* Đây là một phiên bản dài so với bài bạt đã in trong tuyển tập THƠ BUỔI SÁNG của Nguyễn Đức Tùng, Nxb Hội Nhà văn – Hà Nội, 2023.
Đừng tưởng cứ đợi là chờ.
Cứ âm là nhạc, cứ thơ là vần.
—Bùi Giáng
Nhân vật chính yếu của lịch sử văn học là thể loại.
—Mikhail Bakhtin
Thơ Việt đương đại đã tạo thời vận cho các nhà thể nghiệm, nhất là vào thời kỳ hậu Đổi mới ở Việt Nam 1995-2015. Nguyễn Đức Tùng là một trong số đó, kiên trì và sôi nổi. Hơn thế, anh thuộc vào số ít các nhà thơ nổi lên từ thời đó mà vẫn sôi nổi và kiên trì cho đến tận các năm 2020s này – khi mà thơ cũng như văn chương tiếng Việt, cả trong lẫn ngoài nước, lâm vào giai đoạn “nổ bong bóng.”
1. Một đại diện hải ngoại tạo ảnh hưởng đến sinh hoạt văn chương trong nước
Đấy là một người làm thơ; về cung cách từ truyền thống đến (hậu) hiện đại; về nhân thân có tuổi tác, trải nghiệm, hành trình cuộc đời neo lên đủ các thăng trầm từ đáy vực cho đến lầu cao của xã hội người Việt từ 1954 đến nay, trong đó có miền Nam Việt Nam và hải ngoại; và theo đuổi một đường hướng sáng tạo phải nói là “kỳ khôi” trong một thể thơ chưa ổn định của thi ca tiếng Việt mà chúng tôi, tại đây, đề nghị được định danh là thơ văn-kể[1].
Đấy là một trong không nhiều người Việt hải ngoại thẩm thấu và đam mê nối kết văn thi hữu trong-ngoài nước, qua hàng loạt bài phỏng vấn, phê bình, biên tuyển… cũng như phổ biến tới độc giả Việt Nam thi ca Bắc Mỹ hiện đại. Nói một cách tương đối, giới văn chương tiếng Việt hải ngoại từ sau 1975 với chừng năm bảy vị đại diện đã có ảnh hưởng đến sinh hoạt văn học trong nước: Khánh Trường và Phạm Thị Hoài (về tạp chí); Đặng Tiến và Thụy Khuê (phê bình, biên khảo); Nguyễn Hưng Quốc và Khế Iêm (nghiên cứu, lý luận); và Nguyễn Đức Tùng (bình luận, đối thoại thơ).
Xin được phân chia, với mốc các năm là tương đối, bốn thời kỳ làm thơ của tác giả: Thời kỳ thứ 1 – ở Việt Nam (không có nhiều thông tin, bài vở); Thời kỳ thứ 2 – ra hải ngoại cho tới cuối thập niên 1990, đây là giai đoạn “truyền thống”: các sáng tác đều là thơ vần điệu theo các thể loại truyền thống; Thời kỳ thứ 3 – khoảng thời gian 2000-2015; Thời kỳ thứ 4: từ 2015 đến nay. Hai thời kỳ sau có thể gọi là giai đoạn “(hậu) hiện đại.”
Trước đây, in chung vài lần nhưng nhà thơ chưa hề xuất bản riêng tập thơ nào. Thi tập đầu tay Thơ buổi sáng với ba phần sáng tác: Thơ, Haiku, và Trường ca. Phần chính yếu là Thơ bao gồm gần 140 bài, trong đó khoảng mươi bài cũ từ trước thời kỳ 3; chừng 80 bài mới của thời kỳ 4; còn lại tầm 40 bài thuộc về thời kỳ 3.
Trong làng văn chương – báo chí hải ngoại, về mặt hiệu quả ở phẩm lẫn lượng của các sáng tác, Nguyễn Đức Tùng tham gia rất trễ, ngay cả so với những thi hữu lứa sau. Thiển ý chúng tôi, ở hai thời kỳ đầu, thơ của anh chưa thể coi là thành đạt; và trên thực tế tác giả không tạo dấu ấn giữa dư luận và văn giới chuyên nghiệp thời đó. Thời kỳ 3 thực sự là “mùa hoàng kim” cho thơ Nguyễn Đức Tùng nhờ thể tài thơ văn-kể. Và hiện đang thời kỳ 4 – không chỉ với thơ – tác giả tung hoành ngoạn mục, về số lượng sáng tác cùng thi hứng tràn trề, trên hầu hết các thể thơ tự do, từ haiku qua thơ trữ tình (kiểu bình thường) cho tới thơ dài (trường ca).
2. Sơ lược về thể thơ văn-kể và thơ Nguyễn Đức Tùng
Tạm gọi là thể thơ văn-kể, để khu biệt giữa những hình thức/dạng thơ “phi truyền thống” từ sau thời Thơ mới như các thể thơ đã được định danh: thơ tự do, thơ không vần, thơ văn xuôi, thơ hình họa, thơ khẩu ngữ, v.v… Đặc biệt để so với thơ-kể, một cách gọi khá quen thuộc của thể thơ Tân hình thức Việt.
Về đặc điểm, thơ văn-kể kiểu như Nguyễn Đức Tùng: hình thái căn bản là thơ tự do không âm vần; không tạo nhịp điệu qua từ ngữ, khó nhận biết khi nào kết thúc một câu thơ qua trật tự bên ngoài; tức là thường xuống dòng, ngắt câu theo nội dung câu thơ; ít dùng nghệ thuật tu từ; nhiều bài tựa như thơ dịch.
Các chỗ khuyết đó so với thơ bình thường khiến thể thơ văn-kể thường lâm vào thế gắng gượng, giả tạo; tức là dễ bị coi không-là-thơ.
Và đây là một số tiêu chí để thơ Nguyễn Đức Tùng vẫn là “thơ”: Nhịp điệu bên trong được tạo qua ý tưởng; Tứ thơ chính xác, ám ảnh; Cảm xúc sinh ra bằng ý tưởng; Hình tượng đa tạp, đôi khi rất ấn tượng… Nhất là, chỉ cần dùng “lửa” thử thơ hiện đại của Roman Jakobson – “Thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng” – thì thơ Nguyễn Đức Tùng ổn. Có điều thơ này là ngôn ngữ tư duy, không là ngôn ngữ hình tượng.
Chúng ta thử so sánh thơ văn xuôi và thơ văn-kể. Thơ văn xuôi: câu, ý quyện thành dòng chảy về cả hình thức (không xuống/ngắt dòng, có khi không viết hoa, không dùng các ký hiệu chấm phẩy) lẫn cú pháp (kết cấu chủ-vị-bổ ngữ thường bị vi phạm); nhiều câu/đoạn không có ý, nghĩa logic của văn xuôi mà tạo ấn tượng cảm xúc giống thơ bình thường; có nhịp điệu đến từ hình thức ngôn ngữ…
Trong khi đó, thơ văn-kể ngược lại những điều trên, xuống/ngắt dòng như thơ tự do bình thường; cố gắng giữ ngữ pháp chuẩn; các câu/đoạn có ý, nghĩa, toàn bài có đích và thường có câu kết tạo sốc.
Có thể ví thơ bình thường như chạy việt dã vài kilômét; thơ dài và trường ca: maratông; thơ văn xuôi: chạy trình diễn quanh sân vận động; còn thơ văn-kể là cuộc chạy 100 mét.
Hình dung nếu độc giả ngoại quốc đọc bản dịch thơ văn-kể của Nguyễn Đức Tùng thì sao? Dễ hiểu, vì gần như nội dung, ý tưởng được giao chuyển trọn vẹn. So với thơ Tân hình thức Việt, thơ văn-kể thuận lợi hơn khi chuyển dịch ra các ngôn ngữ quen thuộc nhờ sự tường minh của ý nghĩa, không có nhịp điệu chung và không bị ràng buộc bởi kỹ thuật vắt dòng.
Với chúng tôi, hình thể chung của thơ văn-kể như có đã lâu, bắt nguồn từ nhiều thể loại văn hóa truyền thống. Chính bài Tình già của Phan Khôi từng khởi động Thơ mới cũng có thể xem là một dạng như vậy, ở lối kể trực tiếp, có cốt truyện tình tiết, có điệu có nhịp mà không vần… Còn bây giờ thơ Tân hình thức Việt đã dùng “kể” như một bút pháp chủ lực, tạo sự lôi cuốn kỳ dị nhưng với ngôn ngữ của “thơ” – tức là có nhịp điệu bằng các kỹ thuật nối dòng, lặp lại… Và, Thơ kể – Poetry Narrates chính là tên của một tuyển tập thơ Tân hình thức Việt.
Để góp phần nhận ra các điều trên, mạn phép so sánh hai loại văn bản từ một bài tiêu biểu cho thể thơ văn-kể kiểu Nguyễn Đức Tùng. Chúng tôi thấy đây cũng là bài thơ tương đối hay về nghệ thuật trên mặt bằng thơ Việt hiện nay.
Bản 1 là bài thơ gốc của tác giả. Bản 2 là bản “văn xuôi” do người viết chuyển toàn bộ các chữ từ Bản 1, có thêm bớt các dấu chấm phẩy.
Bản 1:
“Quê hương
Anh bỏ nhà đi năm mười bảy tuổi
Cầm tay em gái dặn dò
Săn sóc mẹ cha
Chăm lo vườn tược cửa nhà
Đừng quên con chó nhỏ
Anh đi một mạch ba mươi năm
Khi về mẹ cha đã mất
Em gái không còn
Con chó chôn ở góc vườn
Cà đang ra nụ, hoa khế rụng đầy sân
Anh ngạc nhiên
Thấy nhà sạch sẽ
Bàn thờ ngát thơm hương khói
Ngồi ở cửa sau
Một con khỉ lông vàng
Đang ăn chuối”
Bản 2:
“Quê hương
Anh bỏ nhà đi năm mười bảy tuổi. Cầm tay em gái dặn dò: Săn sóc mẹ cha, chăm lo vườn tược cửa nhà, đừng quên con chó nhỏ. Anh đi một mạch ba mươi năm. Khi về mẹ cha đã mất. Em gái không còn. Con chó chôn ở góc vườn. Cà đang ra nụ, hoa khế rụng đầy sân.
