Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Phác Họa (Kỳ 9)

 

 

 

8

 

Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã tối. Những dải sáng mầu xanh yếu ớt đổ nghiên qua cửa sổ, phản chiếu bầu trời lạnh lẽo qua nhưng viên gạch hoa lát nền. Tôi cảm giác đang nằm đè lên hộp mầu nước và những cây cọ vẽ của V., bèn chống tay ngồi dậy. Tôi đắng miệng và thấy nhức đầu kinh khủng. V. vẫn chưa thu dọn đống tranh của hắn lại, để chúng lòi ra ngoài lan lan gác xép, sáng lên một cách ma quái. Tôi cố gắng trèo lên mấy bậc thang bằng gỗ, giật xuống một bức tranh hờ hững có vẻ đang chuẩn bị rơi. Tranh vẽ một con thuyền mầu trắng di động giữa những đảo hình đầu người trong một cái vịnh nước tối đen như mực. Không hiểu sao tôi lại nhớ về những bụi tre vẫn dòm vào nhà mình trong những đêm trăng tỏ, và bất giác, tôi thở dài. Tôi mở va li, đặt bức tranh xuống dưới bức Don Kihoté, lấy ra con dao bấm rồi khoá lại. Con dao có chuôi màu huyết dụ, chạm trổ một cuốn sách mở vấy máu. Tôi bật lưỡi, dí thử vào động mạch tay trái. Tôi ấn vào chậm chạp cho đến khi cảm nhận được những nhịp đập lan truyền trong thép lạnh thì buông ra, rồi cố gắng mỉm cười. Nhưng miệng thì đắng quá. Tôi thay vội quần áo trong bóng tối, lấy sơ mi bẩn lau lại lưỡi dao, thu dọn những dồ vương vãi rồi tống hết vào tủ tường. Va li nhẹ bẫng. Tôi uống một cốc nước lạnh, hất một cốc khác lên mặt, lấy mùi xoa lau lại, rồi xách va li tôi bước ra khỏi phòng. Nhưng vừa mở cửa thì tôi đã thấy V. đứng ngay trước mặt.

“Tôi đợi anh ở đây đã lâu lắm rồi” – Hắn nói.

Tôi không trả lời. V. bắt chéo chân và hơi nghiêng người, như thể đang dựa vào một bức tường vô hình. Hắn học được ở B. trò đó, đâm đến vỡ đầu vào không khí theo kiểu của Marcel Marceau. Hai thằng thân nhau như cứt với đít. Ở ngoài phòng nóng bức đến lạ kì, tôi thấy mồ hôi đọng thành từng giọt to tướng trên cánh mũi của V., nhưng hắn không có vẻ gì là muốn lau mặt, hắn muốn để tất cả phải tự rơi. Tôi đặt va li xuống, cho tay vào túi quần, và trong khoảnh khắc sau đó chúng tôi dường như im lặng, như thể mặt trăng bán nguyệt trên khu rừng đang rọi xuống thứ ánh sáng làm đông cứng tất cả.

“Quỉ sứ luôn đợi ta ở trước cửa nhà. Ithaca thì cũng là Samarra; tôi biết chứ” – Tôi nói, cố gắng giấu đi vẻ xấc xược thách thức – “Nhưng dù sao tôi cũng cần phải ngủ. Tôi đã kiệt sức khi về đến khách sạn này. Anh đứng tì tay vào lan can của căn nhà nghỉ trên đồi thông và đã thấy tất cả, phải không?”

“B. đâu?” – V. hỏi, hắn châm một điếu thuốc. Ánh lửa làm tôi chói mắt.

“Chết rồi”. Tôi siết chặt hơn con dao trong túi quần. Cảm giác về nó rõ ràng đến mức trong giây lát tôi thấy mình hạnh phúc đến run người lên. Tôi bỏ bẵng cho linh hồn dập dìu theo những ảo vọng không thể dừng lại về một thứ sáng trong vô định, xa lạ và còn tăm tối nữa.

