Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Phác Họa (kỳ 7)

 

 

3

 

Những làn gió ấm giữa mùa đông.

Tôi thấy mình chạy ngang qua ngõ phố, khi dải sáng đèn huyền diệu lướt ngang qua gương mặt rồi bồng bềnh như sương tại mọi khoảnh khắc sau lưng; tôi như bị hút vào khoảng không rất sâu trong đôi mắt không chút ánh sáng và sự sống của đứa trẻ ngồi trong thùng kem ngay dưới chân cột đèn. Tôi hiểu ra rằng tôi sẽ còn nhớ rất lâu đôi mắt đó chỉ bởi vì tôi thấu hiểu được nỗi bất công của thời gian: tôi thì nhớ nhưng đứa trẻ thì không, vĩnh viễn không biết đến chính cái nhìn thâu tóm mọi đớn đau toàn thể của ý thức tồn tại và cô đơn của người khác. Thượng đế làm nên điều gì vậy? Người bênh vựa trẻ con đến thế ư?

4

 

Gió thổi xuyên qua bức tường, thốc vào chăn khiến tôi rùng mình. Tôi tỉnh giấc đột ngột bằng cách mở mắt từ từ trong bóng tối. Khi mọi giác quan đã trở lại, tôi căng thẳng mình trong đêm tối dịu dàng. Tôi chợt nhận ra rằng chỉ có duy nhất một cảm giác khi ấy quay lại hiện hữu trong tôi: tôi muốn chết. Tôi đưa tay sờ nắn khắp cơ thể mình, đến hạ bộ, tôi dừng lại để vuốt ve nó. Nhưng sự xốn xang cứ dâng lên trong lồng ngực khiến cho trong khoảnh khắc tôi thấy mình dường như đang sợ hãi. Tôi tung chăn vùng dậy, trần truồng trong sự cô độc. Gió xoay tròn quanh tôi như một tấm chăn mới, nhưng tôi muốn cuốn lại để tự đắp cho mình. Tôi cố gắng nhặt nhạnh lại những hình ảnh của giấc mơ để hòng xua đuổi cái ước muốn ỷ lại nhạt nhẽo kia.     

Tôi thấy mình tư duy trong mơ.

Nền nhà đang lún sâu dần xuống ruộng. Tôi nằm dúi đầu vào chân tường lở vỡ; những con đỉa lọt qua mớ giẻ rách rồi bò lên trán tôi. Bùn chảy quanh nhà nghe như tiếng một cơn bão đang đến gần; tôi biết mình đang sa chân trở về giấc mộng.

Tôi vượt qua mọi cột đèn trong thành phố, chạy như điên ra bến cảng. Tôi chạy song song cùng suy nghĩ của mình.

 

Gì kia?

Chúng là những đứa nào?

Tên đắp trần thạch cao

Tên bán xu hào

Tên trồng hoa kiểng

Cùng tên đào giếng

Mẹ kiếp!

 

Tôi chạy dọc theo bờ sông. Những con tàu với bánh xe tròn, xà lan cát và những dải đá xanh đắp đống ở hai bờ. Suy nghĩ không theo kịp bước chân tôi và tôi lại cảm thấy mình trống rỗng. Nhưng rồi, dù bước chạy không hề thay đổi, tôi vẫn nhận thấy tôi đang hụt hơi. Những con người xung quanh chuyển động nhanh đến mức tôi phải nhanh chóng thừa nhận rằng mọi sự tách rời của các thành phần cá nhân tôi chỉ giống như một trò đùa vô nghĩa. Tôi không bao giờ đi nhanh được như họ. “Chậm lại! Chậm lại! Tôi hiểu đây không phải là lí do khiến tôi đã đứng yên từ bấy đến nay, nhưng xin ai đó hãy chậm lại. Chậm lại để cảm thấy đau đớn cùng tôi!” …

Tôi lại đạp lên những đầu lọc thuốc, hít thở mùi tanh tưởi từ chợ cá dội lên những gờ đất, cuốn quanh những cột đèn đường. Người tôi nhầy nhụa mồ hôi, mắt tôi hoa lên vì chói nắng. Một ảo ảnh đi lại trong thứ ánh sáng nồng nặc mùi và mệt mỏi. Tôi cứ tưởng là em, tôi luôn tưởng là em; tim tôi đập như muốn chết như khi bắt gặp lại một ảo tưởng về một chớp loé của sự không cũ mòn xuất hiện trong đêm.

Không phải, anh ta hỏi: “Con đường đưa anh tới đâu? Lê B., anh lên trường phải không?”. B. cảm thấy mệt nhọc, hắn muốn quị xuống. “Không, không” – B. gào lên – “Tao đi về lớp học cũ”. Người bạn đường của tôi bình thản, nét mặt anh ta đầy vẻ châm chọc: “Tôi hi vọng lớp anh không có …” – Anh ta ngập ngừng – “Nhưng vết chân sũng nước trên trường anh đã ướm thử vào hay chưa?”

“Mẹ kiếp, tao nói về lớp học cũ cơ mà, mày có chịu hiểu hay không?” … Nhưng anh ta đã lướt qua người tôi. Tôi như thấy lại căn phòng trọ ấy, nó hướng ra một mảng núi đồi đỏ rực, một rừng cây ở phía xa xa và một khách sạn bí ẩn ẩn nấp đâu trong đó. Em bá lấy cổ tôi, nói như hét vào tai tôi. Em như hạnh phúc quá, phải thế không?

Chiếc giày bóp chặt lấy chân tôi, dí xuống mặt đường. Những cơn gió mang mùi vị chết chóc của sự khởi đầu từ lớp học cũ thổi lại. “Tôi cần phải quay lại đó” – B. lảo đảo – “Mọi thứ đang chết cóng trong tay tôi, những điều tôi thương yêu nhất”.

Cô ấy nhắm mắt lại. Cô ấy không đeo kính.

Nhưng Caddy đang gọi, em nói với cô ấy rằng, thế giới chúng ta ở trong ngôi nhà có cửa sổ màu xanh, trước mặt chúng ta là những dải sáng mơ màng không bao giờ thay đổi; sau lưng chúng ta là bóng đêm không được nhận thấy, là gia đình mà chúng ta lặng người trong sự êm dịu khi nghĩ đến quá khứ và nghĩ về tương lai.

