Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

trích đoạn tiểu thuyết ‘31 phút’

 

 

chi chi chành chành
cái đanh thổi lửa
con ngựa chết trương
ba vương ngũ đế
chấp chế đi tìm
ù à
ù ập . . .

Quy Nhơn,

Thành phố biển, lộng gió suốt ngày đêm.

Nơi chốn tôi chào đời, sống qua tuổi thơ và thời mới lớn.

Bờ biển. Đuổi theo những con còng. Cảnh quan một bên là núi một bên là rừng, bên này là biển bên kia là cát. Tôi nghe thấy sự im lặng, trôi theo thời gian, gắn với các chòm sao.

Thành phố như con bé, chưa trưởng thành đã vội xác xơ, còi cụt. Thành phố quá đỗi đìu hiu khi lính Mỹ chưa đổ bộ. Đi đâu về nhà hai bàn chân cũng lấm đầy cát. Những bãi cát mênh mông cháy bỏng da chân. Và nắng nóng thiêu đốt tóc trên đầu, ngây ngây mùi khét. Hai lỗ mũi hít toàn gió biển. Đó là tuổi thơ của tôi. Tôi sinh ra ở đây, đất Quy Nhơn này, nhưng ba má tôi đến từ nơi khác. Má tay xách nách mang lẽo đẽo đi theo ba. Ba trong quân đội, nay chỗ này mai chỗ kia. Đời lính tráng không chỗ dừng chân chăm lo gia đình. Đến đứa thứ ba, là tôi, má quyết định dừng chân ở đất Quy Nhơn lập nghiệp nuôi con.

Tôi lớn lên từng ngày, biển cả bao bọc nuôi nấng tôi. Quy Nhơn vừa làng chài vừa tỉnh thành. Vừa muốn mãi trẻ thơ vừa bị buộc phải dậy thì. Khi đã dậy thì thì dễ bị sách động, nhưng lại sẵn sàng xăn tay áo ‘gấu ó’ nếu bị ai đó tấn công.

Mỗi sáng vừa thức dậy, tôi đến mở tung cánh cửa sổ trên lầu, đi ra balcon hẹp, dài khô héo, hít sâu một hơi mùi biển mặn. Sóng biển rót vào tai tôi lời gầm gừ hay thủ thỉ. Biển nuôi tôi lớn dần từng ngày chứng kiến biết bao khổ lụy quanh tôi. Nhìn ngó lớp da mình bị bào mòn thay cho làn da mơn mởn dậy thì. Từ những đứa bạn thuở ấu thời đến những đứa ngày ngày ngồi trong lớp, thay đổi oan khiên, bi thảm thay cho bình an mộng mị. Chúng tôi là những đứa bé lớn lên không có người cha bên cạnh. Có đứa cha đi tập kết ra Bắc. có đứa cha bỏ vợ con đi vào bưng. Có đứa ba ở trong quân đội như tôi. Ba không có sự lựa chọn cho cuộc đời mình. Chính quyền và má quyết định tất cả. Một mình má lèo lái tính toán cuộc đời cho bốn đứa con, cho má và cho cả ba.

Chỉ đứng một lát ở cái balcon, hai tai tôi đầy ứ tiếng sinh hoạt thường ngày buổi sáng trong xóm. Phía trước nhà chợ đã nhóm. Tôi sống trong/giữa chợ. Chợ chồm hổm. Người bán người mua đều ngồi chồm hổm. Trước mặt những người đàn bà đầu đội nón hoặc chít khăn tang trắng là những bó rau, cọng hành, rổ tép cùng những con cá đang vùng vẫy đòi được sống. Bán hết là về. Chợ nhóm vào sáng tinh mơ. Gần trưa thì vãn. Nhưng tiệm tạp hoá của má thì mở từ sáng sớm đến chiều tối, quanh năm suốt tháng. Rồi tiếng inh ỏi trong xóm sau nhà. Từ gà vịt heo đồng thanh kêu réo. Tiếng trẻ con khóc hoà lẫn tiếng đọc bài. Tiếng người lớn la mắng hay nhắc nhở. Rồi tiếng rao hàng nhịp theo tiếng dép kéo lê trên mặt hẻm cạnh hông nhà. Có cả tiếng khạc nhổ, ho khan. Rồi tiếng xe nhà binh, xe GMC chở lính Mỹ, xe vận tải, xe đò, xe lam, xe gắn máy… chạy ngoài đường cái vọng vang át luôn tiếng sóng vỗ.