Anh ngạc nhiên, thấy nhà sạch sẽ. Bàn thờ ngát thơm hương khói. Ngồi ở cửa sau, một con khỉ lông vàng, đang ăn chuối.”
Có thể thấy Bản 2 không được là “thơ”, ngay khi đọc như thể thơ văn xuôi. Theo quan sát sơ bộ, dễ dàng “chuyển văn bản” cho chừng hai phần ba (2/3) số lượng bài thơ văn-kể của Nguyễn Đức Tùng.
Bởi vậy, nếu như tạo được “thi pháp thơ văn-kể” của văn học Việt thì Nguyễn Đức Tùng sẽ là tác giả đầu tiên thành công ở thể thơ chưa ổn cố này? Và ngay cả khi đó, dù thể thơ văn-kể không thể ảnh hưởng mạnh đến thơ Việt, nhưng đó sẽ là một trong các nguồn trợ lực để thơ Việt thăng hoa, thêm nhiều thành tố ngõ hầu trở nên tài sản chung của nhân loại.
3. Một tác giả hàng đầu trong dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị
Nguyễn Đức Tùng còn là một trong vài cây bút đầu tiên khiến người viết, từ nhiều năm qua hình thành, tìm hiểu dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị như là một nhóm các tác giả thơ Việt cần phương pháp tiếp cận riêng.
Thêm lần nữa, chúng ta hãy lưu tâm về “dòng thơ cần giải thích giá trị” Việt Nam từ những nhà thơ: a. Có lối viết mới-lạ khó nhận chân, đã/đang/tiềm năng đề xuất bút pháp/thi pháp thơ, góp phần đáng kể thay đổi hình thể và phẩm chất thi ca Việt hiện nay. b. Chưa/ít được giới phê bình và dư luận nhìn nhận/đúng đắn/đầy đủ. Nói nôm, đó là những tác-giả-khó.
Danh sách dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị bao gồm 32 tác giả đương đại (Cập nhật 19/8/2022): Chân Phương, Đặng Huy Giang, Đinh Thị Như Thúy, Đoàn Huy Giao, Khế Iêm, Hoàng Xuân Sơn, Lê An Thế, Lê Đình Nhất Lang, Lưu Mêlan, Mai Quỳnh Nam, Mai Văn Phấn, Ngô Tự Lập, Ngu Yên, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thanh Hiện, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, Phan Nhiên Hạo, Phạm Phú Hải, Trần Khiêm, Trần Thiên Thị, Thường Quán, Trần Nhuận Minh, Trần Tiến Dũng, Trương Đăng Dung, Tuyết Nga, Uyên Nguyên, Vũ Lập Nhật, và Vương Ngọc Minh.
Phương pháp tiếp cận là khảo sát trong hệ thống và định giá trong tương quan khi nương theo những tiêu chuẩn đối lập (hay-dở, đổi mới-nguyên cũ, hiện đại-truyền thống, cách tân-cổ điển, tiêu biểu-bình thường, nổi danh-chìm khuất).
Ở thập niên trước, các tìm hiểu với ba tác giả Tuyết Nga, Mai Văn Phấn và Nguyễn Quang Thiều[2] đã được công bố.
Cho tới nay, ngay cả với toàn tập Thơ buổi sáng (nhìn chung là không “khó” đọc lắm”) cũng thật khó thấy hết các lý do vì sao khó tìm hiểu thơ Nguyễn Đức Tùng hơn nhiều “tác giả khó” khác ở cùng cái “dòng thơ khó” này!?
Quan niệm rằng mỗi tác giả, tác phẩm là một chữ, một câu trong bài-thơ-chung của nghệ thuật thi ca, chúng tôi cố gắng bình giá từng nhà thơ của Dòng thơ cần giải thích giá trị như những liên-tác-giả. Bàn về tác giả này cũng có thể luận đến tác giả hay chuỗi tác giả khác, trong hoặc ngoài hệ hình. Không chỉ nghệ thuật thi ca, mà còn văn-hóa-của-thi-ca.
Liên tác giả cùng Nguyễn Đức Tùng gần như chẳng có ai, về lối viết. Rất nhiều bài thơ của anh không là sáng tác có vấn đề, vì chỉ hiểu/cảm sai lệch một chút, thậm chí không hiểu/cảm, là chẳng thấy vấn đề gì. Mọi thứ tưởng bình thường, có khi tầm thường. Thế cũng thành thơ. Cả hình thức lẫn nội dung. Nhưng đó lại là các tổ hợp ngôn tự ám ảnh âm ỉ. Con-mắt-thứ-ba chưa nhìn ra? Thì sau con-mắt-thứ-ba…
Với tác giả này ba đối tượng đọc là thơ-cho-người-đọc, thơ-cho-người-viết, và thơ-cho-nhà-phê-bình được đan quyện.
Theo bốn tiêu chí quyết định văn học, kiểu này ở thơ Nguyễn Đức Tùng chuyển hóa về thẩm mỹ thi ca (nếu như thành công!?) dù chưa rõ ràng về đặc trưng thể loại, còn về phương cách sáng tác và hình thức ngôn ngữ lại bình dị và căn bản, tưởng không là thơ. Đây là thứ văn-học-khó tự thân, như một sáng tạo đòi ly biệt hệ hình đang có về thực chất nhưng còn trong dáng vẻ ngập ngừng.
Đây còn là kết quả từ sự song hành hai dòng văn hóa Đông-Tây, cạnh tranh giữa hai nhân sinh quan của hai ý thức hệ, và bất ổn trong hai hình thức văn-thơ. Trên tam giác ấy, Nàng thơ chông chênh ở hai đỉnh sau; nói gọn, tác giả của những bài thơ văn-kể chưa tạo ra thi pháp mới; nhưng có thể?
Thử nhìn Nguyễn Đức Tùng từ tác giả khác ở thái cực bên kia, về nhiều mặt. Như chúng tôi từng phân tích, Nguyễn Quang Thiều có thơ không là loại văn-học-khó tự thân; chỉ “khó” tùy theo dư luận và bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố ngoài thơ, thậm chí phi/phản thơ; đáng kể: có thi pháp ổn cố đến gan góc trên cả bốn tiêu chí làm nên văn học. Nếu được ví trường thơ Nguyễn Quang Thiều là cánh rừng nguyên sinh Cúc Phương – đến đó và chỉ cần đến đó, đi hết chiều tây sang đông, sống qua đêm sang ngày… là có thể thấu hiểu về rừng; thì mỗi cụm thơ Nguyễn Đức Tùng khi là khóm sen Đại Nội thành Huế, lúc là nhành hoa sứ chùa Hoa Nghiêm – mà sen ấy nên ngắm ở Đại Nội, hoa sứ đó cần thưởng tại Hoa Nghiêm.
Xét đặc điểm thi ca Nguyễn Đức Tùng để so sánh trong Dòng thơ cần giải thích giá trị. Thơ văn-kể của anh có từ khoảng năm 2005 đến nay như một lối viết, với riêng chúng tôi, chưa từng thấy[3] trong thơ Việt! Về trào lưu: đây là thơ hiện đại mang một số biểu hiện hậu hiện đại. Về thể tài, dung hòa 3 yếu tố: tính thời cuộc/luận đề, sự phân tâm, và giọng hài hước. Về lý thuyết, các sáng tác như thế sẽ có hình thức đúng nội dung và nội dung hợp hình thức: với đề tài thời cuộc, chủ đề suy tưởng thì hình thức trần thuật, tự sự sẽ hợp hơn hình thức trữ tình trong giọng điệu ngân nga; phong cách biếm hài sẽ làm trí tuệ trở nên khách quan hơn; cảm giác phân tâm, phi lý lại làm tăng độ ẩn dụ, song le tính thơ bị yếu đi do kém tu từ, âm điệu. Việc còn lại là kết quả thực hành, là nghệ thuật thể hiện; nói nôm: thơ có hay không? Quan trọng hơn cả: bạn đọc tiếp nhận ra sao?
Tính lấp lửng, chia trí người đọc – qua đó tạo thi cảm – của thơ Nguyễn Đức Tùng được tạo bởi ý tưởng. Đôi khi bằng hình ảnh, chứ không bằng cảm xúc, tu từ ngôn ngữ. Đây là điểm khác căn bản giữa thơ phương Đông và phương Tây. Thơ Nguyễn Đức Tùng “Go West” trong mặt này. Chán vì không thấy vần điệu, lại không hiểu để cảm, những độc giả như thế của anh hoặc bỏ ngay (vì không thấy đó là thơ, không hiểu nói gì); hoặc bị ám ảnh, muốn hiểu, cảm bằng hết mà chưa biết cách.
Trong đại gia đình thơ tự do, lối thơ thơ văn-kể kiểu Nguyễn Đức Tùng gần giới hạn cuối cùng của sự tự do nhịp điệu. Đó cũng là nhịp điệu nội tại, phân biệt với những loại nhịp điệu bên ngoài qua âm vần, ngôn từ… Với tác giả này, nhịp điệu được hình thành từ ý tưởng của nội dung, ý định của chủ thể trữ tình, thậm chí ý muốn của chính nhà thơ. Với thơ tự do, như ở Nguyễn Đình Thi, Quách Thoại nhịp điệu là hình tượng; còn ở Thanh Tâm Tuyền nhịp điệu của ý tưởng.
Ngoài vài yếu tố không “quậy” như thơ hậu hiện đại (tới mức bị coi là phản nghệ thuật hay được xem là phản biện nghệ thuật), nhạc tính thơ Nguyễn Đức Tùng “quậy tới bến” khi thanh trừng “ca” khỏi “thi ca” – quốc hồn quốc túy, đặc sản Việt tính của văn chương tiếng Việt.