Caddy nói thế mà cô ấy cứ mỉm cười, mỉm cười khi ánh trăng rọi sáng lên đôi môi.

Tôi chỉ thấy em cười trong mơ.

“Khi một kẻ nào đó biết chắc là mình đang mơ” – J. nói – “Anh ta có một nỗi sợ hãi không lí giải được về khả năng bị mắc kẹt trong đó, dù giấc mơ ấy khiến anh ta cảm thấy vui sướng. Một giấc mơ, dù thế nào, cũng chỉ là ác mộng”.

5

 

Tôi bước vào một ngõ hẻm lạ kì, ở đó tôi có cảm giác tay chân mình trở nên thừa mứa giống như khi đang đứng trong một khu hậu cần lễ lạt tang ma. Đám vải bạt được chống ở phía trên cao toả xuống một thứ ánh sáng mờ ảo, tuy cường độ rất yếu nhưng dường như lại thẩm thấu vào mọi vật. Hai bên tường và những thùng rác để lộn xộn trong hẻm sáng lên như dạ quang. Vẻ sáng của chúng giống đám bạt đến nỗi tôi phải dựa vào những luồng hơi nước rất mỏng bốc lên từ mặt đất để nhận ra đâu là nguyên nhân tạo ra ánh sáng trong con hẻm này, tuy tôi cũng chẳng biết mình nhận ra điều đó như thế nào. Không vật gì có bóng, chỉ trừ những cái lốp xe đang tự động lăn qua lăn lại từ đầu này tới đầu kia của ngõ. Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi nhớ ra rằng mình đang cần tìm chị Uyên; tôi dường như nhìn thấy chị ở trong lễ cưới của một ông già xa lạ mà sự ồn ào lặng lẽ đang rộn lên ở cuối ngõ. Con hẻm giờ đây trông giống như một dãy hành lang. Tôi thận trọng bước đi trên nền đất cứng, nghe dưới chân mình tiếng lạo xạo như đi trên đá dăm. Những bông hoa dại bé xíu mọc tối ở chân tường. Tôi giật mình khi thấy mình đã không thể nhớ nổi tên loài hoa đã từng yêu quí; lâu lắm rồi tôi không ngồi xuống trước một bóng hoa bé nhỏ nào. Những cái lốp xe chuyển động nhanh dần, áp sát vào tôi, như muốn đẩy tôi dạt sang một bên. Vừa khi ấy tôi thấy trên tường hành lang nẩy ra một cái cửa sổ lật bằng cót – cái cửa với bản lề lơ lửng trong không gian – và một cái đầu khô héo như sọ dừa nhô ra. Lão già gọi giật:

“Này. Lại đây.”

“Lão gọi tôi?” – Tôi hỏi, chôn chân tại chỗ.

“Không, nhưng cứ lại đây” – Lão nhìn tôi một lúc, rồi dường như thất vọng, lão cúi xuống dọn dẹp thứ gì đó trong bóng tôi, không chú ý gì đến tôi nữa. Chao ôi, sao tôi cảm thấy có điều gì thân thuộc quá. Tôi cố sức nói to lên:

“Này lão, chú ý cái cửa đi” – Tôi vừa dứt lời thì cái bản lề chui sâu vào bên trong tường và cánh cửa xập xuống, mất hút. Tôi cảm thấy những làn sóng sầu muộn mênh mang vỗ ào ạt bên tai. Tôi muốn nhào đến bức tường, đào bới nó, để mong cứu lấy một cái gì, cảm thấy một cái gì, dựa vào một cái gì. Nhưng tôi vẫn đứng đấy, cỏ hoa u tối mọc trong tim.

Cái cửa lật bằng cót lại nẩy ra; lần này lão già cẩn thận chống nó bằng một cây gậy trổ đầy những hình tục tĩu, trong đó có hình ảnh một thằng nhóc đang làm động tác hiếp một cái bụi rậm.

“Ông không chống được đâu, nó sẽ gãy đấy.” – Tôi nói.

“Sao mày biết” – Lão già nhìn tôi, nhíu mày nghi hoặc. Nhưng cái gậy gãy thật, lão bực tức tìm cách cột lại nó bằng một sợi tóc đen nhánh.

“Tôi biết chứ. Chuyện này là một kinh nghiệm của tôi. Ngày trước, khi bị rượt đuổi trong các giấc mơ, tôi không bao giờ bị bắt. Nhưng một ngày nọ, tôi tình cờ đọc được đoạn văn của Kerouac, trong đó ông ta miêu tả cảnh những tên chạy trốn luôn bị xích cổ lại trong mơ, tôi bỗng bị ám ảnh. Tối hôm đó tôi thực sự mơ một giấc mơ khủng khiếp: Một con rồng lửa ập đến, bay dọc theo con mương; bên phía chúng tôi thì có con rồng nhả nước. Nhưng ai cũng biết tình thế ấy, cái cách bầy sói săn mồi. Căn nhà lá đổ ụp xuống và tôi trốn chạy theo họ. Trong bóng tối căn phòng mà nguồn sáng duy nhất đến từ cánh cửa mở ra con đường trắng nhạt nhoà, một bà to béo ghi tên tôi vào danh sách. Tên của những người đằng nào thì cũng chết. Bà ghi tên anh ta trước, dùng ngón tay trỏ trông như dương vật chấm vào đống nước bã trầu rồi vạch cẩn thận lên mặt bàn. Không bao giờ bà ta ghi tên đầy đủ một ai, trừ tên tôi. “Q. Cái tên đẹp lắm” – Bà ta nói. Tôi bước ra khỏi cửa và ngoái cổ lại: “1975. Độc lập. Bà hãy nhớ lấy. 1975”. Tôi thoát khỏi trận càn bằng cách chạy trên con đường mà bầu trời dọc theo nó rất thấp, cả máy bay và rồng đều không vào được. Nhưng tôi vẫn thấy bất an, lúc nào cũng có cảm giác mình đang bị truy đuổi và kẻ thù đã tới rất gần. Đến một khúc quanh, nỗi lo lắng của tôi lên đến cực điểm, tôi tách khỏi đoàn người đang đi, nhảy lên một mỏm đá và tìm cách trèo ra khỏi con đường. Bầu trời thấp ngăn không cho tôi vượt qua, tôi bám trượt vào nó và ngã xuống. Khi ấy tôi mới nhận ra đoàn xe bọc thép của địch đã đuổi đến rất gần. Tôi hoảng hốt bỏ chạy nhưng đôi chân cứ díu lại với nhau, giống như một con chim ở trong cái cảm giác bất lực không thể bay lên. Một cánh tay giống như tay cần cẩu vươn ra từ chiếc xe và tóm chặt lấy tôi. Chúng rú lên thích thú rồi chọc những que sắt bỏng dài vô tận xuyên dọc theo cột sống của tôi. Tôi hiểu rằng mình đã bị trừng phạt …”

Chúng tôi im lặng một lúc lâu, rồi cuối cùng, lão già, không hiểu vì đã tin lời nói của tôi hay là vì quá chán nản với cây gậy lúc nào cũng gãy trong tay, ngập ngừng lên tiếng:

“Này”.