Tôi bỗng nghe tiếng hát từ cassette của nhà bên cạnh vọng sang

“Cúi xuống
cho máu ngược dòng
cho nước sông cạn nguồn
cho cây khô trên cành trút lá bơ vơ

Cúi xuống
cho bóng đổ dài
cho xót xa mặt trời
cho da thơm trên người nay cũng phôi pha . . .”

Tim tôi như bị ai thò tay bóp nghẹt.

Con đường phía trước bị dép râu lính Bắc Việt chà đạp giờ đến giày lính Mỹ đóng đinh chưa kể giày bốt đờ sô lính miền Nam đá tung đất cát.

Quy Nhơn, thành phố má dừng chân lập nghiệp, nơi tôi sinh ra. Và lớn lên giờ biến thành trận mạc, bãi rác, nơi chôn mìn, pháo kích, bắn tỉa, ném bom… bầu trời ban đêm hoả châu bất thần bùng loé rồi tan chảy thay cho ánh trăng tuổi thơ.

Những thằng bạn tôi quen biết từ thủa nhỏ, nay râu bắt đầu lún phún, mặt nổi mụn, giọng vỡ đang bắt đầu đi vào cuộc chiến. Đi vào cõi chết.

“Một ngày dài trên quê hương
người Việt Nam quên mình sống
một ngục tù nuôi da vàng.
. . .
Ngày thật dài trong lo âu
rồi từng đêm bom đạn phá
người Việt nhìn sao xa lạ
người Việt nhìn nhau căm thù.”

Người dân nơi đây, sống không yên chết không nhắm mắt. Hồn họ vất vưởng lang thang. Sống đã đói chết cũng thành ma đói. Người sống không giúp được người sống và người chết cũng chẳng thể phù hộ được người sống. Tiếng súng đạn không xua đuổi được linh hồn họ.

Nam học sinh nơi đây không có ngày tốt nghiệp. Như người lính không có ngày xuất ngũ. Nam độc thân mãi mãi là là trai tân đến ngày bị viên đạn bắn thẳng vào hạ bộ. Cả một thế hệ chết trẻ và chết oan.

Rồi tôi sẽ rời khỏi nơi đây, vào Sài Gòn tiếp tục việc học. Nhưng sao trong tôi mãi bồn chồn về một ngày mai vô định. Tôi không chờ đợi gì trong một xứ sở đang loạn lạc chiến tranh. Tương lai của chúng tôi như cái lỗ rách trong túi áo, bỏ gì vào cũng lọt xuống hư vô.

Làm sao tôi không yêu mùi vị của biển. Biển trong tôi và tôi là biển. Máu thịt da tôi ướp mùi vị của biển. Những lúc nghĩ như thế, tôi lại cảm thấy bồn chồn. Tôi ngửi bầu trời có mùi cay đắng, mùi chết chóc, mùi oán than, mùi căm hờn, mùi tuyệt vọng. Không khí chiến tranh đang lăn đổ về phía chúng tôi. Không có hay còn gì ngoài nỗi hoảng sợ.

Nhưng tôi yêu thành phố miền biển này biết bao.