Chúng ta từng biết nhịp điệu của thơ Nguyễn Quang Thiều như một thi pháp đơn điệu nhưng vẫn dáng dấp với rất nhiều nhịp điệu từ lớp người viết trước, cùng thời và sau: Nguyên Sa và Chế Lan Viên (trong thơ văn xuôi); Đặng Đình Hưng và Cao Đông Khánh; Trần Vàng Sao và Lưu Quang Vũ; Lê Vĩnh Tài và Đinh Thị Như Thúy… Họ đã văn-xuôi-hóa nhịp thơ tự do mà Nguyễn Đình Thi và Thanh Tâm Tuyền khai mở. Giờ đây Nguyễn Đức Tùng lại văn-kể-hóa nhịp thơ tự do ấy. Đề nghị lấy đó làm chìa khóa mở (và đóng, với những ai muốn) cửa thơ này.
Cái thứ thơ như thế đọc lên sao cho hay đã là khó với chính tác giả!? Những người khác thì càng khó có thể đọc đúng. Diễn cảm hay ngâm nga: bất khả. Thông thường, bài thơ có tứ chưa cần hay chỉ cần chuẩn là thính giả sẽ đoán biết về thời hạn đưa tới câu chót. Tay thơ này giỏi tạo tứ, đâu ra đấy. Nhưng người nghe lần đầu khó có thể ngờ cái câu vừa được đọc xong ấy lại là câu kết. Ở những bài kết thúc bất ngờ, dễ nhận ra nhờ nội dung, nhưng nhịp thơ và âm vận vẫn không chịu kết.
Nguyễn Đức Tùng đang viết ở thời kỳ 4 (còn rất sung, chưa thể là chặng cuối), dù người thơ ấy vào độ tuổi mà với đa số tay bút khác không nhì nhằng thì cũng cầm cự cho tới bài thơ cuối cùng.
Như đã nói, sáng tác “truyền thống” ở hai thời kỳ đầu cũng bình thường trên mặt bằng thơ đương thời, có phần tụt hậu so với thơ hiện nay; và tầm thường (xin lỗi thi sĩ cùng bạn đọc!) trong suốt dọc thi trình của bản thân tác giả. Đều là thơ tình ái nam nữ đượm nghĩa quê nhà ở các thể lục bát, vần luật, tứ tuyệt, và – với chúng tôi – quyết định ở chỗ nhìn chung chúng “chã” hay. Những là Hoa đào, Hẹn em, Xin, Liễu, Chiêm bao… Rồi cả Chia tay, Lục bát mùa thu, Ga cuối, v.v…[4]
Vào cái “thuở ban đầu xao xuyến ấy”, các sở trường sở đoản quen thuộc của thơ truyền thống Việt được thi sĩ của chúng ta ẵm chặt – như ngàn vạn thi hữu đương thời và còn lâu nữa về sau: giọng điệu luyến ái sên sến trong bổng trầm du dương; thi cảm tình tứ, chan chứa mà đơn điệu, mơ hồ; thi tứ vững chãi từ motif sáo mòn; thể tài tình trai nghĩa gái kiểu gì cũng giao hòa giữa khung cảnh quê nhà thân thương trong thiên nhiên cỏ cây hoa lá; và nhất là ngôn ngữ “hoành tráng” bởi mỹ từ, ẩn dụ nhưng không “ấn tượng,” khó bí ẩn, ít sâu sắc mà ngán nhất: chữ nghĩa tuyền là cầm đỡ của tiền bối; v.v… Hẳn vì tay nghề khi đó chưa thể cao sâu thành ra sở đoản cứ “bong ra ngoài” mặc sở trường “lặn vào trong.”
Nếu chỉ vậy, một Nguyễn Đức Tùng đã chẳng hiện diện thi đàn trong-ngoài Việt như đang là. May thay, thiển cận chúng tôi cũng “nhòm ra” nét phá cách khi le lói lúc lấp lửng ở một số bài thời kỳ 1 & 2, báo hiệu một tay thơ có số má trong tương lai mà táo tợn hơn cả là vụ “thơ trong nách”!
Về cảm hứng chủ đạo, với thơ truyền thống thi sĩ viết sao cứ như “đánh Pắc” cho cái tôi trữ tình của tác giả; và đến hai thời kỳ sau, qua thơ hiện đại, nhà thơ đã để dấu ấn của tâm tư Nguyễn Đức Tùng, của nhân sinh quan Nguyễn Đức Tùng, và nhất là của ngôn ngữ Nguyễn Đức Tùng trên mỗi sáng tác lớn nhỏ, thậm chí ở mỗi câu thơ có tính quyết định.
Thành công ở nhân vật chính của nghiên cứu này là một trong cả ngàn ngàn minh chứng về điều tối cần thiết của thơ tự do giữa một thời đại mới lạ mỗi ngày hỗn độn từng đêm.
Cuối thời kỳ 2, khoảng năm 2000, sáng lên ở vài bài (Cha và con, Trong ký ức của chủ tịch xã, Ghé thăm bạn cũ nay làm xếp ga) để sau đó vài năm thi sĩ trung niên hăm hở và bền bỉ quẹo hẳn vô nẻo thơ thứ thiệt trong đời mình: thơ văn-kể!
Nguyễn Đức Tùng có lối viết rất hiện đại về thẩm mỹ, rất đương đại về thời cuộc. Chia sẻ cùng phong cách hậu hiện đại qua một vài kỹ thuật/thủ pháp nhưng không chạy sang dòng hậu hiện đại về thực chất/tâm thức. Ở anh, cảm quan gốc? Là hiện đại (hiện đại nữa, hiện đại mãi!) Là bảo vệ trung tâm lý tưởng – cái trung tâm đã và sẽ không bao giờ có trong đời thực (nên về cốt lõi tâm can là hậu lãng mạn!) Yếu tố này làm nở hoa các phong cách lãng mạn và hiện thực vốn là nền cũ của tác giả, cũng như của hầu hết các nhà thơ rời xa các khuynh hướng cội nguồn và truyền thống của văn chương.
Về tư tưởng chủ đạo, thơ này không có tính phản biện (theo kiểu cảm quan hậu hiện đại). Nó phản tư, đặt con-trâu-thơ trước cái-cày-có-tính-“cách mạng.” Nó đòi minh bạch về nhân sinh quan và nhân cách. Nói chung, giống với mọi tác giả khác, tính “cách mạng” dễ làm nên phong cách dù theo các dòng thơ truyền thống, hiện thực, hay thậm chí lãng mạn. Có điều kiểu “cách mạng” ở thơ Nguyễn Đức Tùng mang dáng trí thức, hài cợt; và – với chúng tôi – thống khoái nhất là sự lạ hóa nhòa đi bởi chất phân tâm khó tả. Nhìn ra vậy, ta sẽ thấy cái cốt xương cổ điển trong da thịt hiện đại hay trang phục hậu hiện đại ở đấy. Thủ pháp lạ hóa với tạng thơ này cũng thú vị đáo để: được thăng hoa với bài hay, bị rắm rối nơi bài dở.
Như thơ Mỹ-Canada đương đại, kết cấu thơ Nguyễn Đức Tùng trung thành với tính truyện của văn xuôi, từ thời cuộc, xã hội tới sinh hoạt thường nhật… Từ những bài xuất sắc nhất của anh đều có thể “kể” ra một nội dung lạ lẫm.
Đây là các thi phẩm tuyệt hay của riêng tác giả, và mong sao sớm trở thành những sáng tác đặc sắc trong thơ Việt đương đại: Chùa, Nếu, Nhịp đập, Đi dạo với một nhà văn dưới ánh trăng, Chùa Việt Nam…
Chất thời cuộc qua chủ đề chiến tranh là thân xác và cả linh hồn ở lối thơ này. Đa phần các bài như thế tạo ấn tượng tốt: Lịch sử làng tôi (Hay); Trường hợp bất ngờ, Sau chiến tranh (Khá); ngay cả khi nghệ thuật chưa cao (Ngọn lửa, Trong đêm dưới sao trời, Gặp bạn cũ ở Quảng Trị, Thăm Trung Hoa…)
Phân tâm, chia trí độc giả là một độc bút có thể nói “made in Nguyen Duc Tung.” Bài Hai vầng trăng chưa xuất sắc nhưng ở đó bút pháp phân tâm lại hiệu quả: nhẹ nhàng mà da diết đến ngàn cân những vầng trăng tuổi thơ neo trên đầu kẻ xa xứ. Nếu, Vô thức, Làng quê là các bài mà chúng tôi sẽ còn đọc trong cái nhớ nhiều lần, nhâm nhi sự bất định tâm trạng trong đó. Các bài đã lạm dụng bút pháp: Buổi chiều, Phố Tàu, Cánh đồng…
Hài hước trong thơ Nguyễn Đức Tùng là một thứ u mặc (humor), có lẽ chẳng thấy trong 36 kiểu cười Việt? Đây cũng là “Tây tính” trong lối thơ này.
Là thiên đường cho tiếng khóc lời than, thơ trữ tình Việt từ truyền thống đến hiện đại thường thiếu nụ cười, nếu có thì ý vị vô cùng. Để toàn cầu sở hữu, nó cần phong cách hài trí tuệ, mà thơ Nguyễn Đức Tùng có thể làm một ví dụ dù không điển hình. Như là các nhà tiên phong, Đỗ Kh. và Nguyễn Đăng Thường cũng từng cho ra thơ mang chất hài cao độ. Và đó là cái hài phản biện xã hội, cái hài văn hóa sâu xa. Nhóm Mở miệng đã phát triển điều đó, không sâu mà cao quá ngọn tre làng. Nguyễn Đức Tùng làm hài văn học, khó đến với người Việt hơn.