“Lão gọi tôi?” – Tôi hồi hộp hỏi.

“Phải, anh lại đây. Ta giải quyết làm sao với cái của nợ này bây giờ?”

Tôi dợm bước lại gần; lúc này tôi mới nhận ra đám hoa dại đã mọc lan ra giữa đường, những cái lốp xe vì thế mắc kẹt lại, ngừng chuyển động, đứng thẳng một cách kì quái ở mọi nơi trong ngõ. Tôi nhớ đến cánh đồng hoa muống trong đêm trăng, nhớ về T..

“Chúng?” – Tôi chỉ vào đám hoa rồi ngước mặt lên.

“Anh đừng có để ý”.

“Ta không thể cứ giải quyết mọi việc bằng cách coi như không có gì cả được”. – Tôi cảm thấy mình đang nổi cáu.

“Ấy thế mà vẫn được đấy. Nhưng bây giờ không phải lúc dành cho những thành kiến. Anh đang cần phải giúp tôi, mà anh không thể qua đây nếu cứ đứng đấy mà thắc mắc về hoa hiếc”.

“Tôi mặc xác cái gậy chó chết của ông” – Tôi lẩm bẩm và đạp lên chúng, lên những bông hoa dại. Lão già đắc ý phá lên cười sằng sặc.

“Nhanh lên, nhanh lên, rồi tôi sẽ nói cho anh nghe. Tôi biết tất cả mọi thứ trên đời, trừ ra cách sử dụng cái gậy này. Cái gậy của anh”.

“Không phải của tôi”.

“Dù sao thì anh cũng biết đích xác nó là của ai. Đây, anh cột nó lại giúp tôi”. Lão chìa cây gậy ra. Tôi nắm phải một cái mông chổng lên của một mụ già được chạm nổi. Mụ đang làm tình với Phổ Hiền bồ tát. Đúng là phong cách của Moricand. Tôi giúp lão già chống lại cái cửa, nhanh chóng đến mức khiến lão phải xuýt xoa:

“Gì đây, gì đây, phải dùng tóc anh mới được hả? Tóc tôi thế này lại không được; cũng đen nhánh, cũng chắc hơn thừng bện. Như thế là ra làm sao?”

“Nhầy nhụa vậy” – Tôi cáu – “Ông phải cứa vào, phải găm vào nó, hiểu không? Tôi mà quá tay là đã đứt cái cọc khốn kiếp này rồi. Ông nhìn đây” – Tôi xoè hai bàn tay ra cho lão nhìn.

“Cái gì?” – Lão già hỏi.

“Nhìn đây này” – Tôi chùi thật lực cả hai tay vào ống quần – “Tởm quá. Ông nên tặng cái cọc này cho mấy con thỏ. Nào, giờ thì ông hãy nói cho tôi nghe những điều ông định nói với tôi”.

“Khoan” – Lão già vẫn chăm chú nhìn bàn tay tôi – “Bàn tay cậu có cái gì đấy hơi lạ. Hình như mỗi ngón tay đều có bốn đốt thì phải và tại sao nó cứ sáng rực lên như vậy?”.

“Ông chỉ thấy hơi lạ thôi ư?” – Tôi cười – “Thực ra có lẽ vì thế mà ông là người đầu tiên nhận ra sự khác lạ ấy ở bàn tay tôi. Thông thường cái thực sự khác biệt ở người bên cạnh, giúp phân biệt ta với họ, lại không bao giờ được nhận ra một cách đúng đắn, hay chính xác hơn, là không bao giờ được biết. Đấy là vì người ta luôn muốn mình khác người ở những cái không là họ, hơn người ở cái là họ. Con người thật kì quái”.

“Tôi chỉ thắc mắc về bàn tay cậu. Cái gì muốn sáng được đều cần phải có máu”.

“Có lẽ thế thật” – Tôi nói.

Tôi im lặng. Ở cuối hành lang vẳng lại những tiếng cười nói êm đềm, giống như những cụm bông đang lăn. Tôi lại cảm nhận thấy sự quen thuộc dịu dàng của quê hương, nơi có thời tôi xiết bao ghê tởm. Tôi đặt bàn tay phải lên ngực trái của mình.

“Này ông, tôi đang đi tìm chị gái tôi. Chị ấy tên là Uyên, ông biết chứ?”.

“Không”

“Khi nãy ông nói là ông biết tất cả mọi chuyện cơ mà” – Tôi thấy mình nhào người qua ô cửa, đột ngột và có vẻ cáu giận đến mức làm lão già phải lùi lại mấy bước – “Cái đám đông ồn ào đằng kia là nghĩa làm sao?”

“Anh làm hỏng hết bánh trái của tôi rồi” – Lão già kêu lên, cái miệng lão méo xệch như muốn khóc. Tôi nhìn xuống, thấy tay mình đang đè lên những cái bánh tẻ, làm chúng nát bét. Ở những kẽ ngón tay tôi mọc lên những que hương đỏ rực và nhức nhối. Tôi nổi giận, gạt tất cả những thứ trên mặt bàn xuống đất. Tàn hương tung toé trong bóng tối, tôi dường như nhìn thấy máu.

“Quỷ tha ma bắt bánh trái của ông đi” – Tôi nói, lòng dịu đi, cảm thấy mình thật ngu ngốc – “Tôi sẽ đền, tôi sẽ đền tất. Giờ ông nói tôi hay, ông biết được những gì? Chị tôi đang ở đâu?”

Lão già co rúm người lại, ngước nhìn tôi bằng đôi mắt chỉ toàn lòng đen trong cái hốc to đùng. Tôi cảm tưởng lão đang lấy đà để lao vào tôi. Mà đúng thế thật, tôi chưa kịp đu người trở lại thì đã thấy gương mặt Quỉ ấy dí sát vào mặt tôi. Lão cười nhăn nhở.