Má đang nằm nghỉ trưa sau một buổi sáng nhọc nhằn kiếm sống. Ba ngồi đọc báo và trông chừng tiệm. Người vô người ra lựa đồ mua đồ hỏi giá trả giá ba cứ đủng đỉnh theo cách thức của ba. Má nói từ ngày ba giải ngũ ba như người bị lẫn, lúc nhớ lúc không. Tôi thì thấy ba không lẫn chút nào chỉ ngạc nhiên sao từng ấy năm trong quân đội mà sao ba lúc nào cũng ‘gà rù’ như thế! Ba đang nghĩ gì trong đầu sau từng ấy năm sống xa gia đình. Không có ba thì má nói chuyện với khách hàng. Giờ đây có ba thì má nói chuyện với ba. Giờ có ba trông coi tiệm, má đi ra ngoài buôn bán đô la, đồ PX của Mỹ theo kiểu chợ đen kiếm nhiều tiền hơn. Chị Lu nói. Má là người buôn bán theo thời cơ chủ nghĩa. Anh Cả nhận xét. Tôi không biết và cũng không hỏi. Tiếng ve bắt đầu inh ỏi trên cây keo trước cửa nhà. Chợ chồm hổm trước nhà tôi đã vãn. Mặt trời đang ngự trị trên đỉnh đầu. Thằng bé bán cà rem đang khua cái leng keng bên hẻm, đi cạnh sát nó là ông bán kẹo kéo. Nó nói ông là cha nó, bị mù. Má nó làm kẹo đưa cho cha nó đi bán. Hai cha con đi bán dạo trong xóm. Đồng tiền xu rờ ông biết còn tiền giấy thì thằng con đọc hộ ông .

Nắng nóng đổ lên đầu hai cha con đi bán kẹo kéo và cà rem cây.

Một ngư dân kéo ánh mặt trời thay vì cá. Lưới tốc lên từ nước biển chứa đầy chất dầu loang. Ngư dân nói từ ngày lính Mỹ đến đây, cá chạy trốn dưới lòng biển sâu. Tàu Mỹ lượn qua lượn lại, cá to cá nhỏ cũng khiếp sợ huống gì là ngư dân. Nước biển giờ trộn lẫn dầu xăng tàu Mỹ.

Những con chim sẻ cũng biến mất. Chỉ còn những con ve sầu réo vang inh ỏi.

Vầng trán ba nám sạm, có lẽ do thời gian, thuốc súng cùng nắng nóng xứ sở này.

Ba về nhà, sau bao năm dài đóng trọn vai chinh nhân. Ngày ba được giải ngũ, xuất hiện ở cửa với hàm răng rụng gần hết. Mỗi lần ba về phép là ba bị rơi rụng một phần nào đó trên thân thể. Càng ngày ba càng xa lạ với chính ba, với những người thân yêu ruột thịt. Ba về nhà thì tôi sửa soạn rời khỏi nhà.

Tuổi thơ tôi có tiếng trái me già khô rơi rụng trong đêm. Lẫn trong tiếng sóng. Sáng nay, tôi thấy trên đỉnh cây keo, những trái chín bung vỏ hồng thắm, lộ da thịt trắng ngần, bao quanh hột me đen bóng nhẫy. Giờ chẳng còn chim đến mổ vào lớp thịt trắng ngọt của những trái me vừa chín tới. Những trái keo già khô rơi vương vãi trên sân, nóc nhà. Tiếng lá me xào xạc buồn buồn trong thành phố đang bị hung thần chiến tranh cưỡng chiếm. Nơi đây, mọi thứ như đang bị chà đạp hay thốc tung. Những mảnh vỡ bom đạn tung toé chưa nguôi mùi khét. Vết thương banh tanh bành. Nỗi oan ức căm thù không cách chi hoà nhập với lời cầu kinh, van xin, thống hối. Đứng trên lầu, tôi nhìn xuống, một rừng khăn tang bịt đầu quả phụ, trắng xoá cả cái chợ chồm hổm trước nhà đã hiện hữu trước khi tôi ra với đời.

Giữa những hõm mắt sâu như huyệt mộ chôn xác con, xác chồng. Tiếng chuông chùa, nhà thờ giờ đây yếu ớt tắc nghẹn trước tiếng súng tiếng bom tiếng đạn tiếng mìn nổ bùm bùm bùm… Và trong không gian, mùi nhang khói hương trầm ngào ngạt xua tan mùi biển mặn có từ muôn ngàn năm.

Binh lửa đốt cháy cỏ cây, nung chết sức sống đất đai, ruộng vườn. Mọi thứ trôi đi như suối máu trôi. Nước mắt có thể cạn nhưng nỗi kinh hoàng thì không.