Có thể coi tính giễu nhại (parody) của thơ đương đại dòng hậu hiện đại mang tính thời cuộc Việt khởi đầu là Nguyễn Hoàng Nam, song ngoạn mục phải tới Đỗ Kh. (phi luận đề, chuyện bếp núc văn chương pha thời cuộc); đến Nguyễn Đăng Thường, Vương Ngọc Minh và thơ Mở miệng đã tăng độ luận đề (mà đúng ra là luận điểm). Dòng thơ ấy có cái hay là đậm chất dân gian, đạt sự kỳ cùng của giễu nhại với nghệ thuật liên văn bản, lặp, nhái nhại. Sau tới những Đinh Linh, Lê Đình Nhất-Lang… Ở lối hài giễu khác hẳn – đời thường, trần tục, tự thân làm đối tượng – là những Nguyễn Hàn Chung rồi Lê Vĩnh Tài, Đặng Thân, Nguyễn Thế Hoàng Linh và một số cao thủ khác mà phần đông ở trong nước.
Hài ở Nguyễn Đức Tùng khác biệt với các bạn thơ nêu trên. Và dù không ác liệt như “hài hước đen” (l’humour noir/black humor) của nghệ thuật hiện đại dùng sự mai mỉa, khinh miệt tấn công xã hội, phản kháng chính trị, nhưng nó cũng “xuyên tạc hiện thực,” đẩy tới mức phi thực. Thuộc về dòng nối tiếp kiểu hài vui nhộn, tươi trẻ của chủ nghĩa Dada rồi chủ nghĩa siêu thực; nó khác nhiều – nếu không nói là khác hẳn – cái hài sinh ra từ trò giễu nhại của phong cách hậu hiện đại.
Tóm lại, tới Nguyễn Đức Tùng, lối hài biếm của thơ Việt hiện đại đã chuyển hóa phong cách, đậm vẻ Âu-Mỹ; nhờ yếu tố phi lý mà tư tưởng lan rộng; phong vị nhẹ mà sắc (khi cần cũng ác chiến đáo để), lãng đãng hiền triết Hy-La xa xưa, không độc địa vỗ mặt như kiểu Á Đông. “Đâu có ở không” như cánh hậu hiện đại, nó không phá phách để chơi. Nó hòng tái thiết cho lý tưởng mới hơn.
Có thể nhận ra, với khoảng 40 bài ở khuynh hướng này, Nguyễn Đức Tùng đã là tác giả nổi bật của thơ đương đại biếm hài Việt Nam. Nhưng chúng tôi cũng liều mà ngờ rằng, rất ít quý bạn đọc đủ kiên nhẫn về tâm trí để nhận ra. Cùng chất luận đề (thời cuộc), chất hài hước được dụng công rất tế vi, khó nhìn nhận nếu đọc mà chưa… nghĩ! Thì vẫn, nếu đọc thơ là để ngâm nga ca vịnh. Những địa chỉ của cái hài giễu đáng ghi nhớ: Giã từ (nhoẻn một nụ cười rưỡi); Người mẹ (u mặc thoảng qua, đau); Chim lạ (cười nhẹ, rồi bật ra như bong bóng vỡ); Để giải thích một thói quen xấu, Chùa Việt Nam, Lịch sử làng tôi, Ở Paris (khó giải thích vì sao hài, thế mới là hài thứ thiệt!) Còn đây là nơi cái hài chưa tới dù cố gồng: Dưới bóng cây bàng, Thầy bói nói với mẹ tôi, Thăm Trung Hoa…
Thơ văn-kể Nguyễn Đức Tùng xuất hiện trễ và đã tạo ngay “ngã ba thơ” về loại hình thơ ngắn Việt. Nhìn chung, thơ ngắn dễ bị cho là thơ cũng được, không thơ chẳng sao. Người Trung Hoa bảo, thơ ngắn quyến rũ lâu. Nhưng nhiều nguy cơ thành thơ giáo huấn, ngụ ngôn, châm biếm về nội dung, chơi chữ về hình thức và chán nhất là sáo nhàm về cảm xúc. Dễ bị trở thành thứ thơ đọc-một-lần, tức là phạm quy của trường thơ: thi ca cần ẩn mật, mỗi lần đọc một lần sống lại, một lần phát hiện.
Trong tập Thơ buổi sáng, phần Haiku giữ một phần ba phân mục thơ, chiếm dung lượng không nhỏ với 36 đơn vị bài.
Không khác nhiều với điều chúng tôi từng nhận định, Nguyễn Đức Tùng nay đã thành một “nhà thơ haiku Việt” với độ trí tuệ cao hàng đầu theo kiểu Tây phương – tốt; cũng có nghĩa cực kỳ ít chất thiền Đông phương – chưa tốt (hoặc phá nền tảng nguồn “haiku là thiền thi”). Anh, như đa số nhà thơ haiku Việt, hoặc tin vào nội công bản thân khi thể nghiệm cùng cái biểu tượng văn vần “nhỏ mà có võ” của văn học nhân loại; hoặc không thể theo nổi “kỷ luật thép” ở thể thơ này mà… liều!
Về thể loại, các thi sĩ Việt chúng ta cũng giống thi nhân xứ khác cùng muốn nhận haiku Nhật làm một nhánh thi ca của văn hóa mình. Với thể nghiệm khó kiểu “Ba cây (văn hóa) chụm lại,” liệu Nguyễn Đức Tùng có thể trình bày một thể tài mới, hay chỉ là một sắp đặt mới cho haiku Việt tựa haiku cổ điển?[5] Câu hỏi 15 năm, vẫn đó.
Nhiều vấn đề đặt ra. Như về niêm luật cơ bản của haiku truyền thống với haiku kiểu Nguyễn Đức Tùng khi tác giả kết hợp vừa kể vừa tả, và phá hình thức “cấu trúc âm tiết 5 + 7 + 5 trong 3 câu” ở số lượng từ/âm tiết không ổn định (bài Coi phim có 16 từ; Tết và Đêm mưa: 15 từ; Mùa xuân: 13; Trên xe Honda: 12; Giữa đường: 10; Sáng thứ hai: 9; và ở cấu trúc bài không khác lắm với thơ cực ngắn.
Song, điều nên lưu tâm hơn cả là “quan hệ anh em” giữa kiểu thơ văn-kể Nguyễn Đức Tùng và haiku Nguyễn Đức Tùng mà lúc này chúng tôi mới hình thành cách lý giải để có thể bàn lại trong một dịp khác.
Các bài thơ ngắn mà cao giá của anh cũng không hiếm (Nếu là đỉnh cao; rồi Nhịp đập, Sau chiến tranh, Chiến thắng, Bảy năm…). Các bài thơ ngắn chưa đạt: Tuổi thơ, Những con rệp, Một con đường ở Phnom Penh, Chiến tranh, Lên chùa ngày Tết, Vỉa hè Sài Gòn. Các bài khi hơi non dại (Mùa hè cuối cùng, Khi nằm trên ghế nhổ răng) khi lại “ngây thơ cụ” (Trang Tử, Dậy sớm uống trà một mình); hoặc dễ dãi (Sáng thứ hai, Thứ hai, Em không muốn về quê). Thân mật, cứ gọi thẳng: những nhát dao giết thơ. Oái oăm, sau 15-20 “nhát dao,” bạn tôi lại có một “kiệt tác.”
Liên tưởng thi ảnh trong thơ Nguyễn Đức Tùng sắc lẻm về tư duy, nhờn lụt về hình tượng. Các bài không đạt là nơi tụ vạ những phóng ảnh, chi tiết gợi hình “hồ hởi phấn khởi” tìm đến nhau một cách vô vọng: Phía khác (đạt); Ngày của em (tạm được); Đời là thế đó, Ký ức những năm 80, Ba mươi năm, Mưa rơi trong tình yêu (chưa đạt). Đây cũng là lỗi thường gặp của bao kẻ làm thơ mà chúng tôi thử đặt tên: bút pháp của sự rối rít. Tomas Tranströmer là bậc thầy trong bài học này. Bút pháp chắc, thi tứ sẽ ổn.
Điểm vài bài khác: Sau chuyến nghỉ hè ở New York, và Trên vỉa hè Sài Gòn: nhiều hình ảnh mà không rối rít; bài thơ ô-kê nhờ hình ảnh chót làm hoang mang độc giả. Bức tượng: tôi thích, và có lẽ nhiều người thì không, coi như một bài văn viết/xuôi xuống theo chủ định. Đi dạo với một nhà văn dưới ánh trăng: hài phũ phàng, trực diện, Việt tính; xứng với nội dung. Dưới bóng cây bàng, và Trên đường: chưa ổn về tổng thể, trong đó vẻ uyển chuyển của thơ như bị thủ tiêu, chất trữ tình đi vắng. Bù lại nó chứa một đẳng thức của văn học Việt đương đại: Thơ Nguyễn Đức Tùng = Thời cuộc/Luận đề + Hài hước + Phân tâm.
Nhà thơ có nhiều bài bớt đi chất hài và tính phân tâm, tăng độ hư ảo. Đề tài luận đề cũng ít, đời thường hơn (Chiếc áo, Bức tường, Con mèo, Sestet 23). Tôi từng không chắc rằng chúng ổn định về bút pháp, và tác giả sắp chuyển qua giai đoạn sáng tác thứ 4? Quả nhiên! Thêm nữa, anh có vẻ trở về phong cách lãng mạn – hiện thực. Một trò chơi trẻ con có luật “Bước chân đi cấm kỳ trở lại.” Nhiều người sáng tác đa phong cách bị luật này ngăn chặn, tôi thấy bạn mình trong số đó (Người bạn hàng xóm).
Thơ Nguyễn Đức Tùng – ngay cả với những bài thành công ở thời kỳ thứ 3 – vẫn nên coi là một thể nghiệm văn học. Nhiều lý do. Khách quan: tư duy mới về thơ chưa tạo ảnh hưởng vào quan niệm chung trong thơ Việt. Chủ quan: không ít bài còn như “chế tạo thơ,” những cái xác chữ cần hồn phả vào để thành thơ. Không hề chi! Đích thị công việc của những thi sĩ làm thơ theo trường phái, phương pháp.