“Mà có thể anh ta vẫn còn sống và đang kiệt sức bước đi trên những con đường đất dữ tợn ấy. B. đã bỏ rơi tôi, vì thế chẳng có lí do gì để tôi phải cảnh bao cho anh ta về sự xuất hiện của con đường bị lãng quên. Cũng chỉ như một chiếc lá khô trên cỏ thôi, gió đang thổi anh ta chạy trên đó, trong giấc mơ của tôi. B. bị lạc đường, anh đã hiểu, phải vậy không, V.?”

“Không, tôi không hiểu. Tôi đã chỉ đường cho B. mà không hề nhớ đến anh. Nhưng khách sạn này đúng là chỉ dành cho những kẻ khốn cùng quay trở lại. Những kẻ hành hương trở về quá khứ, những kẻ dẵm ¾ bước chân y vào trong kí ức. Nhưng sao đôi mắt anh lại sôi sục như hồ máu thế kia, không phải anh đang sốt đấy chứ?”

“Tôi gặp ác mộng và thức giấc. Anh cũng biết, trong thời đại này, khi một người tỉnh dậy trong đêm là vĩnh viễn y không bao giờ ngủ lại được nữa. Nhưng tôi vẫn cố nằm lại, trong cái cảm giác bàng hoàng trĩu nặng ấy, chỉ để sống trong một cái gì, chìm đắm trong một cái gì. Tôi mơ thấy A. đã chết. Em nằm giữa một vườn hoa anh đào hồng rực, bên cạnh một cái giỏ quả cũng phủ màu hồng. Vẻ đẹp lạ lùng ấy khiến tôi ngây ngất; tôi bước lại gần trên những cánh hoa, ngắm nhìn thi thể của em. Nó có một cái gì dịu dàng quá, những xác người yên bình ấy; giống như một lời mời mọc tôi đặt môi lên vầng trán thảnh thơi hay gò mà có những điểm phát sáng lấp lánh ở dưới da. Tôi định nhấc cái giỏ lên để ngồi xuống cạnh em nhưng bất chợt hoảng hốt khi thấy hoa cỏ trong rỏ cứ ruỗng dần ra thành những cái lỗ đen ngòm; và rồi tôi lại cảm thấy mình đang hiểu thêm một cách khủng khiếp rằng chính tôi là kẻ đã giết A. Cái xác của em vẫn lặng im, cái lặng im ma quái mịn màng khiến tôi hình dung thân thể em được bao bọc bởi đường ranh tạo nên bởi những chấm rất nhỏ và cũng chính sự im lặng ấy như thì thầm với tôi rằng, tất cả mọi điều đã được định đoạt và không còn gì có thể đổi thay trên thế gian này. Tôi  bước lùi lại và quay đầu bỏ chạy, xuyên qua thảm hoa máu vẫn cứ trút mãi xuống đời tôi, len lách qua chúng như một đứa trẻ chạy trốn những hạt mưa, vừa phấn khích hò reo như sống trong niềm hạnh phúc rượt theo cái bóng nắng vùn vụt trên cánh đồng tuổi thơ cho đến khi nghẹt thở. Tôi cứ chạy thế, chạy thế cho đến khi tôi thấy mình mở mắt nhìn trừng trừng vào bức tường khách sạn; trời đêm như hé rạng và ảo ảnh trở lại quay cuồng. Tôi đã nằm im để đợi chờ xúc động dịu đi và những thao thức cuộc đời lên tiếng gọi. Bây giờ thì tôi ở đây, tôi rất mệt, nhưng tôi sẽ rời khỏi khách sạn này. Anh sẽ không thể cản tôi lại, phải không?”