“Đúng thế, cậu phải đền cho tôi. Và phải đền thay cho anh cậu nữa, cậu ta hứa trả nợ tôi đã hơn 20 năm rồi. Cậu phải bù đắp cho sự chờ đợi của tôi, hi vọng của tôi, nỗi tuyệt vọng của tôi và cả tình cảnh của tôi bây giờ. Tôi muốn lấy máu của cậu”.

Tôi nhoài người xuống, nhìn ra con đường hẹp đi về cuối hành lang. Hoa trắng mọc đầy như rắc muối. Tôi đếm được 12 cái thùng rác, hình dung ra một gia đình đầm ấm bị bỏ rơi đã chọn nơi đây làm nơi trú ngụ. Họ ngủ trong rác rưởi, giữa thảm hoa hữu tình và ánh trăng. Những đứa trẻ hít thở mùi của mẹ chúng, người đàn bà hít thở mùi của người đàn ông, còn người đàn ông, anh ta không nghĩ đến một điều gì. Anh ta muốn bảo vệ họ.

Tôi cảm thấy lạnh.

“Tôi không có máu” – Tôi nói, buông thả ánh nhìn cho những vạt hoa êm ả rung rinh. Tôi không dám nhìn xuống chân mình.

“À” – lão già nhếch mép.

“Tôi không có cái thứ mà ông gọi là máu. Tôi không biết anh tôi nợ ông những gì, nhưng nếu anh ấy thực sự không trả ông sau ngần ấy năm thì tôi tin anh ấy luôn nhớ về cái cảm giác mang nợ ấy của mình. Anh ấy không trả ông vì tin vào một thứ cảm nhận hợp lý, anh ấy mãn nguyện với điều đó”.

“Cậu ta chỉ nhắn lại rằng cậu ta biết ơn tôi”.

“Điều ấy đúng. Ngay cả tôi cũng thấy mình mang ơn ông” – Tôi nói – “Nhưng nhắc đến điều ấy ở đây thật là kệch cỡm, vì biết ơn là thứ tình cảm sinh ra, tái sinh và sâu nặng nhất của con người, mà bây giờ tôi lại chỉ cảm thấy ngứa hậu môn khi nghĩ tới điều đó”.

Tôi biết mình đang nói dối. Tôi cảm nhận thấy rõ ràng cái nỗi buồn dịu nhẹ đang dập dờn như lá nhỏ trong tim. Cái nỗi buồn tôi quên không đánh số. Ai mà nhớ hết nổi những con số ở trên đời?

 

 

*

 

 

Tôi thấy T. ngồi trầm ngâm trên một cành cây gạo rất cao. Hoa đỏ rơi xuống giống như mưa máu. Tôi trèo lên một quả núi gần đấy, leo ra ngoài vỉa đá vôi để lại gần anh. Hoa gạo rơi vào mắt tôi. Bỗng dưng tôi cảm thấy chân tay mình luống cuống như không thể kiểm soát. Tôi sợ mình rơi xuống đất mất.

“Này, ở đâu ra đây thế?” – Anh hỏi, lúc lắc đầu nhìn tôi một cách ngộ nghĩnh. Mấy kẻ trầm tư thường đều dễ thương như vậy – “Sao? Sợ ngã hả? Thủ dâm đi. Thủ dâm chứ không phải đái. Một tay bám chặt vào cái mỏm kia. Thế. Anh đã từng gặp phải trường hợp này rồi. Thế nào? Ổn rồi chứ?”.

“Không được” – Tôi nói, mặt tái đi vì ngượng.

“Sao mà không được?” – Anh nhìn tôi tò mò – “Tưởng tượng ra cái âm hộ, chú biết cái đó chứ? Cái lỗ có mùi, trong đấy đặt một con rắn hổ mèo, khi chú cho cái ấy của chú vào, nó sẽ ngoạm lấy chú và chú sẽ sướng tê đi. Chú phải làm được, nếu không sau này chú sẽ thất bại khi hẹn hò với phụ nữ. Khi ấy mình sẽ bất chấp, chú hiểu không, bất chấp.”

“Em không thích làm việc này”.

“Không ai thích thủ dâm cả. Cũng không ai thích được làm việc gì hết, chúng ta chỉ buộc phải làm. Khi không có việc gì thì thủ dâm là cách thư giãn tốt nhất. Chú làm đi, chứ không ngã lộn cổ bây giờ”.

Tôi làm theo lời T., được một lúc thì xuất tinh.

“Thế nào?” – Anh hỏi.

“Chỉ muốn chết quách cho rồi”.

Anh trố mắt nhìn tôi, dường như anh ngạc nhiên với câu trả lời của tôi lắm. Nhưng tôi thấy anh không thể nào xa lạ với cảm giác đó, anh chỉ không hiểu được những người nào giống mình.

“Anh ngồi làm gì ở đây thế?” – Tôi hỏi.

“À, đây là cây gạo duy nhất trong vùng này không có tổ quạ nào cả” – Anh cười nhìn tôi, rồi ngập ngừng một chút, anh nói – “Nếu như sống trong một thế giới được dựng nên bởi những nét phác họa, anh muốn mình là một nét bút mãnh liệt. Còn nếu phải sống trong một thế giới mà tính từ được đề cao, anh không muốn mình có một cuộc đời cay cực. Vì thế mà anh ngồi ở đây”.

“Em hoàn toàn không hiểu”.

“Em đã nghe câu chuyện về con quạ của gã thần chết ở lớp học cũ chưa?” – T. hỏi, anh mím môi lại.

“Chưa” – Tôi nói – “Nhưng lớp học cũ là lớp nào?”