Cũng chính vào “thời hoàng kim” của thơ mình, lần đầu tiên tác giả đã làm một bộ sưu tập kha khá – 60 bài thơ của 20 năm. Đọc, chúng tôi đã đóng đinh vào tâm trí điều từng nâng lên hạ xuống: một tác giả đang phát triển, và sẽ thành tác gia nếu đi đúng hướng. Ôi, cái chữ Nếu!
Đến nay lại thấy “tác giả đang phát triển” của chúng ta tỏ ra xa lánh “thi pháp” từng dựng nên lối thơ kỳ khôi của mình trong dòng thơ văn-kể?[6] Một kiểu viết khác, hiện đại một cách “bình thường,” đã thành hình? Đã đành phải tìm hiểu nhiều về điều quan trọng bất ý như thế nhưng lúc này người viết chưa thể. Nay chỉ mới dùng thị hiếu cá nhân để tiếp cận. Nếu lần theo thi pháp sẽ thấy hay-dở; còn vô pháp là của các sự thích.
Khi tác giả hình thành bản thảo tuyển tập thơ đầu lòng, khoảng 80 bài của thời kỳ này được chọn lựa mà chúng tôi cũng đã từng đọc đó đây. Rất ít những bài rất thích: Khăn quàng, Tên (cả hai cùng mang đề tài chiến tranh, tử sĩ). Những bài thích: Mục đích của quần áo, Mưa rơi trong tình yêu, Bài thơ viết ở Văn Miếu, Thơ tình tháng Tư… Đông như quân Nguyên là các bài nửa thích nửa không thích (Tôi hỏi, Dù gánh nặng lớn bao nhiêu…) Tìm các bài không thích và rất không thích dễ như Quan Vân Trường lấy đầu Nhan Lương, Văn Xú. Này là những Em có nhớ về thăm Thạch Hãn, Có một mùa hoa, Trong ngày cuối cùng của thế giới, Chúng ta không cần phải đẹp lắm.. Rồi tới những Sáng nay khi thức dậy…
Kết thúc mục 3, sẽ nói nhanh về dung lượng các bài thơ và một hướng mới: thơ dài có tính trường ca của Nguyễn Đức Tùng.
Hiện tại tác giả lại đang viết một cách bình thường như thời kỳ 1 & 2, không còn ngắn/quá ngắn như ở thời kỳ 3. Vài ba năm nay, trên trang cá nhân FB của mình, nhà thơ giăng mục Thơ tình thứ bảy tương đối đều. Giọng điệu rất Nguyễn Đức Tùng, các bài ấy, với chúng tôi chúng quả là thơ tình; có thể xem như “chủ lực quân” của “thi tướng” trong giai đoạn sáng tác hiện tại. Và không gia nhập vào hàng ngũ thơ văn-kể mà chúng ta coi là trọng tâm ở bài viết này!!! Tiếc, cũng chẳng được; với giới bình thơ sự làm khó như thế bởi các tác giả âu cũng thường.
Mười năm trước, với sở trường là thơ ngắn, sở đoản thơ dài; về mặt dung lượng và cấu trúc, thơ Nguyễn Đức Tùng có “dạng tối thiểu.” Chúng đối cực với dòng “thơ nhiều lời.”
Tin vui ngoài chờ đợi! Hành trình thơ Nguyễn Đức Tùng đang có một hướng mới toanh, về thể tài. Vào giữa năm 2019, bản thảo chót cho bài tùy luận này vẫn còn câu: “VIP của chúng ta đã và sẽ không hiện diện trong đội ngũ trường ca gia!” Dạo đó với nhà thơ một số ít bài được coi dài thường có 5-6 khổ với 250-300 từ. Mến mộ thơ anh và lại là kẻ lưu tâm đến thể thơ dài Việt Nam hiện đại, nhất là thơ dài có tính trường ca. Thế mà dạo ấy chưa thể thích bất kỳ một bài thơ dài nào.
Hốt nhiên, tròn 3 năm song hành với bấy nhiêu biến cố xã hội Việt Nam, rồi thiên địa dịch giã Covid-19, chiến tranh Nga-Ukraine… tác giả chuyên trị thơ ngắn đã liền tù tì sản sinh tới 7 bài thơ dài có chất trường ca. Khiến chúng tôi hoan hỉ bổ sung Nguyễn Đức Tùng và các thi phẩm mới vào chuyên luận từng được đề xuất, hoàn thiện về hiện tượng trường ca hiện đại Việt Nam[7].
Ở phân nhánh trường ca thế sự – đời thường – tâm lý, một tiểu mục đang được phác thảo dành cho nhà trường ca “trẻ” Nguyễn Đức Tùng như là tay viết tương đối lạ về sự xông xáo ở đề tài cấp thiết và độ lôi cuốn từ cảm hứng thi ca, cùng vài khúc mắc về nghệ thuật cấu trúc và ngôn ngữ thơ trường ca.
Nay dẫn trước ý kiến về Bài thơ Ukraine. Đọc như một sáng tác thơ trong tinh thần “phục vụ cách mạng”: đó là thi phẩm tốt đẹp và kịp thời. Đọc như bài thơ dài có tính trường ca: so với ba bài đầu xuất sắc (Bài thơ tháng Tư, Bài tiễn biệt thi sĩ[8], Bài thơ Đồng Tâm), bài này ở mức bình thường. So với ba bài trước đó (về Vũ Hán, Afghanistan…): toàn bài hiếm thấy chương, đoạn, câu nào dở, song rất ít chỗ sáng láng. Đôi ba trường đoạn cũng có thể tạo ấn tượng, như: “Khẩu súng săn treo đầy mạng nhện của tư tưởng / Hãy giả vờ đang có hòa bình / Hãy nằm trên cỏ nhìn lên những vì sao / Hãy tưởng tượng cuộc tình Budapest / Chủ nghĩa lãng mạn đã chết, hãy đắp mặt bằng một ngôi sao.”
Quan trọng: Nội hàm chiến tranh và nan đề Ukraine chưa được làm cho nổi bật cái riêng của chúng một cách nghệ thuật và trọn vẹn; mà chỉ là các diễn ngôn văn vần – nhẹ về tu từ, về ngôn ngữ thơ (nặng về báo chí, tin tức, suy tưởng tư biện…) theo cung cách tản mạn rất riêng của tác giả. Đã đành có các địa danh, nhân vật; đã đành có xướng lên vài câu hỏi về bản chất cuộc chiến.
Bài thơ Ukraine cùng ba bài xuất sắc cho thấy nhịp điệu toàn bài mang chất trường ca cao độ, đấy là loại nhạc-tính-cảm-xúc mà tác giả cừ khôi. Nhờ nó toàn bộ “cây cầu” vẫn vững dù không hề có trụ (cấu tứ thơ trường ca hoặc cấu trúc chương hồi). Trong nghệ thuật trường ca nhịp-điệu-tư tưởng dễ đưa đến tác phẩm lớn hơn.
Theo bốn tiêu chí trường ca hiện đại thì thơ dài có tính trường ca của Nguyễn Đức Tùng lực lưỡng về thể tài và phóng túng ở cảm hứng; chưa thuyết phục bằng giọng điệu/tư duy, yếu về cấu trúc, thiếu hụt thủ pháp.
4. Các đặc điểm như là rào chắn thơ Nguyễn Đức Tùng tới bạn đọc
Khá nhiều. Với chúng tôi rào chắn đến từ: chất văn dễ lấn chất thơ; khó gợi tính nhạc/nhịp điệu do thiếu âm vần; không tự nhiên về cấu tứ, gần với ngụ ngôn; cú pháp quá khoa học như robot; không hợp với thơ tình yêu (trong các bài xuất sắc và hay nêu trên không bài nào về luyến ái nam nữ, phần lớn về thời cuộc); v.v… và nhất là thi pháp pha tạp, chưa nhuyễn.
Bài viết này chỉ bàn tới phẩm chất sáng tác nơi anh – người cần “làm chủ bản thân” khiến riêng chúng tôi luôn kỳ vọng một thực thể văn học đã thành hình cùng không ít nhà thơ khác, đó là “trường phái thơ văn-kể Việt.”
Vấn đề trường phái văn học là lớn, khó và vẫn xa lạ với phương cách viết và đọc văn chương Việt, chúng tôi cũng từng công bố một số tìm hiểu trong thơ[9]. Thêm lần nữa diễn lại vài ý quan yếu…
Cuộc cách mạng lần thứ nhất với thi pháp Thơ mới 1932-1941 đã lật lịch sử thơ Việt sang “chương hai,” từ quan niệm mỹ học và tư duy nghệ thuật thời trung đại sang hiện đại, tiếp thụ và song hành thơ thế giới. Tới nay, có thể xem cuộc cách mạng lần thứ 2 đã trôi qua dai dẳng với nhiều giai đoạn qua ba mốc văn học sử: Nhóm Sáng tạo với đại biểu Thanh Tâm Tuyền 1955-1962; Nhóm Nhân văn – Giai phẩm với đại biểu Trần Dần; và cao trào sáng tác hậu hiện đại những năm đầu thế kỷ 21 cho đến nay với nhiều đại biểu, chủ yếu là Nhóm thơ Tân hình thức Việt và Nhóm Mở miệng. Nói riêng về cá nhân tác gia có tác phẩm tạo ảnh hưởng với thành tựu, thể nghiệm hoặc dang dở, chúng ta thấy trên bảng giá trị cải cách và cách tân thơ Việt về thi pháp có bốn vị: Nguyễn Đình Thi (1946), Thanh Tâm Tuyền (1955), Trần Dần (1963), và Nguyễn Quang Thiều (1992).