“Tôi không có ý cản anh” – V. nói –“Và đối với tôi, buông bỏ cũng không bao giờ là cách để níu giữ một điều gì đó. Tôi chỉ mong làm được chút gì để nhắc nhở anh cảnh giác với những giấc mơ, nếu anh để mình kẹt chân vào đó, thì đúng như anh nói, ta không còn cơ hội để thay đổi bất cứ điều gì. Giấc mơ, trong chừng mực nào đó, làm gián đoạn rất ít thực tại, còn thực tại thì ngược lại, thường cắt đứt vĩnh viễn giấc mơ. Vì người ta thường hối hận nên họ mong chờ được bắt đầu lại mọi sự hoàn hảo, đó là trường hợp các giấc mơ đẹp. Nhưng sở dĩ người ta coi giấc mơ là giấc mơ vì người ta tin vào thực tại của sự liên tục. Điều ấy không còn đúng nữa, vì thực tại của chúng ta hiện nay chỉ là những mảnh ghép được sắp xếp bởi một thế lực sau lưng gọi là nhân loại. Chí ít thì thực tại ấy cũng không liên tục theo thời gian. Điều này anh là người hiểu rõ hơn ai hết, cuộc đời anh bị gián đoạn, anh cảm nhận được những khoảng trống hay trong suốt lan ra giữa dòng đục của thời gian, nhưng lại không có cách nào để tồn tại trong nó. Vì thế anh muốn rời bỏ khách sạn này, nơi thực tại được xếp chặt như trong những tinh thể, để tiếp tục đâm đầu vào thế giới, sống trong gián đoạn và đứt gãy. Anh cũng biết, trên trái đất nóng bỏng bây giờ của chúng ta, điều nguy hiểm đáng sợ nhất không phải là những đe doạ ngấm ngầm của vũ khí hạt nhân, không phải sự lụi tàn của đức tin tôn giáo, không phải chuyện thi nhân tự chui mình vào hố sâu muôn trượng của mặc cảm và cô độc …, không, không phải tất cả những chuyện ấy, mà đó chính là thực tế khủng khiếp này: giấc mơ và thực tại đang ngày càng trở nên đồng nhất. Đấy là vì thời gian đã đến chung cục của nó, hoàn tất sứ mệnh hoà nhập mọi ảo mộng trên đời và không gian sống. Nó hoàn toàn không cần đến cả việc con người phải từ bỏ kí ức của mình; nó là thông điệp của ơn huệ; nó nói rằng tất cả là như thế, rằng đã đến lúc xuất hiện một thực tại duy nhất, thực tại vĩnh cửu. Như vậy việc anh định rời khỏi đây mới thừa thãi, ngu ngốc và đáng ghê sợ làm sao. Anh sẽ tiếp tục giết người vì đã mơ mộng như vậy và anh hạnh phúc, say sưa với những cảnh tượng như thế. Đây không phải là tôi đang biện hộ cho anh, tôi không hề …”

“Tránh ra nào” – Tôi gầm lên. Thằng điên này hoàn toàn không biết gì về tôi. Lời hắn nói tựa như tiếng rên ẽo ợt vọng ra từ địa ngục, mời gọi người ta chấp nhận nó. Hắn dụ dỗ tất cả những kẻ lỡ chân bước vào đây bằng những lời ám ảnh về một viễn tượng phi thường và tối tăm mù mịt khi xảy ra sự trùng khớp giữa thực tại và ảo mộng. Nhưng tôi không có điên. Ở cái mụn đầu đen trên mặt đất này ư? Tôi không có điên. V. đã cho tôi cái quyền lao vào hắn với tất cả sức lực và sự điên cuồng, với tâm hồn cháy bùng dữ dội và giãy dụa của một ngọn lửa khờ khạo, khiến cho trong phút chốc tôi cảm thấy tất cả những phản ứng run rẩy tựa thi nhân bối rối và lạc lõng của tôi khi nãy sao giống như một cái gì đang nhỏ giọt ở đuôi.

“Tránh ra, tránh ra” – Tôi buông bỏ con dao ngay khi nó trở nên nóng bỏng và mát lạnh hơn bao giờ hết; rồi xách va li lên tay, tôi chạy dọc theo hành lang. V. đuổi theo. Mẹ kiếp. Tiếng đế giày của hắn trên nền nhà giống như tiếng búa gõ boong boong vào đỉnh đầu tôi, nhanh chóng đưa sự kiên nhẫn của tôi lên tới đỉnh điểm. Đến gần cầu thang tôi lại đặt va li xuống, quay phắt người lại.

“Muốn gì nữa đây? Muốn gì?” – Tôi gầm gừ trong cổ họng.

“Không có” – V. không chịu nhả điếu thuốc ra, lửa đã cháy đến gần môi hắn – “Tôi đã không thuyết phục được anh, nhưng đây, tôi muốn anh nhận lấy cái này”.

Hắn rút từ túi áo ngực ra một bức ảnh và đưa cho tôi. Tôi giật lấy.