Tiếng khóc gào bám theo đoàn xe nhà binh chở đầy hòm phủ lá quốc kỳ. Tiếng gió luồn trong tiếng kèn thổi điệu bi ai. Ngôi nhà vĩnh biệt, chôn đứng người sống tiễn biệt người vừa tử trận.

Trên đầu cầu cách đó không xa, cạnh gò đất vun cao như ngôi mộ chôn tập thể. Anh lính trẻ ngơ ngác đứng gác. Hai chân anh thay nhau gác lên những bao cát chất cao trong tiếng súng nổ đì đùng nghe không xa không gần. Người lính chưa ý thức mọi gian nguy đang rình rập tứ phía. Nhưng nỗi đau xé lòng thì cha mẹ anh mỗi đêm cạn dần sức chịu đựng, khi nào nhận tin báo đi nhận xác con mình.

Những người dân bên kia vĩ tuyến 17 được dạy rằng sinh Bắc tử Nam là anh hùng dân tộc. Tàn sát anh lính trẻ đang đứng kiễng chân gác trên bao cát hay tên lính Mỹ đang đọc thư xem hình con thì được vinh danh muôn đời. Bác Hồ dạy các cháu phải quyết tâm, “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc Mỹ và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.”

Bởi thế, các ‘cháu’ lính Bắc Việt xẻ núi đào hầm vào Nam với bài thơ thuộc nằm lòng.

“Bác cười hiền tựa ông tiên
chòm râu trắng muốt, mái đầu bạc phơ
cao vời vầng trán ước mơ
ánh mắt vẫy gọi bến bờ tương lai.
áo nâu mưa nắng bạc phai
cao su đôi dép chông gai dặm trường
bác là tổ quốc, quê hương
là cây đại thụ, là đường đấu tranh.
bác là trang sử liệt oanh
hùm thiêng sông núi, lưu danh muôn đời
bôn ba khắp bốn phương trời
tìm đường chân lý, xây đời tự do.
bác là áo ấm, cơm no
nụ cười âu yếm, giọng hò dịu êm
bên người con lớn lên thêm
nụ cười của bác êm đềm nước non.”

Bác giao trọng trách các con phải giải phóng người dân miền Nam đang lầm than đói khổ dước ách độc tài đế quốc Mỹ, dưới ách Việt gian thống trị. Bằng mọi giá phải đưa ba miền đất nước cùng tiến lên xã hội chủ nghĩa muôn năm.

Trong giấc mơ cách đây không lâu, tôi thấy kẻ sát nhân tự bịt mắt cắt đứt định mệnh của hắn và của kẻ khác. Hắn mỉm cười tự mãn lìa đời trong sự ngờ nghệch, trong sự tham vọng của kẻ nắm trong tay cuộc đời hắn. Hào hùng khí thế “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.” Niềm vui được cầm súng ra mặt trận lan toả khắp châu thân. Đem ngực mình dựng thành chiến luỹ. Tôi nhận thấy đó trò chơi ảo tưởng cười không nước mắt. Chẳng còn gì bí ẩn ở đất nước này khi cái chết bóc trần trắng trợn. Người dân cả ba miền đất nước không còn nỗ lực hay khả năng chống đỡ.

Tôi thức dậy cảm thấy nỗi cô đơn trống rỗng đến tê cứng người.

Chiến tranh cuốn phăng tuổi thơ tôi. Xua tan mọi bí mật như tại sao con nhộng bỗng biến thành con bướm. Hành trang vào đời tôi đeo đầy nỗi bất hạnh, sợ hãi thông qua những tội ác làm nên lịch sử.