Có thể xem hành trình sáng tác theo bốn bậc thang “đẳng thức thơ”:
1. Cách mạng (Cải cách) thơ = Văn hóa (Thẩm mỹ) mới + Chủ nghĩa (Triết thuyết) mới
2. Cách tân (Tiên phong, mở đường) thơ = Thi pháp (Khuynh hướng) mới
3. Đổi mới thơ = Bút pháp mới
4. Sáng tạo thơ = Phong cách (Thủ pháp) mới
Cải cách thơ Việt duy nhất sau thơ Mới là dòng thơ Tân hình thức Việt với thi pháp hoàn toàn mới sinh ra từ văn hóa mới, thời đại mới qua một chủ nghĩa, triết thuyết mới. Đó là một “cuộc cách mạng nhỏ”; trong khi bốn tác giả nêu trên thuộc về cách tân – ở đấy thi pháp mới được triển khai từ khuynh hướng văn học mới có tính thời cuộc nhất định, tức là trong giới hạn không gian địa lý hoặc thời hạn của thể chế, xã hội.
Giả như thể thơ văn-kể kiểu Nguyễn Đức Tùng mà thành công, hoặc thể nghiệm tạo ảnh hưởng, thì giá trị chuyển hóa thơ Việt của nó – xét về định vị – trên cách tân và sau cải cách. Dẫu hiếm hoi cũng không dễ định danh những tác gia thi ca Việt hiện đại/đương đại đã thành tựu ở giá trị chuyển hóa thơ; và Đặng Đình Hưng ắt là một trong số đó. Trần Dần, với chúng tôi, có lẽ vẫn còn là thể nghiệm dang dở ở đôi tác phẩm, giữa chuyển hóa và cải cách (trong Jờ Joạcx, Thơ không lời – Mây không lời / Thơ – họa).
Nếu tiếp tục và ngay cả chưa thành đạt đáng kể, thơ văn-kể kiểu Nguyễn Đức Tùng vẫn đang và sẽ góp phần tạo ra những chuyển động không thể cưỡng lại khi hiện đại hóa và thế giới hóa thi ca Việt. Rất nhiều bài không đạt trong thơ này là không thể “cứu” nổi và chỉ cần chuyển qua phong cách khác lại tạm ổn.
Kể trên là “đại tự sự” về sự khó cho thi trình Nguyễn Đức Tùng. Thử xét các tiểu tiết… Cũng như với tuyệt đại đa số tác giả khác, tạng thơ ngắn Nguyễn Đức Tùng cùng chung thi phận với mọi loài thơ ngắn trên đời, mà haiku là ví dụ đồ sộ nhất: đến như haiku Nhật cũng phải đọc cả tá bài may ra mới biết mặt anh tài, kể cả Basho với Con ếch huyền thoại.
Kiểu thơ Nguyễn Đức Tùng đến nay chưa sở hữu được hiện-tượng-một-bài. Với các bài đặc sắc nhất ở anh, một người viết hạng trung vẫn có thể “cầm nhầm” và một người phê bình hạng cao vẫn có thể phê nhầm. Bởi, trong mỗi sáng tác đó thường chưa trọn vẹn các tiêu chí của một phong cách. Cũng bởi, ngôn từ và cấu tứ vẻ ngoài rất giản đơn và căn bản. Còn nữa, mấu chốt: trộn các phong cách đã có để tìm một “thi pháp riêng,” tác giả rất dễ gặp sự cố mỗi khi có sự tham dự của các biểu hiện hậu hiện đại.
Tác giả này thường có những bài thơ lạ một cách oái oăm, người viết muốn gọi là loại thơ-đọc-một-lần. Những cái gì chỉ đọc một lần dễ thuộc về bè lũ tin tức, nhật báo… Có lẽ một số độc giả chưa thích – thậm chí ghét – thơ Nguyễn Đức Tùng bởi bị lâm cảnh này? Riêng chúng tôi thường phải quên những bài đó để khỏi hại các bài thơ cùng motif. Tính không lặp lại của thi ca là vậy. Hà khắc. Rất hà khắc. Có thể dở, thơ không được phép nhàm. Nhàm quá hóa nhảm, cho dù nội dung hay ho. Bên cạnh cái nhàm, thơ ngắn dễ thành đồ giả. Thơ Nguyễn Đức Tùng thời 2010-2015 có lẽ đã đạt đỉnh và cũng khó thoát luật chung.
Chúng tôi mạo muội có lời, với độc giả chưa quen và muốn thích thơ Nguyễn Đức Tùng, trong lần đầu nên đọc 4-5-6 bài là cùng, rồi… nghỉ giải lao; vài ngày sau đọc lại, đọc tiếp. Với các phê bình gia, các thi hữu: xin tùy nghi, đọc liền tới hết hay bỏ cách, nhưng hãy nghĩ về nó. Còn với bạn đọc không thích loại thơ này, mong hẹn ở một bài viết khác.
Cuối cùng, thử gán ghép một cặp đôi như vầy: thơ Nguyễn Đức Tùng và tiểu thuyết Thuận.
Người nam rất có tư duy thơ, người nữ rất có tư duy tiểu thuyết; trong khi phần đông tác giả Việt xưa nay ít nhiều đều có tư duy thơ (dù thơ Việt không là “thơ tư duy”) và hầu hết không có tư duy tiểu thuyết (tức là truyện Việt không là tiểu thuyết, theo quan niệm phương Tây).
Hai hệ quả từ đấy: a. Giả sử Nguyễn Đức Tùng ngấm những Pushkin và Lermontov; Evtushenko và Simonov, có thể trong lối viết thơ văn-kể của chàng những bài trữ tình sẽ thật hơn, những bài thời cuộc sẽ cận nhân tình hơn? b. Các bài chưa đạt trong nội dung thời cuộc, chiến tranh, chính trị… là bởi nam thi sĩ chưa tới được câu-chuyện-con-người, mà chỉ muốn hoặc chỉ tới chuyện-người-Việt ở các chủ đề trên.
5. Quan hệ hiện đại và hậu hiện đại trong thơ Nguyễn Đức Tùng
Ở đây nói về hậu hiện đại để phân định trào lưu; không bình giá phẩm chất, so sánh cao thấp…
Là văn chương hiện đại chia sẻ một số cách thể hiện với xu thế hậu hiện đại, thơ Nguyễn Đức Tùng phá bỏ trung tâm này trong cao vọng xác lập trung tâm khác – trung tâm “lý tưởng hơn,” nếu không nói là không tưởng. Tinh thần của hậu hiện đại là hỗn loạn, hỗn loạn nữa, hỗn loạn mãi. Nhưng, nó lành, nhờ sự vô đích. Giống tinh thần truyền thống, thơ Nguyễn Đức Tùng ngăn nắp, có định hướng (dù ngầm), và có đích (ẩn hiện): làm đến cùng giúp con người, xã hội đẹp hơn theo lề lối thi nhân. Các nhà thơ hiện đại can thiệp cho đến khi nào nhân quần được tốt đẹp như ý của họ, trong khi thi sĩ cổ điển hướng tới một vài bản chất của loài người và nghệ thuật.
Mãi về sau, chúng tôi vẫn nhầm chất giễu hài trong thơ Nguyễn Đức Tùng thuộc về hậu hiện đại. Không, thơ của anh không phản biện theo kiểu trí thức bất tòng tâm, không chế nhạo như trạng, không giỡn cợt như hề với các hiện tượng xã hội và chính trị bề mặt. Nó bản chất, phê phán tận gốc, muốn cải tổ, muốn “cách mạng” bằng điệu cười rất khác biệt trong thơ Việt. Đó là một nhà hiện đại hóa thực sự và nghiêm chỉnh. Không hề không-làm-thơ như hầu hết các tay chơi hậu hiện đại. “Có văn có ích, có văn chơi.” (Tản Đà). Thơ Nguyễn Đức Tùng, loại thơ có ích. Ở các bài thành công mà đậm chất thời cuộc, “tính chiến đấu” cực siêu!
Có chủ đích cao mà không trên cơ sở lý luận (như Khế Iêm bên thơ Tân hình thức Việt), Nguyễn Đức Tùng trình ra một thử nghiệm ngõ hầu chuyển hóa thơ Việt; nhưng vào lúc xã hội Việt ở thời kỳ văn hóa tiêu thụ và đa dạng, không còn quá trọng chữ nghĩa thơ thẩn. (Dù sao anh cũng chưa thiệt thòi như Dương Tường – người đề xuất, triển khai thể thơ-âm-bồi Việt tính và hiện đại, đáng được thử nghiệm đến cùng mà bị thời thế, và có lẽ cả ý chí cá nhân tác giả, làm trễ hụt.)
Cũng như – và rõ ràng hơn về chính kiến – văn Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp, thơ Nguyễn Đức Tùng muốn thanh lọc, thậm chí thanh lý các nhức nhối trong xã hội và con người đương đại bằng một số phương cách nghệ thuật tựa hậu hiện đại qua tâm thức chủ thể trữ tình (nhân vật) hiện đại và chủ thể sáng tạo (tác giả) hiện đại. Trong khi đó, thơ Bùi Giáng, Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Hoàng Nam mà rõ nhất là Đỗ Kh., và văn Lê Anh Hoài, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương mà mạnh nhất là Đặng Thân là các kết quả hậu hiện đại của thi pháp, nếu quả có một cái gọi là “thi pháp hậu hiện đại”[10] phủ sóng mọi sáng tác có cùng tâm thức hậu hiện đại.
Thôi nào, ta dùng tam giác thơ Phấn-Thiều-Tùng dễ so đo hơn.
Mai Văn Phấn: một tác giả luôn cách tân nương theo mọi khuynh hướng và gần như nơi nào cũng thành công ở mức khả dĩ và khả ái; giai đoạn hậu hiện đại – đang rời bỏ chàng mươi năm nay – tuy không dài lắm đã có dấu ấn mạnh là tập Hôm sau đủ làm một bộ sưu tập điển hình trong cao trào văn chương hậu hiện đại Việt (Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ, Tắm đầu năm, Ghi ở Vạn Lý Trường Thành, Sống hồn nhiên, Bài học…)
Nguyễn Quang Thiều: không thiên vị trường phái quen thuộc nào và sở hữu một số thủ pháp hậu hiện đại bình đẳng với nhiều thủ pháp khác; khoảng 15 bài thơ ở phần cuối tập Châu thổ, song sản phẩm thứ thiệt (và thứ dữ luôn!) hậu hiện đại là trường ca Lò mổ là tham dự độc đáo vào xu hướng này, giống như loại những sáng tác “đổi gió” hậu hiện đại của một thi sĩ hiện đại tự hồn vía và thủy chung một thi pháp riêng biệt.