“Tất cả các người không bao giờ muốn nói trực tiếp với tôi, đúng vậy, mà luôn bắt tôi phải xem những thứ đồ khốn kiếp như thế này.” Tôi làu bàu và đưa bức ảnh về phía cầu thang, mong hứng lấy luồng ánh sáng nhợt nhạt rọi vào từ cửa chớp. Nhưng vô ích, đêm tối có ở khắp nơi. Tôi bực tức thốt lên.

“Tôi không hiểu. Cái quái gì thế này?”

“Cái l.” – V. trả lời.

“Cái l. à?” Tôi lắng nghe lời nói của mình như đang trôi đi trong sương mù. Tôi muốn hỏi lại V. câu gì đó nhưng nụ cười dị thường bỗng toả rạng trên gương mặt hắn, tựa như cái bóng dáng lấp lánh của tạo hoá khiến cho trong phút chốc tôi cảm thấy trong mình xuất hiện một mường tượng day dứt rằng, có một khoảnh khắc nào đó trong cuộc đời, con người ta sẽ không còn biết đến thế nào là đau khổ nữa. Cố nhiên, đó không phải là cái chết. Tôi thảng thốt và cúi đầu. Có lẽ tôi bệnh thật rồi. Bức ảnh hiện lên rõ dần trước mắt tôi. Ảnh chụp một cái giếng nước bỏ hoang trên cánh đồng, mặt nước tối sẫm nhưng tôi vẫn ngỡ mình nhìn thấy những con cá rô, cờ đang núp dưới bóng nước trong veo những cây rong, rêu, rau dừa và dương xỉ. Mây bay vùn vụt không màu. Tôi thấy mình như đi vào cõi mơ ảo quá khứ của em, nơi có sương chiều, em và căn nhà cửa sổ màu xanh. Tôi đau lòng và câm lặng.

“Đấy là những cây cỏ luộc, những sợi rong mầm” – V. nói.

Tôi ngước lên nhìn hắn, im lặng như thể muốn nói rằng, tôi thừa nhận thế giới này vẫn đang tiếp tục bị đốn ngã bởi sự chân thành. Tôi thấy mình dường như hơi hình dung ra cuộc sống.

 

 

 

 

 

 

 

9

 

Không có bất cứ điều gì xảy ra có thể cứu vãn được thực tế này, nhưng rõ ràng tôi đang cảm thấy mình ngu đi một chút. Tôi đứng trong phòng chị Uyên, trước một tấm gương. Tôi không có nhiều nghị lực. Căn phòng trống trải như phòng của Lenin, ngập đầy gió của sự xa xỉ; ngoài tấm gương đang tựa vào tường, chỉ có thêm hai chiếc ghế đang đứng cạnh nhau nơi góc phòng bụi bặm. Còn đâu không gì cả. Không gì cả. Trăng nhăn nhở tâm tình. Tiếng mẹ đều đều vọng xuống từ trên lầu như một nghi thức, thúc giục A. mau mang nước ấm lên để bà ngâm chân; thế rồi đột nhiên bà lại kêu ré lên những câu lạ lùng, tựa một con vẹt ấm đầu. Tôi nghĩ đấy là kinh Phật. Nhưng, quand même, tôi vẫn thấy khâm phục bà, con mụ khốn này luôn có cách để đặt những dấu chấm cảm to đùng vào buổi tối.

Tôi nhìn vào tấm gương, khởi sự suy nghĩ về sự hiện diện phi lí của nó trong căn phòng. Nó nằm ở đây giống như một sự chờ đợi. Nó cô độc. “Tao đã từng cô độc như một tấm gương” – J. nói – “Nhưng bây giờ thì khác, nội lực cuộc sống đang dâng đầy, nó đánh tan mọi rác rưởi. Tao cóc cần sự giải thoát, tao mặc xác tất cả những kẻ được giải thoát và cái cảm giác để số còn lại bước vào giác ngộ trước tao. Tao chả sợ cái quái gì cả. Tao bôi xoá chính mình, để mờ đi, và tao sẽ chạy quanh địa cầu với đôi mắt nhắm tịt và la hét.” Như một tấm gương! Tuy vậy, mọi so sánh cũng chỉ là nguỵ biện.