Thành phố biển, nơi tôi ra đời và đang ở tuổi dậy thì, bỗng một ngày quân đội Mỹ đổ bộ và giờ là lính Bắc Việt đào hầm vượt núi tiến vào. Chúng dùng nơi đây để tiêu diệt lẫn nhau. Nhưng, súng đạn bom mìn… made in Mỹ, Trung Quốc, Nga Sô nào phân biệt được màu da tiếng nói lòng người. Trận chiến xảy ra trên đất miền Nam nên người miền Nam lãnh đủ.

~~~~~

Việt Cộng pháo kích đạn cối 82mm (ly) do Trung Quốc chế tạo rơi trúng vào trường tiểu học giữa lúc các em đang trong giờ ra chơi. Tàn sát 17 học sinh và 34 em khác bị thương nặng. Đất thành phố rung chuyển và biển thành phố rung chuyển trong nhiều ngày. Nhật báo đăng tin và đài phát thanh đưa tin. Làm sao các em tránh được quả đạn cối pháo kích của quân khủng bố bên kia đất Việt khi họ một lòng son sắt quyết tâm giải phóng miền Nam, tiêu diệt Việt gian và đế quốc Mỹ để đưa cả nước tiến lên thế giới đại đồng cộng sản. Các em nào biết định nghĩa chiến tranh là gì và vì sao lại có chiến tranh. Các em chỉ mong được ăn no bụng mỗi sáng đến trường.

Việt Cộng giờ pháo kích vào thành phố tuổi thơ tôi tứ phương tám hướng. Ngoài chiến trường, vào làng quê hoặc giữa phố phường. Má nói trước kia trời kêu ai nấy dạ, giờ bom đạn pháo kích trúng ai thì chịu. Học sinh trúng đạn khi miệng các em, đứa đang cười, đứa đang reo hò, đứa đang nhai kẹo, chân đứa này đá banh chân đứa đang nhảy lò cò… Xương-da-máu-thịt của các em văng tung toé lên vách tường, hàng rào, cành cây… mảng da đầu còn dính chùm tóc.

Các em đang là mầm hoa, đột nhiên trong tích tắc, tiếng bom nổ long trời lở đất biến các em thành người thiên cổ không toàn thây. Những bông hoa không còn cơ hội hé nụ, nở bung rồi tàn lụi theo thời gian.

Cái chết tức tưởi, oan khiên của các em ám ảnh tôi những ngày sau đó. Đồng thời chấn động vào tâm tư má. Trong bữa cơm chiều, má buông chén cơm, nói không nuốt nổi, rồi má bần thần, những đứa bé chết khi đang chạy nhảy trong sân trường có thể là thằng Tin, con trai út của má.

Tôi nhớ ở lớp ba, một bữa cô giáo đang giảng bài, thằng Thụ ngồi sau lưng tôi bỗng đứng lên, hét toáng giữa lớp, má tao mới chết hôm qua, xác má tao còn nằm chình ình giữa nhà, bọn mày học xong có muốn đến nhà tao coi má tao nằm chết không. Nói xong nó ôm mặt khóc hu hu. Cả lớp im phăng phắc. Cô giáo ngưng giảng bài đến vuốt tóc, dỗ dành thằng Thụ.

Một cội cây như người lưu giữ ký ức. Chằng chịt bên dưới gốc rễ, ẩn sâu bên trong thân cây là những đường gân lịch sử, tàn tích các cuộc chiến vô nghĩa và phe nào cũng giành phần thắng, biến xương máu của cả phe thua lẫn thắng trở thành vô nghĩa như cuộc chiến theo thời gian sẽ trở thành quá khứ. Cái cách chết của các em tiểu học tạo vòng lốc xoáy, ngự lại trong tôi suốt đời còn lại. Tâm trí tôi bị truy đuổi, tôi trốn chạy, băng qua vùng đất hoang phế ngập tràn xương khô của những đứa bé. Tôi nhảy xuống chiếc giếng cạn sau vườn. Bóng chùm hoa khế đung đưa trên cao. Tôi nghĩ tới mấy cục gạch mòn nhẵn bởi nước rửa chân của má. Sự tịnh lặng của lòng giếng và bóng hoa khế đung đưa giúp tôi nắm lại được phần hồn của tôi vừa bị ai đó cướp giựt. Ngồi dưới lòng giếng cạn, tôi bỗng thấu hiểu nỗi thống khổ hờn căm của những người cha người mẹ vừa bị mất con. Mất không toàn thây. Cùng những cái bụng chứa củ khoai, trái bắp ăn vội sáng nay, trước khi đến trường chưa kịp tiêu hoá.