Nguyễn Đức Tùng: như đang bàn thảo.
Thử nghiệm Nguyễn Đức Tùng giống các thử nghiệm hậu hiện đại: đòi hỏi sự tự hủy cao, đặc biệt với các bài rất ngắn. Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi, thi sĩ phải qua chừng 20 bài để có vài bài đạt, mươi bài được gọi là thơ (trữ tình).
Khác các thứ thơ hậu hiện đại thuộc về bản chất, loại sáng tác hiện đại phất phơ hậu hiện đại kiểu thơ Nguyễn Đức Tùng rất kén cái tục, chọn tiếng chửi. Để thực thi các ngôn từ ít văn hóa, nhà thơ phải “uốn lưỡi bảy lần” ngay trong những bài có chỉ ba bảy hai mốt âm tiết. Tác giả này không làm văn hóa, mà làm thơ. Chủ đích làm thơ thứ thiệt, trong khi các thi sĩ hậu hiện đại luôn hủy hoại thơ để phản ứng văn hóa. Thế nên trong thơ tạng này, những bài có cái tục dự phần hiếm khi thành quả. Dù một số ít bài có biểu lộ suồng sã, tục tằn giông giống hậu hiện đại (“Hai chúng tôi đứng hồi lâu trước bức tường rêu phủ / Dưới dòng chữ sơn đen nguệch ngoạc bằng tay / Đ.M. đứa nào đứng đái ở đây,” bài Đi dạo với một nhà văn dưới ánh trăng), thơ Nguyễn Đức Tùng so với loại thơ “Chẹc… chẹc” của Nguyễn Đình Chính chưa thấm vào đâu về mức độ tục.
Đến tập Thơ buổi sáng, xác suất gặp bài “hiện đại” và “bình thường” cao hơn rất nhiều bài dáng dấp “hậu hiện đại.”
6. Tương lai của các loại hình nghệ thuật như thơ Nguyễn Đức Tùng
Nó phụ thuộc vào làn sóng hậu hiện đại khi nào tạm lắng xuống.
Toàn cầu hóa trong kinh tế đã kéo theo trong nghệ thuật, văn hóa, xã hội, chính trị; và là tác động chính khiến trào lưu hậu hiện đại bùng phát từ hơn 40 năm nay đến mức nhiều người nhầm tưởng đó là một phong cách ổn định, nhất quán, và sẽ đe dọa, nối tiếp các khuynh hướng chính tắc từng có trong lịch sử văn học nghệ thuật nhân loại. Tâm thức chung ở Việt Nam như một tâm thức đã từng của hậu hiện đại trên thế giới, theo chúng tôi hiểu, có lẽ chỉ còn tác động trong khoảng 10-15 năm nữa chăng? Khi toàn cầu hóa đạt tới các cực đại huy hoàng cũng như tệ hại, “làng thế giới” sẽ tạm thời giải tán. Nước nào lại về nước ấy, nhưng với các liên hệ được nâng cấp.
Các quan niệm căn bản, khoa học và nhân bản của những hình thái chủ nghĩa hiện đại (trong đó có chủ nghĩa nhân văn) rồi sẽ trở lại áp đảo như đã từng. Các khuynh hướng cực đoan của chủ nghĩa hiện đại sẽ có cơ hội nhận chân giá trị. Vàng thau sẽ có đủ diễn đàn phân định. Hàng chục phong cách hiện đại cũng không thể làm loạn xị ngầu văn hóa và văn học bằng vài ba cung cách hậu hiện đại. Trong gia đình hậu hiện đại, chỉ 2-3 đứa tuổi teen cũng náo hoạt hơn cả một tam đại đồng đường. Thi đàn rồi sẽ trở nên trật tự hơn hiện nay. Ít nhất trong nửa đầu thế kỷ 21 nhiều hình thái của chủ nghĩa hiện đại (một ví dụ khá rõ là trào lưu chủ nghĩa cổ điển tự nhiên – Frederick Turner, 1995) có thăng hoa theo nhiều dạng thức, nhất là trong thi ca, như đã từng trong lần đầu hiện diện ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20?
Thơ Nguyễn Đức Tùng, và các loại hình nghệ thuật tương tự, hãy “gắng sống đến bình minh”!
7. Những lời tạm kết
* Đây là bài phê bình theo kiểu tùy luận[11] được bổ sung, san định và cập nhật từ một bản thảo nhân dịp báo Nghệ thuật mới (Hà Nội, 11/2012) chọn thơ Nguyễn Đức Tùng làm chủ điểm chính. Ở tập Thơ buổi sáng già nửa số bài thuộc về sáng tác trong giai đoạn hiện tại của tác giả mà hầu hết ra ngoài “thi pháp” thơ văn-kể và chúng tôi chưa có cơ hội tìm hiểu kỹ. Bởi thế xin tạm đặt những bài thơ đó xa phạm vi của nghiên cứu. Như lời khất của người bình thơ, và mong kéo theo lời hẹn của nhà thơ…
* Trong một tâm thức hiện đại (cùng vài thể hiện hậu hiện đại) riêng biệt và khéo léo nương theo thơ đương đại Hoa Kỳ-Canada để chuyên chở tâm tư cá nhân chủ yếu về con người và xã hội Việt Nam, kiểu thơ thể nghiệm này đi tìm khuynh hướng trên cách tân sau cải cách, tham vọng chuyển hóa thơ Việt khi hình thành một cách viết kỳ khôi ở thể thơ[12] văn-kể.
Chúng tôi cho rằng, tác giả tỏ ra đã làm xong phần sáng tạo của một người viết. Việc còn lại thuộc về dư luận tiếp nhận cùng khả năng tạo thành một “trường phái” thi ca có lý luận ổn thỏa; và quan trọng là gây ảnh hưởng tới các nhà thơ khác, ít nhất về cách viết.
* Đấy còn là một nhân vật rất quan trọng trong Dòng thơ cần giải thích giá trị – một hướng tiếp cận mà bản thân người viết vẫn đang theo đuổi trên một lối nẻo riêng để tìm hiểu thơ Việt hiện đại và đương đại.
* Như vậy, với một tuyển chọn sau bốn thập niên cùng Nàng thơ, vắt qua 2 thế kỷ, nằm gọn trong cuộc đời ly hương thăng trầm, Nguyễn Đức Tùng cần được ghi nhận như một người làm thơ độc đáo đáng kể trong tiến trình hoàn thiện của thi ca Việt Nam đương đại từ sau 1954, như một người thơ ở ngoài hình chữ S luôn dự phần làm mới lạ, làm tốt lành văn chương tiếng Việt đầu thế kỷ 21.
Thi sĩ của chúng ta đang đứng trước một cơ hội lớn.
Chú thích
[1] Dường như chưa có các nghiên cứu, phê bình bài bản và đúng mức về thơ Nguyễn Đức Tùng. Tính đến giữa năm 2019: Nhận định ngắn của năm tác giả (Nghệ thuật mới 11/2012 – Đỗ Quyên / Thơ văn-kể của Nguyễn Đức Tùng như một thử nghiệm cải cách thơ Việt?); Thường Quán (Tuyển tập 40 năm thơ Việt hải ngoại, Nguyễn Đức Tùng tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Văn Việt – Người Việt Book 2017, vanviet.info 25/9/2016); Lê Hồ Quang (Thơ Nguyễn Đức Tùng, “nơi câu chuyện bắt đầu bằng ngôn ngữ khác”, Sông Hương 330/08-2016, tapchisonghuong.com.vn 26/8/2016); Mai Văn Phấn (Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng, vannghequandoi.com.vn 8/11/2017); Chu Văn Sơn (Chuỗi bình luận trên FB Tung Nguyen cuối 2018 – đầu 2019).
Với thi tập Thơ buổi sáng, ngoài bài bạt của người viết, được biết có bài vở mới của các tác giả khác, như Mai Văn Phấn, Lê Hồ Quang…
[2] Đỗ Quyên; Về một dòng thơ cần giải thích giá trị – Trường hợp Tuyết Nga, Tạp chí Nhà Văn số 2/2009, vanchuongviet.org 9/2/2009; Thơ Mai Văn Phấn trong dòng thơ cần giải thích giá trị, Sách Kỷ yếu Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội 2011, maivanphan.vn 12/10/2013; và Thi pháp Nguyễn Quang Thiều: Nhìn từ dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị, vanvn.net 19/6/2012 (nguyentraik22.blogspot.com 30/6/2012, vanchuongplusvn.blogspot.com 23/6/2012.
[3] Trong danh sách 32 tác giả của dòng thơ này, định giá “chưa từng thấy” cũng dùng ở các trường hợp Đoàn Huy Giao, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Đình Chính, Vương Ngọc Minh.
[4] Át chủ bài của thi sĩ trong giai đoạn đó ắt là thi phẩm Năm mươi, gồm 4 câu lục bát với một câu mang vẻ xuất thần. Và, trong bản đầy đủ của bài bạt, vẫn xin có “nhuận sắc” không nhỏ quanh nhãn tự “trong nách.”
[5] Đỗ Quyên; Bình thơ Nguyễn Đức Tùng, talawas.org 10/3/2008.
[6] Thì đấy, Trung niên thi sĩ từng cảnh giới, như câu thơ trong lời đề từ: “Đừng tưởng cứ đợi là chờ”!
[7] Tk: Đỗ Quyên; Trường ca Việt Nam: Tác giả và tác phẩm, vanviet.info 3 kỳ 28-30/4/2015, và Đến sự hiện đại hóa thơ Việt từ “trường phái trường ca Việt”, vanchuongviet 11/5/2016 & vannghethainguyen.vn 2 kỳ 6-9/6/2017. Cập nhật: tính đến 20/1/2021 là 484 tác giả của 1262 tác phẩm.