“Cái này” – T. liếc mắt nhìn tôi, anh có vẻ lưỡng lự. Giả vờ giỏi thật – “Theo anh được biết, nó giống như một thứ khái niệm hay một lý thuyết. Nó là thế giới phụ thuộc vào sự tồn tại của chính phủ và chỉ có lệnh của chính phủ mới cho chúng ta cái khả năng đột nhập vào đó. Anh được nghe kể là lớp học cũ được sinh ra bắt đầu từ một nhận xét đơn giản: một cái gì đấy luôn là cũ theo một nghĩa nào đó với một ai đấy. Nếu đúng là như vậy thì có khả năng tồn tại nhiều lớp học cũ và cái lớp học có liên hệ chi phối và bị chi phối với chính phủ chỉ đơn thuần là một cách định nghĩa. Nó nói rằng tồn tại một nơi lưu trú cho những con người muốn đào thoát khỏi sự hỗn loạn, ở đó họ không có bất cứ liên hệ nào nữa với hư vô, ám ảnh cũ mòn và sự nhàm chán. Dễ hiểu hơn, đấy là nơi yên bình thuần tuý và cuộc sống trật tự kì lạ. Anh chưa từng đến đó nên chỉ coi lời kể lại giống như nghe một câu chuyện. Tất nhiên một khái niệm thì sẽ luôn tồn tại, nhưng quả thực anh không tài nào hình dung được ra mình ở đó. Có lẽ vì thế mà anh sẽ không bao giờ có thể đến đấy được ”.

Tôi bỗng sực nhớ ra một điều gì bèn cuống quít hỏi:

“Anh này, anh đã nhìn thấy một cánh cửa lắc đầu bao giờ chưa?”

“Chưa, nhưng sao?” – T. có vẻ hơi ngạc nhiên.

“Em không nhớ ai đó đã nói với em rằng, nếu em nhìn thấy những con nhái ngồi trên bông hoa gạo màu máu đang rơi thì tức là khi ấy một cánh cửa đang lắc đầu với em” – Tôi chỉ tay cho T. nhìn thấy những con nhái xanh rớt như mặt nước ao loang bèo tấm đậu trên những bông gạo đang rụng – “Chúng đang nhìn anh đấy, nhưng em chẳng thấy quanh đây có cánh cửa nào”.

“Một cánh cửa lắc đầu nghĩa là nó sẽ đóng hoặc mở một cái gì đó. Nhưng này” – T. kêu lên khe khẽ – “Nhưng kia có phải là nhái đâu, đấy là những con cóc đấy chứ. Và không phải chúng đang nhìn anh mà là nhìn em”.

Tôi dụi mắt và lần này tôi nhìn thấy rõ ràng những đôi mắt đỏ độc ác của lũ chuột đang chễm chệ trên những bông gạo. Chúng giễu cợt tôi! Giễu cợt tôi!

“Chú làm sao thế? Lại sợ ngã à? – T. hỏi, anh ta cười thích thú.

“Không. À anh, Caddy của em mất tích đã được hơn 4 năm rồi. Đêm hôm ấy có mặt trăng rằm và một đàn vạc bay qua, em nhìn vào nôi thì chẳng thấy Caddy đâu nữa. Có thể nào nó bị bắt đến cái thể giới lớp học cũ đấy của anh không?”

“Caddy à? Caddy là ai?”

“Em gái em”.

“Không phải. Nếu Caddy chỉ riêng là em gái chú thì ngày hôm ấy, người biến mất phải là chú chứ không phải cô bé đó”.

“Sao anh khẳng định như vậy?”.

“Đơn giản lắm. Một cô bé ở tuổi đấy sẽ không bao giờ nhìn ra cái thế giới cũ kĩ rỉ sét ở xung quanh mình, cái thế giới đã đánh mất đi sự ngạc nhiên thuần khiết trong nó, cái thế giới mà người ta chỉ giả vờ ngạc nhiên, giả vờ giật mình và thích thú khi được giật mình. Một cô bé như thế sẽ không bao giờ vào được lớp học cũ, dù chính phủ có ép buộc cô ấy đi chăng nữa. Anh nghĩ rằng Caddy có liên quan đến một cái gì đó cũ kĩ ở trong chú, đấy là lí do duy nhất có thể khiến cô bé biến mất.”

“Nhưng dù đúng thế thì Caddy vẫn là em gái em chứ”.

“Anh không cho là như thế” – T. nói – “Dù thực tế có vậy thì vẫn là không phải. Anh không làm sao có thể diễn giải được suy nghĩ của mình, vì nó quá hiển nhiên. Em cũng biết thế giới này mà, trong nó thì sự rõ ràng bao giờ cũng khó giải thích hơn sự mập mờ”.

“Vậy thì Caddy là gì của em?”

“Anh không biết, vì anh không hiểu cái gì là cũ rỉ nhất ở trong chú. Nhưng anh thích chú hỏi, Caddy là thế nào đối với em, hơn là cái câu vừa rồi. Em biết không, chính sự sở hữu khiến chúng ta đau đớn”.

“Được rồi, được rồi” – Tôi gắt – “Ý anh muốn nói em nên nhìn lại trách nhiệm của mình trong việc Caddy đột nhiên mất tích. Nó phải đến ở trong lớp học cũ vì có liên hệ đến những thứ mờ ảo nào đó mà em phải cố gắng khổ sở để ngạc nhiên mà không được? Nhưng này T., điều em muốn biết là Caddy, Caddy, nó có thực sự tự nguyện biến mất hay không? Vì như thế tức là nó đã giết em … đã định giết em”.

“Không” – T. mỉm cười nhìn tôi. Dịu dàng đến tởm – “Chính em đã xua đuổi cô bé. Theo anh nghĩ, đó không phải là cách để em thách thức cái chết, có một điều gì đó rất sâu xa mà anh biết mình không thể nào hiểu được, hay thậm chí tưởng tượng ra được. Q. này, em quả thật là một cậu bé kì lạ”.

Tôi thở dài. T. không hiểu rằng mấy năm nay tôi đã từ bỏ mọi thứ, kể cả cảm xúc, để đi tìm Caddy. Tôi tìm em ngay cả khi tôi biết em vẫn đang ở bên cạnh tôi. Và giờ đây, trong biết bao mối quan hệ thân thuộc với cõi đời, tỗi vẫn chỉ thấy duy nhất rằng Caddy, trong sự vắng mặt và im lặng của mình, ở bên tôi và vĩnh viễn ở bên tôi.

“Thôi, giờ trở lại câu chuyện về con quạ của anh đi” – Tôi nói – “Nó và gã thần chết, ở lớp học cũ. Rồi sao nữa. Chuyện ấy có liên quan gì đến cây gạo và thế giới phác hoạ của anh?”