Trên cùng đất nước. Nói cùng ngôn ngữ, cùng lứa tuổi, trẻ em miền Nam ôm cặp đến trường, trẻ em miền Bắc được dạy dỗ khuyến khích trở thành anh hùng dân tộc bằng cách noi gương anh hùng Lê Văn Tám, tẩm xăng quanh mình trước khi lao vào kho đạn của địch. Như liệt sĩ Võ Thị Sáu, trên đường ra pháp trường phơi thây chị đi ung dung tự tại như dạo chơi trong công viên. Chị còn nhởn nhớ bắt bướm tặng mình và hái hoa tặng anh lính áp giải.

Trẻ em trên đường đến trường, chân vừa bước đi, cánh tay giơ cao, miệng vừa hô to:

“Đả đảo đế quốc Mỹ!
Đả đảo Nguyễn Khánh!
Đả đảo Ngô Đình Diệm!
Đả đảo Nguyễn Văn Thiệu!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Việt Nam muôn năm!”

Anh Tám và chị Sáu sẵn sàng hy sinh bản thân để cộng sản hoá toàn cõi Việt Nam. Thoả mãn tham vọng cộng sản quốc tế. Tiến lên thế giời đại đồng. Lịch sử cách mạng của dân tộc là kháng chiến chống Mỹ, là chống Việt gian, là cuộc đấu tranh giành độc lập, là giải phóng miền Nam. Là thống nhất đất nước. Toàn cõi Việt Nam trở thành xã hội chủ nghĩa như Bác Hồ sinh thời hằng ao ước.

Một tuần sau, má đem về tờ nhật báo, trang đầu in bức hình chụp tấm bia vừa được dựng trong sân trường khắc tên các em học sinh đã thiệt mạng bời đạn cối 82 ly chế tạo ở Trung Cộng do Việt Cộng pháo kích.

Chiều chiều, những bà mẹ đi quanh sân trường tìm lượm mớ thịt xương trong đất, đá đống gạch vụn gỗ cháy, vách tường, tấm tôn thủng lỗ mà tóc, máu, xương thịt và lọ mực các con bà còn dính ướt đầu mấy ngón tay. Bà tìm thấy đôi mắt của đứa con mình. Long lanh nhìn bà. Bà cầm chặt nó trong tay. Hơi ấm của lòng bàn tay bà làm tròng mắt con bà rắn chắc, nhưng vẫn long lanh màu sắc như viên bi con bà bắn chơi mỗi ngày.

Rồi thì, tin tức hằng ngày phát ra từ radio, từ trang nhật báo, nào nhà thương, trường học, chợ búa, phi trường, rạp hát, nhà dân, nhà thương, nhà hàng…. Bất cứ nơi nào cũng bị Việt Cộng pháo kích bừa bãi. Đào đường, đắp mô để gài mìn, đặt chất nổ… Chẳng còn nơi nào bình yên vô sự trên thành phố tuổi thơ của tôi nữa. Lính Mỹ đến mang theo súng đạn. Lính Bắc Việt đến mang theo súng đạn. Chúng biến miền Nam trở thành trận địa.

Hỏa tiễn bắn lên rồi rơi xuống một cách ngẫu nhiên nhưng cách giết người thì hết sức lạnh lùng. Nhà nhà trong xóm tôi rủ nhau đào hầm trú ẩn, tránh bị pháo kích. Nhà nhà bảo nhau đào hầm thì khỏi phải đào mộ. Hầm nổi hay hầm đào đều cần nhiều bao cát. Gì chứ cát thì thành phố miền biển tôi ở không bao giờ thiếu, như nắng và nóng. Trẻ con nhà nhà rủ nhau đi xúc cát, trút cát vào bao, khiêng về nhà làm hầm trú. Đạn bom vốn không phân biệt một ai, từ trẻ đến già. Từ đàn bà mang thai đến người tật nguyền ăn xin… Trong chiến tranh, cái chết phân phối thật bình đẳng.

 

 

*Trích tiểu thuyết 31 phút, Tập 1: Tuổi thơ 1950 –1965, sẽ xuất bản 2025

bài đã đăng của Lê Thị Thấm Vân

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)