[8] Bài này được giới thiệu toàn bộ trong tập Thơ buổi sáng.
[9] Tk: Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức Hậu hiện đại Việt, tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010. Một sơ kết của bài trên có ở bài Thi pháp Nguyễn Quang Thiều: Nhìn từ dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị.
[10] Thực ra không hề có thi pháp hậu hiện đại.
[11] Ngoài bản cô đọng dành để in sách, còn có ba phiên bản đầy đủ hơn (20 ngàn – 10 ngàn từ) trong đó có bản này được dùng trên các trang mạng.
[12] Diễn ngôn tương tự cũng dùng cho một số kiểu thơ mới-lạ trên nền thi ca Việt đương đại hơn 30 năm qua và chưa được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm: “Thơ âm bồi” của Dương Tường (khuynh hướng cải cách, có luận thuyết và thực hành; Tk: Sông Hương tháng 6/1990, và Hoàng Hưng, sách Mea Culpa và những bài thơ khác, 2004), “Thơ đa đề” của Khải Minh (khuynh hướng cải cách, có lý thuyết bài bản và thực hành phong phú suốt 25 năm nay; Tk: FB Đa Đề, talawas.org 28/11/2009), “Thơ thực hiện“ của Nguyễn Tôn Hiệt (có tuyên ngôn và thực hành; Tk: tienve.org 2005), “Thơ phụ âm” của Đặng Thân (Tk: Inrasara, tienve.org 2009), “Thơ Namkau” của Trần Quang Quý (Tk: Du Tử Lê, baovannghe.com.vn 27/10/2017), “Thơ 1-2-3” do Phan Hoàng đề xướng và được phát triển bởi đông đảo tác giả khác (Tk: Hồ Xuân Đà, vanchuongphuongnam.vn 9/9/2020)…
Theo đánh giá chủ quan, khi so sánh với thơ văn-kể kiểu Nguyễn Đức Tùng, những thể thơ thử nghiệm nêu trên do thi pháp hình thức/thể loại rất khai phá và kỳ khu, nên khó đạt hiệu quả nghệ thuật hơn.
bài đã đăng của Đỗ Quyên
- Thơ Xuân Cabo 2023 - 14.02.2023
- Thơ, như một sự ‘phi vật chất’ nhất - 17.03.2022
- Thơ Tình Tết Trâu | ChuyệnCâu Đối Tết - 10.02.2021
- các ngón tay cuối năm| tất niên đêm năm trước - 04.01.2021
- đỗ quyên: văn chương thiếu nhi/thiếu niên không phải là "văn học chuẩn" - 06.11.2020
- Nhật Tiến của 20 năm trước (hay là: Trung thực, một phẩm chất hàng đầu của người cầm bút) - 05.10.2020
- Một bộ ba toàn diện và căn bản về sự sống còn của loài người trên trái đất - 10.09.2019
- ngụ ngôn giữa đời thường: việt nam giữa canada; ta giữa tây; dân tộc giữa nhân loại (kỳ 3/3) - 28.06.2019
- ngụ ngôn giữa đời thường: việt nam giữa canada; ta giữa tây; dân tộc giữa nhân loại (kỳ 2/3) - 19.06.2019
- ngụ ngôn giữa đời thường: việt nam giữa canada; ta giữa tây; dân tộc giữa nhân loại (kỳ 1/3) - 12.06.2019
- hiện-thực-hiển-nhiên - 14.03.2019
- đẻ sách - chương kết - kỳ 2 - 20.12.2018
- Tuyên ngôn của Chủ Nghĩa Ăn Thịt Người Đẻ Sách (1) - chương kết - kỳ 1/2 - 18.12.2018
- đẻ sách - chương 3: diễn đàn tóc (kỳ 3) - 19.10.2018
- đẻ sách - chương 3: diễn đàn tóc (kỳ 2) - 11.10.2018
- đẻ sách - chương 3: diễn đàn tóc (kỳ 1) - 02.10.2018
- Tớ tịnh khẩu ♦ Phận Thúy Kiều số Tố Như - 27.09.2018
- nước đức & châu âu, đến và đi - 2 - 30.08.2018
- nước đức & châu âu, đến và đi - 1 - 09.08.2018
- Tiểu thuyết châm biếm ‘đẻ sách’ của Đỗ Quyên - 14.06.2018
- Việt Nam đây, đất nước đâu? - 30.01.2018
- ba trích ghép trường ca đỗ quyên - 14.02.2017
- từ truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch, trở lại một số cái khó của văn học: phần 3. Phương pháp nghệ thuật hay lối viết robot? & phần 4. Chức năng của văn học… & phần 5. Kỹ thuật viết… - 31.05.2016
- Từ truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch, trở lại một số cái khó của văn học- phần 1. Cổ tích hóa truyện hiện đại và hiện đại hóa truyện cổ tích & phần2. Tự truyện như là thi pháp thể loại - 30.05.2016
- thư ngỏ của tác giả tiểu thuyết “Trung-Việt Việt-Trung” gửi độc giả đức quốc - 13.03.2016
- trung-việt việt-trung (phần 31 – phần chót) - 14.01.2016
- trung-việt việt-trung (phần 30) - 07.01.2016
- trung-việt việt-trung (phần 29) - 31.12.2015
- trung-việt việt-trung (phần 28) - 24.12.2015
- trung-việt việt-trung (phần 27) - 17.12.2015
- trung-việt việt-trung (phần 26) - 10.12.2015
- trung-việt việt-trung (phần 25) - 03.12.2015
- trung-việt việt-trung (phần 24) - 12.11.2015
- trung-việt việt-trung (phần 23) - 05.11.2015
- trung-việt việt-trung (phần 22) - 29.10.2015
- trung-việt việt-trung (phần 21) - 22.10.2015
- trung-việt việt-trung (phần 20) - 15.10.2015
- trung-việt việt-trung (phần 19) - 08.10.2015
- trung-việt việt-trung (phần 18) - 01.10.2015
- trung-việt việt-trung (phần 17) - 25.09.2015
- trung-việt việt-trung (phần 16) - 17.09.2015
- trung-việt việt-trung (phần 15) - 10.09.2015
- trung-việt việt-trung (phần 14) - 03.09.2015
- trung-việt việt-trung (phần 13) - 27.08.2015
- trung-việt việt-trung (phần 12) - 20.08.2015
- trung-việt việt-trung (phần 11) - 13.08.2015
- trung-việt việt-trung (phần 10) - 06.08.2015
- trung-việt việt-trung (phần 9) - 30.07.2015
- trung-việt việt-trung (phần 8) - 23.07.2015
- trung-việt việt-trung (phần 7) - 16.07.2015
- trung-việt việt-trung (phần 6) - 09.07.2015
- trung-việt việt-trung (phần 5) - 02.07.2015
- trung-việt việt-trung (phần 4) - 25.06.2015
- trung-việt việt-trung (phần 3) - 18.06.2015
- trung-việt việt-trung (phần 2) - 11.06.2015
- trung-việt việt-trung (phần 1) - 04.06.2015
- Trung-Việt Việt-Trung - 21.05.2015
- chuyện tổ quốc moving bất thành - 09.06.2014
- Bài thơ đời người - 26.05.2014
- Thai phu - 24.03.2014
- Trước Giờ Nhà Thơ Về Trời - 31.05.2013
- trăm thi điệu (5) - 30.08.2012
- Phùng Cung: thơ, văn, con người và thời cuộc - 27.07.2012
- trăm thi điệu (1) - 18.05.2012
- trăm thi điệu (6) - 03.05.2012
- Khúc xuân tình - 04.03.2011
- đời sống thơ – 2 - 08.12.2010
- làm thơ – 1 - 15.10.2010
- làm thơ – 2 - 07.09.2010
- Văn học Việt ở ngoài nước trong vài năm qua - 06.07.2010
- thơ thời gian – (trích trường ca, chương III) - 22.12.2009
- vòng vo về trường-phái-nhóm thơ việt từ cảm xúc hậu hiện đại việt - 24.11.2009
- lòng hải lý 8+9 (trích trường ca) - 21.11.2009
- Đức quốc tam thi khúc hồi ký - 09.11.2009
- tân hình thức: ba bài thơ và các bình luận - 26.10.2009
- Tái ám ảnh về một bài thơ ám ảnh - 15.10.2009
- ba mươi phút nữa, em về... - 25.09.2009
- Đẻ sách – Chương 5: Độc giả ăn tác giả - Thư của độc giả Do Ngoc gửi tác giả Đẻ Sách - 13.08.2009
- thơ rời – 14 (trích trường ca) - 11.05.2009
- Đọc Quyên ở ngoài nước Đức - 21.04.2009
- những bài thơ rời giữa các trường ca - 13 - 17.04.2009
- những bài thơ rời giữa các trường ca - 11 - 03.04.2009
- những bài thơ rời giữa các trường ca - 5 - 10.03.2009
- Về một lối viết hiện thực huyền ảo Việt tính: Trường hợp Đỗ Ngọc Thạch - 02.03.2009
- Về một dòng thơ cần giải thích giá trị: Trường hợp Tuyết Nga (Hay là THƠ TUYẾT NGA HAY, VÌ SAO?) - 12.02.2009
- Nhìn Nhã Thuyên, từ thơ văn xuôi - 14.10.2008
- Đẻ Sách - Theo Chân Những Người Tỵ Nạn - Chương 2 - 30.04.2007
- Theo Chân Những Người Tỵ Nạn - Phần 2 - 18.04.2007
- CV Thơ - 27.01.2007
- Đẻ sách - Theo Chân Những Người Tỵ Nạn - Phần 1 - 27.01.2007
- 'Chỉ là đợt thử mắt bên phải' - 23.12.2006
- Đẻ sách - 09.12.2006