T. nhìn tôi, toét miệng cười. Rồi anh nhắm mắt lại, lắc lư người theo một điệu nhạc tưởng tượng.

 

“Tôi là một kẻ trầm tư” – Anh hát –

Một kẻ trầm tư

Một nét bút

Trong thế giới lộn nhào và nhiều màu sắc

Tôi chỉ muốn là trắng hoặc đen

Như thế, tôi không thể trở thành cột đèn

Biển báo

Xua người ta nháo nhào hay dừng lại

Không tham gia giao thông với đời

Tôi chỉ là một nét bút vậy thôi.

 

“Này. Bổ ngửa ra bây giờ” – Tôi quát. Cũng muốn anh ta lộn cổ xuống thật – “Hay là anh cũng muốn thủ dâm. Kể đi. Tôi muốn nghe về những con quạ. Mà tại sao lại không phải là một con vạc nhỉ?”

T. ngừng hát, anh ta lôi từ túi áo ngực ra một tờ giấy vàng úa, trông như một cái lá khô. “Đọc đi” – T. dịch người trên cành cây rồi đưa nó cho tôi – “Anh đã hình dung và vẽ ra nó, như thế có nghĩa là nó tồn tại”.

Tôi nhìn mẩu giấy, đó là bức tranh có tên: Cuộc đối thoại giữa thần chết và bạn đồng hành của y, con quạ Kirii. Tranh vẽ một cái cây trụi lá trên nền xanh thẫm. Một bộ xương người vác lưỡi hái đứng một chân trên ngọn cây và ở phía đằng xa có một vệt đen đang lớn dần. Chắc đấy là con quạ. Tôi nhìn mẩu giấy thêm một lúc thì thấy con quạ bay đến gần, vỗ cánh phân vân một chút rồi đậu lên vai bộ xương. Tôi nghe thấy chúng trò chuyện với nhau:

“Tình bạn của chúng ta đã thay đổi, Djami ạ. Trước đây cãi lộn với mày tao thấy rất hào hứng, nhưng giờ thì không. Tao như bị ép buộc phải nói. Tao thấy rất mệt mỏi.”

“Tất cả ở đây đều mệt mỏi. Nếu như không thể chịu đựng được nữa, mày có thể xin nghỉ việc.”

“Ở đây u ám quá. Tao lại không thích cú mèo cho lắm”.

“Đấy là con cú lợn”.

“Sao cũng được cả, mấy giờ nó về chuồng?”

“Bất cứ khi nào nó cảm thấy đói. Mà đó là cái đầu hồi”.

.

.

.

“Tao nhắc lại, mày có thể xin nghỉ việc”.

Tôi có thể cảm nhận thấy cơn giận của Kirri. Nó nghĩ: “Djami ngu đến mức không hiểu rằng tất cả những con quạ đều sợ không tìm được cành cây nào đó để đậu khi đau đầu. Mình đâu phải con người – những kẻ không bao giờ dám dừng lại. Cái không khí u ám này sao quá yên bình”.

“Ngày trước tao luôn đầu trên đầu mày, bây giờ chỉ dám đậu trên vai. Ánh mắt mày đã thay đổi”.

“Ở đây có nhiều người chết quá, tao không được ngủ và không ngủ được”.

“Vì thế mà tao đến đây?”

“Đúng vậy. Mày là con quạ duy nhất đánh vần đúng từ never more”.

“Đấy là trước kia. Giờ tao kêu

 

                                        Kirii

                                        kirii …iii … iii

                                        kii .. ii

                                                    riiirii …”

“Kiri kiri”

“Ò ó o … ò ó o … ò ó o … o o o … o o o …”

“Này. Quạ không kêu như vậy.”

“Có ai nghe thấy đâu”.

“Mày đâu phải người”.

“Đừng có chơi trò nguy hiểm”.

“Mày không thích đùa chút nào cả”.

“Tao không thanh minh. Đùa ở đây không phải là một việc tốt”.

“Chúng ta không làm việc tốt”.

.

.

.

 

“Mày rất giống con người, Kirii ạ. Mày đã làm việc ở đâu?”

“Việt Nam”.

“Chúng ta đang ở Việt Nam”.

.

.

.   

 

Tôi vo tròn mảnh giấy trả xuống chân núi, không buồn nhìn theo.

“Chú mày làm cái quái gì thế?” – T. la lên, như thể tôi đã quẳng đi cái dùi của anh ta. Cho chừa đi cái trò tự ám thị.

“Những tưởng tượng thô thiển” – Tôi nói – “Em biết đây là trò đùa của anh, chẳng có bất cứ mối liên hệ nào giữa bức tranh vụng về ấy với việc anh ngồi như một con lười ở đây cả. Anh đang chờ em tết lại những hình ảnh và cho chúng một ý nghĩa. Anh luôn ám thị rằng tồn tại những ý nghĩa sâu sắc liên hệ giữa những mảnh vụn hỗn độn, vô mục đích của cuộc đời anh với một bí ẩn thuần tuý nào đó. Anh là kẻ đi sưu tập những hình ảnh. Anh không hề giống một nét bút”.

T. cứ nhìn hút theo cục giấy đã biến mất trong đám hoa máu ào ạt, rồi bắt đầu cười khùng khục trong cổ họng như một thằng điên, không thèm ngẩng đầu lên.

“Khục, khục. Chú mày nói đúng quá. Thực ra anh ngồi một mình trên cây gạo này để làm gì? Chú nhìn xem, một cái cây thật tuyệt, không một chiếc lá, hoa rụng không ngớt, mà cái cành anh đang ngồi đây mới cao làm sao. Treo cổ ở đây thì thật thú! Mà lại không có con quạ nào! Có gì tức cho bằng một kẻ đã điếc tai, đã phải chịu đủ mọi phiền toái trong cuộc sinh tồn mà đến lúc chết vẫn bị làm phiền bởi những tiếng kêu chói óc?”

“Cái gì mà thế giới phác hoạ, cái gì mà nét bút chứ. Nhảm tất. Con người ta chỉ muốn làm độc có một điều này thôi: đâm chết đi người mình yêu thương. Cắt cổ nữa thì càng thú. Này nhé, chú sẽ làm gì nếu con vợ mà chú đinh ninh là người ấy lại thích đi làm tình với cóc? Ối, tởm bỏ mẹ. Nhưng anh không hề muốn nhớ tới chuyện này, vì thế anh lại trèo lên đây ngồi. Ông cụ già Osho có nói: cũng nên để mọi thứ chìm đi, cũng cần một bóng tối. Anh thấy như thế là rất phải”.

