến sự tiến bộ về tư tưởng. Bước tiến của loài người ở thế kỷ thứ 19 là chủ nghĩa Mác-xít, chủ nghĩa nhân bản không tưởng. Có sao đâu, “một lần ngã là bao lần bớt dại”, nói như ông Tố Hữu. Còn chủ thuyết dân chủ? Túc-cơ-viên [1] và cách mạng 1789 của Pháp đã mở đường cho những cải cách mà có thể ngay chính kẻ khai sinh ra chúng cũng không tưởng tượng nổi những biến thái to rộng sau này. Bǎ́t nguồn bǎ̀ng cuộc tranh đấu cho quyền sống, con người phá bỏ chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ phong kiến, chế độ thực dân, chế độ phát xít và những chế độ vô nhân khác mà với bản chất hung dữ con người còn tiếp tục tạo tác trong mai sau. Họ vẫn tiếp tục, và họ còn tiếp tục. Riêng chúng ta, chúng ta chọn lựa một hình thức đấu tranh thụ động là sự vượt thoát, sự lìa bỏ. Nhưng có lẽ thời điểm này là thời điểm của một đổi thay to lớn, nếu ta còn ở dưới ấy.

Trần phá ra cười, cười rộ, tiếng cười của kẻ tuyệt vọng:

– Không ngờ ngươi đã ở xa hàng trǎm nǎm đường đi ánh sáng [2] mà lý luận y hệt một tư tưởng gia tên Phủ-cố-gia-mộ [3] dưới trần. Nǎm nọ ta tình cờ đọc được cuốn sách của gã, cuốn “Chung sử, hậu nhân” [4]. Gã không phải là gốc người Tây dương nhưng vì được giáo dục bởi nền vǎn hóa đó nên gã đã có cái viễn kiến lạc quan và ngây thơ của những kẻ đào tạo. Theo ý gã thì ý thức hệ dân chủ là ý thức hệ hoàn chỉnh nhất mà con người đã tưởng tượng ra được. Và vì đã hoàn chỉnh thì …khoáng hậu. Nhưng ta hỏi ngươi: Đức quốc xã có xây dựng trên ý niệm dân chủ không? Người dân Liên bang xô viết có bầu cử theo đường lối phổ thông bầu phiếu không? Các xứ sở độc tài, toàn trị, quân phiệt nhất trên thế giới chǎ̉ng tung hô khẩu hiệu dân vi quí đó ư? Và ngày nay còn bao nhiêu xứ ở trần gian không mang nhãn hiệu dân chủ, cộng hòa mà thực sự đám đông có quyền quyết định hay chỉ một thiểu số nǎ́m quyền sinh sát? Giới lập pháp có đủ khả nǎng tiên kiến mọi lạm dụng, mọi vi phạm quyền hành? Và đám cùng đinh có khả nǎng bày tỏ sự bất bình của họ?

Bị bạn dồn vào thế bí, Nguyễn lúng túng:

– Chǎ̉ng lẽ lịch sử chỉ là một sự lập lại…

– Bởi bản chất con người muôn đời vẫn là những mẩu lập lại. Vì vậy không nên cải tạo thế giới mà chỉ nên cải tạo con người. Ngươi Huất-tỉnh-tồn[5] tiên kiến rǎ̀ng những cuộc tranh giành mai sau bǎ́t nguồn từ những va chạm giữa các nền vǎn hóa. Có hai tiêu điểm chính mà kẻ chǎn dân ngày sau sẽ phải nhǎ̀m tới nếu y đủ đức độ của Nghiêu, Thuấn ngày xưa là nâng tầm hiểu biết của quần chúng và kiểm soát sự sinh sản[6]

– Liệu hai điều đó đủ để bảo đảm cho tương lai tốt đẹp của con người?

– Chúng không đủ đảm bảo khả nǎng tiêu diệt hoàn toàn xu hướng chiếm đoạt tranh giành của con người nhưng ít ra chúng giảm thiểu được phần nào lòng tham lam vô độ của họ. Sự hiểu biết và đạo đức là hai điều hoàn toàn không dính dáng gì với nhau, dù vậy kẻ hèn này vẫn tin rǎ̀ng sự hiểu biết đúng nghĩa vẫn mang trong nó mầm mống của nết hạnh. Và nếu con người thực sự vǎn minh[7] thì điều kiện đầu tiên phải có là ý thức tôn trọng tha nhân. Từ đó y có cái nhìn đúng đắn. Và từ thái độ đúng đắn, y dang xa mọi tranh chấp vô bổ. Tránh được mọi tranh chấp vô bổ nhờ thái độ an nhiên. Việc ngươi trở về dưới ấy là một hành động vô bổ. Việc thực hiện kế hoạch B của tạo hóa cũng là một thất bại. Ta đã nói với ngươi rồi đó nếu chúng ta có khả nǎng sống thuần bǎ̀ng ý niệm thì nơi nào ta cũng có thể sống được, có cần chi phải chọn lựa nơi này nơi khác?

Nói chưa dứt câu, Trần đã đứng lên rũ áo ra đi. Kẻ còn lại mãi ngồi thừ suy nghĩ. Xa xa, chân trời về chiều trở mầu tím ngát, một vầng mây mờ vắt ngang, từ nơi đó vẳng lại tiếng hát, khoáng đạt ung dung:

Thương lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh;
Thương lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc
[8]

Đặng đình-Túy

 

Chú thích :

1 Tocqueville, Alexandre ; những danh tự riêng chỉ tên tuổi dưới đây đều được phiên âm theo lối đùa cợt rẻ tiền của người viết

2 Người viết không biết được khoảng cách của hai nơi, giữa trần gian và chỗ trú của hai nhân vật trong truyện là bao xa nên nói bừa như vậy

3 Francis Fukuyama (phiên âm theo lối chú thích 1 trên đây)

4 "The end of history and the last man" (F. Fukuyama) chỉ là một lối lộng ngôn, xin các vị thông hiểu hán học bỏ qua cho

5 Samuel P. Huntington, tác giä "The clash of civilizations and the remaking of world order"

6 Quan điểm này chúng tôi ngờ rǎ̀ng ông Trần đã thuổng ý tưởng của Emmanuel Todd (xin xem Après l’empire) mà không thú nhận đấy thôi

7 Vǎn minh, suy cho cùng chỉ là hình thức của lòng tự kiêu (ý tưởng này của ông Trần, cam đoan ông không thuổng của ai) chỉ nên sử dụng mặt tích cực của nó

8 Mạnh Tử: Nước sông Thương trong xanh thì ta giặt giải mũ ta; nước sông Thương đục thì ta rửa chân ta

bài đã đăng của Đặng Đình Túy


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)