Tôi ngắm nhìn bầu trời cuốn mặt sau ánh trăng – những cái mạng bằng mây. Chị Uyên đang ngủ ở đó, trên một chiếc giường đặt bên ngoài cửa sổ; chị sống trên cõi đời giống như một chiếc lá rơi trong nước. Bố đã đặt tấm gương ở đây với dụng ý nhân đôi sự phức tạp trong con người chị? Bố muốn chị nhìn thấy được điều gì? Nhưng có lẽ ông đã thất bại, đã hơn một lần thất bại. Ông đã chỉ nhân đôi mọi rắc rối trong cuộc sinh tồn. Giờ thì chị ấy đang sống ở bên ngoài cửa sổ, trong ánh sáng ngập tràn, tinh tú khúc khích cười và thi nhân bay lượn. Chị chẳng cần đến một điều gì.

Tôi lại nhìn vào tấm gương và lần này, tôi quyết định tìm kiếm mình trong đó. Trên cái nền phản chiếu cửa sổ được rọi sáng bởi ánh trăng, những con vạc bay qua và ngọn tre làm tình với gió; tôi thấy ảo ảnh mình tiến lại gần, ngập ngừng và sốt ruột. Tôi cố gắng thể hiện trong gương một đôi mắt bình yên và trống rỗng, nhưng dường như đó là một việc làm quá sức, từ phía ánh sáng hắt vào mặt gương, đôi mắt luôn ẩn chứa một cái gì đó tuyệt vọng và cay nghiệt.

Tôi ngắm nhìn gương mặt mình lâu đến nỗi, cuối cùng tôi phải thừa nhận rằng đó là một gương mặt xa lạ. “Bạn càng nhìn kĩ một cái gì, bạn càng thấy nó xa lạ” – J. nói – “Và những tấm gương được làm ra để chúng ta lãng quên gương mặt của chính mình”. Thằng này khùng rồi, nhưng anh luôn có lí.

Lại có tiếng mèo kêu trong đêm. Hay là tiếng trẻ con khóc cho cuộc đời chúng? Tôi vẫn không sao phân biệt được. Tôi nhìn trong tấm gương, thấy chị Uyên đứng bên cửa sổ ngó vào trong phòng. Chị như ánh trăng tụ lại. Nhưng tôi biết tất cả là ảo giác, vì khoảng cách từ thềm cửa sổ đến chiếc giường của chị là rất cao, cao vô tận. Không có gì khác nhô ra để chị có thể đứng lên và nhòm vào trong phòng. Tôi cũng không thấy bàn tay chị bám trên chấn song nên chị không đứng ở đó. Chị không có ở đó. Hợp lý làm sao. Tôi lại ngắm mình trong gương. Một tên sụp mi di truyền. Tôi cảm thấy ác cảm với hắn, có lẽ vì sự tương phản giữa gương mặt này với cái cách ăn nói thường ngày văn hoa, dù rất hay nhưng có vẻ sẽ trở nên kệch cỡm vì ấn tượng khuôn mặt. Có lẽ hắn nên bịt khăn vào trước khi mở miệng nếu hắn muốn chứng tỏ một thứ giá trị gì đó về hắn qua những điều hắn nói, hay tối thiểu là giá trị gì đó thể hiện trong những điều hắn nói. Nhưng tất cả chuyện ấy nhắc đến làm chó gì?

Tôi thấy bớt đi phần nào cô độc khi ở bên cạnh một tấm gương.

“Chị ơi” – Tôi nói – “Chị có biết vì sao trong phòng chị lại có hai chiếc ghế không?”

“Vì chúng sợ cô độc” – Tôi trả lời – “Càng ngu đần, vô tri, người ta càng sợ cô độc”

“Thế chị giải thích sao ở đây lại chỉ có một tấm gương?’

“Nó bị ép buộc” – Tôi lại trả lời – “Xin đừng đối xử với nó như thế”.

Đúng vậy, tôi không hề thấy ghê tởm, tôi chỉ xót thương.

Tiếng bước chân A. xa dần trên hành lang, vang vọng lại như tiếng nước rỏ trên đá trong các hang động. Tôi đợi cho âm thanh ấy bị nuốt trọn vào trong thinh lặng, rồi quay mặt tấm gương vào tường, tôi bước ra khỏi phòng.