Dứt lời, cả thân hình to tướng của T. trở nên mềm nhũn, ủ rũ như một cây rau héo. Anh ngồi im một lúc rồi thở hắt ra.

“Khi anh túm cổ được thằng cha đó, lúc hắn đang đè lên vợ anh, hắn đã chẳng thèm chống cự. Trong cái lúc mà anh cảm tưởng có thể giết hắn được, thì hắn cứ bình thản đứng truồng trước mặt anh, bình thản đeo kính mắt, bình thản nhìn vào mắt anh rồi từ tốn nói: “Này anh, không được đánh một người đeo kính”. Chú có tin không, anh đã đứng đực mặt ra đấy, mặt thộn như ngỗng ỉa. Anh chẳng biết phải làm gì. Anh chẳng còn hiểu được ra làm sao nữa”.

“Có người nói, anh đủ chiều cao để khi muốn tự tử chỉ việc treo cổ lên cánh tay. Có hoạ rồ. Anh không bao giờ muốn chết bằng cách treo cổ, ở một cái cây cao như tháp Babel này lại càng không. Dây dài một chút là đứt cổ như chơi; cái chết sẽ đến nhanh như sự lãng quên. Chú hãy tưởng tượng xem, có gì của cuộc đời con người còn ý nghĩa khi y mất trí và sắp chết; có gì khủng khiếp hơn cái tình cảnh hiểm nghèo mà ai đó đột nhiên lãng quên tất cả? Cái chết đột ngột ấy có khác gì cái chết của một con chó, hay một cái cây bị đốt cháy thành than? Nhân đạo nhất khi muốn giết một con người là hãy đóng đinh y lên cây thập giá, giống như cách người ta đã làm với đấng Jesus. Hãy để y chết dần chết mòn! Anh luôn ao ước điều đó, được đóng đinh lên đĩa mặt trăng và khô héo dần khi trăng khuyết. Nhưng đang tiếc, điều đó lại không xảy đến với anh và anh sẽ treo cổ lên cái cây này để mỉa mai chính số phận của mình. Chú biết không, có một điều mà thế gian này luôn luôn nhầm lẫn, họ nói rằng ta không lựa chọn được việc ra đời mà chỉ lựa chọn được cách chết. Thực ra nói ngược lại mới phải, mọi cái cách ta lựa chọn để chết đều chỉ là một sự chấp nhận, một nỗi cam chịu”.

Tôi nhìn T., rồi cúi xuống như muốn tìm kiếm lại mảnh giấy trong dòng thác hoa vẫn đổ. Tôi tự hỏi rằng liệu đây có đích thực là những điều T. muốn nói? Hay anh ta chỉ đơn thuần đi tìm lại cái gọi là “nỗi đau khổ trần thế” của mình, và giờ thì anh ta đang tin rằng anh ta thực sự vương vấn vào cái nỗi đau như thế? Anh ta sợ mình rơi ra khỏi con người nếu không cảm nhận được những khổ đau nhạt nhẽo của họ? Anh ta đang học. Học để chết.

“Cái điều hiển nhiên xót xa nhất mà tao từng nhận ra: có những vô cảm trôi đi mà ta không cảm nhận được” – J. nói. Xót xa hơn là cái điều hiển nhiên ấy đang được nhận ra. Tôi thấy đau với sự vô cảm của mình.

 

 

*

 

 

Gió thổi dọc theo hành lang, cuốn đám vải bạt dập dềnh. Tôi ước sao được lăn mình giữa vạt hoa, chìm đắm trong thứ ánh sáng tang tóc của đêm trăng. Ánh sáng ấy sẽ tụ lại, ôm lấy tôi, bảo vệ tôi không bị hút vào bóng đêm ẩn nấp trong không gian; che chở tôi trước những lời đe doạ của trỗi dậy trần tục luôn thì thầm bên tai. Tôi thấy mình đang chơi trò dẵm bóng trên những cái nắp cống bập bênh; những cái đầu người chết mở mắt trừng trừng, ngắm nhìn bầu trời xanh qua kẽ hở hình oval. Tôi nhìn xuống đôi mắt ấy. Một thằng nhóc ngồi cạnh đó đang cẩn thận đập vỡ những cái bóng đèn compact mà nó lượm được. Tôi hiểu nó đang muốn lấy cái đui, hiểu nó dùng cái đui để làm gì, nhưng tôi vẫn không thể nào hiểu được cái việc mà nó đang làm. Tôi thấy mình lạc lõng trước trẻ thơ. Tôi bước vội xuống những cái bóng sáng trên đường; cống rãnh như mỉa mai. Nhìn những con phố đường đỏ đường vàng, dãy đèn cao áp cuộn thành con rồng yên lặng; tôi chỉ muốn quay trở lại, ngã mình xuống cống, vục mặt xuống bùn, đấm xuống mặt nước cho tung toé lên trời đất. Nhưng rồi tôi vẫn đứng đấy, ngơ ngác như con nai giữa rừng thu, lẩm nhảm hoài những lời anh J. đã nói “Cứ đi đi, phía trước thế nào cũng là con đường”.

“Cậu nói biết ơn tôi?” – Lão già hỏi, nhẹ nhàng hơn trước câu nói của tôi, mà có lẽ đã khiến lão không hiểu.

“Phải, tôi biết ơn lão” – Tôi nói – “Tôi biết ơn tất cả những gì trở lại với tôi lần thứ hai trong đời. Tôi được sinh ra từ một sự mang ơn như thế trong kí ức của mình. Nhưng tất cả những người gia ơn cho tôi lại không có ai hiểu được điều này, hơn thế nữa, họ không hề coi trọng nó. Tất cả những ơn huệ vô tư đều chỉ khiến những người mang ơn đau khổ vì họ không thể nào thoát được ra khỏi nó”.

“Nghĩa là bị trói buộc trong cảm giác tái sinh từ đấy?”

“Không phải tái sinh mà là sinh ra. Chính vì thế đã có kẻ nói với tôi rằng, chúng ta luôn lựa chọn được cách ra đời của mình. Đấy chính là lúc chúng ta thụ ân một ai hay một điều gì đó”.

Lão già cúi xuống nhìn đôi bàn tay của mình. Có những người luôn phải nhìn vào đôi bàn tay mỗi khi cần trả lời một câu hỏi nào đó mà y tự đặt ra. Lão cúi đầu lâu đến mức tôi tưởng là lão đang khóc, nhưng khi lão ngẩng đầu lên tôi chỉ thấy một đôi mắt màu hồng ráo hoảnh.