Những bậc thang cao đến chóng mặt, tôi không hiểu làm sao Caddy, chân tay ngắn ngủn thế kia, lại có thể leo lên được. Tôi nhẫn nại bước lên, ngập trong cảm giác khó hiểu rằng mình đang bước đi dưới một mái nhà. Những bậc thang này, nền nhà này đang đói khát những cơn mưa. Và tất cả loài người đang đói khát những đau thương. Tôi tin là như vậy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10

 

“Khi nói “tôi” tức là bạn đang cô độc” – J. cứ lầm bầm như vậy lúc đi lên đồi, tay anh cầm một cái chậu nhôm. Tôi cuốn mình trong vườn sắn đầy bụi vàng luẩn quẩn, nín thở chờ anh đi qua. Dưới chân đồi có tiếng xôn xao của một đoàn làm phim; có lẽ J. đã bước ngang và nhìn họ với tất cả sự thờ ơ có thể. Anh đợi nó chiếu trên truyền hình.

Tôi bò thật nhanh giữa những gốc sắn, tưởng tượng rằng mình đang uốn lượn trong tuổi thơ dị kì đầy nắng sáng, bên dưới những con tắc kè thiên thanh đang hắng giọng. Người ta đã phải cưỡi trên những con lợn tóc bạc như thế để trở về với các mảnh thần tiên vỡ vụn; những cái chớp mắt chứa đầy bóng sáng của tạo hóa chứ không phải một màu u buồn ầng ậc nước như khi gió tắt lặng trên các mặt thành cỏ hoang ảm đạm.

Tôi thoát khỏi rừng ngô, nhìn thấy những con đường lên đồi đã bị những bụi cây bít mất. Bóng tối tràn xuống khi mặt trăng trèo lên, lơ lửng trên đầu cây cọ. Tôi tìm cách đi sâu vào, như cánh bướm vàng bay đơn độc trong đêm. Những con rắn lớn bắt đầu trườn ra từ phía sau cây lựu ngay trước cửa lều của ông; rồi trời hửng nắng. Gió thổi lá rụng tơi bời trong thứ ánh sáng ngày mỗi lúc một thêm gay gắt. J. đặt cái chậu xuống trước cửa lều rồi lên tiếng gọi:

“Ông nội. Xem tôi mang cái gì đến cho ông đây này”

Gió thổi không khiến cho nắng ngày nhạt đi; không khí như lên cơn sốt; túp lều nhỏ của ông như phình lên đắc ý vì đang nuôi nhốt trong mình thứ bóng râm mát lạnh. Tôi đau đớn chờ đợi.

J. ngồi xếp bằng trên biển lá, nhìn vào cái chậu, rồi anh rút ra một cái túi vải nhỏ giắt ở cạp quần. Ông đã đứng ở nơi cửa lều, nhìn anh bằng đôi tai nghễnh ngãng. Từ cái ngày ấy, túi mắt mi trên đã chảy xuống khiến ông không còn nhìn thấy đường. Ông có mở mắt cũng bằng thừa.

“Ông nội” – J. ngẩng đầu lên khi ông bước lại gần. Tiếng chân ông trên  lá nghe thơ thẩn êm đềm như một người điên dạo chơi trên cỏ. Ông không còn nhớ gì. Bây giờ ông giống như một con chó, hay đơn giản hơn nữa, ông tồn tại trong sự bất lực không có khả năng biết và điều khiển, ông dường như mất tích trong chính mình – kêu gọi chính mình trong tiếng rên tuyệt vọng.

“Trò này rất tuyệt” – J. nói, không có vẻ hào hứng lắm. Ông đã ngồi xuống bên kia cái chậu, đối diện với anh – “Tôi đã định mang lên cho ông nội cái lọ đựng rau muống, nó đang mọc ra những cái rễ trắng rất đẹp. Tôi muốn cho ông xem cái cảnh con ốc ăn con cá, thật là man rợ; nhưng rồi tôi nhớ ra ông nội đâu có nhìn thấy gì. Nhưng trò này thì không cần phải nhìn gì cả, tôi sẽ làm trước cho ông nội xem.”

Anh mở túi, nhúp ra những con kiến rồi thả vào chậu.

“Đây là cách để nhận biết ông nội đang phải sống trong cái nắng như thế nào. Cái chậu bỏng giãy. Con kiến này cả tôi chỉ bò được 5mm rồi co quắp lại. Nó chết mất rồi.”

Anh thả vào một con nhện.

“Con nhện thì khá hơn, nó chạy được thành một vòng tròn. Nhưng thật ngu ngốc, chạy vòng tròn đâu có nghĩa là sẽ đỡ bỏng chân. Cái cảm giác này, thật là giống khi ta dẵm chân lên mồ mả tổ tiên.”

Ông vẫn ngồi xổm trên lá, nhìn vào cái chậu, theo dõi sự chết chóc đang lan tỏa trong hơi nóng với một sự im lặng chăm chú. Anh J. vươn người sang nắm lấy bàn tay ông.

“Bây giờ tới lượt ông nội. Ông phải chơi mới được” – Anh nói, nhét vào tay ông một con nhái, rồi cầm tay ông dí bụng nó xuống chậu. – “Bỏ ra thì nó nhảy mất, nên ông nội phải giữ như thế. Bao giờ nó hết giãy thì ông nội lật ngược lại, dí lưng nó xuống. Tôi biết bọn nhái này, chúng xảo quyệt lắm.” – J. nói và tay kia anh thả một con chuột non xuống chậu.

Tôi nhắm mắt lại, nhìn thấy những linh hồn bay lên và vô số cánh cửa địa ngục đang mở ra trên mặt đất. Tôi lắng nghe tiếng động của mây, tiếng thở của rễ, tiếng xao xác vô thanh lá cuốn giữa vòm cây …, tất cả những thanh âm ấy trong quang cảnh mờ mịt nắng giống như được tấu lên bởi một giàn nhạc mất trí điên cuồng trong câm lặng; nơi mà chuyển động duy nhất đến từ cây đũa thần trong tay vị nhạc trưởng cũng ngẩn ngơ ngây dại như bất kì kẻ nào buông bỏ mình cho lũ cuốn về hạnh phúc. Cây đũa ấy đang cười. Tôi mở mắt ra, thấy tay ông di di con nhái trên mặt chậu, còn đôi môi nứt nẻ he hé để những làn hơi đần độn thoát ra và âm thanh rung rung trên đầu lưỡi.

Hi hi hi.

Tôi nhăn mặt lại kinh tởm.

Bên kia cái chậu, J. phá lên cười. Anh lục túi, lấy ra một vắt cơm, bẻ một nửa thảy xuống chậu rồi sung sướng kêu lên.

“Ông nội. Cuối cùng thì ông cũng cười rồi. Tôi mang cả cơm lên cho ông nội nữa đấy, cả nhái, cả chuột, và thế là ông nội đã có được một bữa ăn trưa thịnh soạn.”

Tôi thấy ông giật nảy mình, và nhanh chóng, ông đưa tay quờ quạng trên mặt chậu bỏng như lửa. J. hét lên.

“Phải lắm. Ông nội phải ăn, phải sống, để mà còn đi nữa. Để còn đi nữa. Vắt cơm đang ở bên tay trái ông nội, nhanh lên, bên trái, nhanh lên. Ông nội lại chậm nữa rồi.”

Và anh đưa tay úp ngược cái chậu xuống mặt lá.

“Giờ thì tôi phải về đây” – J. nói, anh nhìn rất lâu vào cái bóng ảnh của ông đang thẫn thờ lay động trong gió lạc vô tình, nửa như thương xót, nửa như kinh ngạc. Rồi anh nhấc cái chậu lên, thả nửa vắt cơm còn lại xuống trước mặt ông – “Nắng đã đổi chiều rồi, tôi thấy lạnh. Ngày mai tôi sẽ lại lên đây chơi cùng ông nội. Ông vẫn còn sống sau cái ngày ấy, tức là ông sẽ còn sống thêm rất lâu. Tôi chỉ ước sao mình có thể chết trước ông nội. Vì sao ông nội biết không? Vì cái ánh mặt trời này, nó làm tim tôi đau. Đau lắm.”

Và anh quay mặt đi, để mình ông ngồi lại dưới mặt trời đau xót, hồi tưởng lại tương lai của chính mình.

bài đã đăng của Nguyễn Nhật Minh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)