“Tôi hiểu nỗi khổ tâm của cậu” – Lão nói – “Nhưng tôi biết rằng cậu cũng chỉ đang đi trên con đường cảm nhận lấy nó. Cậu muốn nhận thấy những nỗi đau lớn nhất sinh ra từ không gì cả; cậu muốn có được những niềm vui tinh ròng khi vượt qua nó. Cậu muốn …”.

“Ông không hiểu” – Tôi ngắt lời – “Tôi chỉ đang muốn rằng ông hãy nói cho tôi những điều mà ông biết. Nếu ông không nói, tức là ông đã định cắt bỏ một phần thế giới của tôi. Mà đấy luôn là một hành động vô ích và vô nghĩa. Ông sẽ thấy day dứt vì điều đó”.

“Nhưng cậu thừa hiểu” – Lão nói – “Cậu thừa hiểu, tình thế này của cậu đâu khác gì Ivan nói chuyện với Quỉ, một cảnh nhạt nhẽo quá thừa. Cậu muốn tôi nói ra những điều cậu sẽ tưởng tượng và có khả năng tưởng tượng thấy? Hay cậu muốn tôi nói ra cái mà cậu thực sự đã biết?”

“Ông nói đúng” – Tôi nói – “Trong thời đại này thì quỉ dữ chính là kẻ đang giao tiếp với ta; ngay cả khi ta đang nói chuyện với một con mèo thì con mèo ấy cũng chính là Quỉ. Đó là thế giới mà chúng ta phải chấp nhận. Nhưng vấn đề tôi muốn nói ở đây, là trong mọi cuộc nói chuyện với Quỉ, ý nghĩa chỉ xuất hiện trong lời nói. Còn trí tưởng tượng? Nó cũng chỉ giống như tư duy và ngôn ngữ, khi chúng ta đặt ra một từ nào là đã mặc nhiên công nhận nghĩa của từ đó, cho dù nghĩa ấy có dao động. Bất cứ cái gì tồn tại cũng đều là một sự tự hạn chế. Nhưng lời thì khác, nó là của thượng đế, nó chứa đựng ý nghĩa, chứa đựng bí mật, chứa đựng tất cả. Nó không tồn tại. Giờ thì tôi tin ông đã thấy thoải mái để nói cho tôi những điều ông biết”.

Tôi đang chờ đợi điều gì? Tại sao tôi phải hối thúc ông ta như vậy? Để ông thay tôi nói lên những điều mà tôi không dám nghĩ? Hay để tôi cự tuyệt nhận định của anh J., chui sâu mãi vào trong giấc mơ, ngủ quên trong mơ, chết trong mơ? Tôi thấy mình đứng trong một trái bóng bay lượn giữa tầng mây, ánh mặt trời gay gắt làm tôi mất dần tri giác. Tôi nằm cuộn tròn lại, bồng bềnh trong cảm giác tan chảy và phiêu du. Tôi bay trên vạn vật; tôi không hề đứng lại. Nhưng rồi một cái mỏ chim gõ vào mũi làm tôi thức giấc. Một con vạc! Nó chui vào cái bóng bóng, cặp lấy gáy tôi rồi mang tôi trở lại mặt đất. Tôi thấy mình dạo bước trong một thành phố xa lạ của người Hồi. Gương mặt họ quay về cùng một phương và theo phương ngược lại, những Phật tử đang bước đi trong ánh sáng. Tôi dừng lại, và như mọi khi, tôi dừng lại rất lâu trên đường đi. Tôi ngắm nhìn tôi bất động, cổ quay về mọi con đường, chờ đợi mọi con đường. Tôi mỉm cười; đôi mắt tôi mờ đi.

“Đây là đường về nhà cậu” – Lão già nói – “Cái đám đông ồn ào kia là đám tang mẹ cậu và bây giờ cậu định trốn khỏi nơi này”.

“Đường về nhà tôi ư?” – Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng khi nhìn lại tất cả những gì trải ra trước mắt, tôi biết lão già này nói đúng. Tôi nhắm mắt lại, cố gắng cảm nhận hơi ấm đang tràn vào đôi chân từ con đường quen thuộc. Nhưng, anh J. nói, khi những người thân yêu không còn nữa, đâu có nơi nào xa lạ hơn quê hương. Tôi chỉ còn muốn thả xuống nơi đây một sự tàn diệt “Lại còn đám tang mẹ tôi nữa? Mẹ tôi thắt cổ chết và người ta đâu có làm ma cho bà. Ông biết không, khi đưa mẹ tôi ra đồng, thay vì thuê mấy con mụ già ngoáy gậy, bố tôi lại cho gọi một đám đầu đường xó chợ đọc ông ổng lên mấy bài thơ tình, trong đấy có cả những bài dân ca Hàn quốc. Bố tôi đã rất vui khi kể cho hai anh em tôi nghe chuyện này, ông nói đó mới là thứ mẹ tôi thực sự muốn nghe nhưng tiếc là bà đã chết rồi. Ông nói với anh J. là ông cũng không tin chuyện là một bà già lại có thể tự tử nhưng tôi nói với ông là thời đại này không hiếm gì chuyện một con chó phải tự cắn lưỡi vì cô độc. Ông có biết điều gì làm tôi thấy mẹ tôi khác biệt với những mụ già khác không? Đấy là tôi đã không cảm thấy quá ghê tởm bà. Đến một ngày nào đó, khi những người con trai bất chợt nhớ đến mẹ của mình, khi ấy họ sẽ hiểu tôi nói gì”.

Lão già im lặng, trên đôi mắt lạ lùng của lão bỗng dưng chứa đầy nỗi xót xa. Tôi khó chịu xua tay.

“Tôi đang đi tìm chị gái tôi. Tôi biết chị ấy đang ở lẫn trong đám đông ở cuối hành lang kia, điều ấy thật nguy hiểm. Đó là một đám cưới, ông biết vậy phải không? Nhưng ông già xa lạ kia là ai, tại sao ông ta lại tổ chức cưới hỏi ở nhà tôi?”.

“Sao cậu không tự mình bước tới đó”.

“Tôi không biết đường”.

“Không – biết – đường?”.

“Quả vậy” – Tôi thấy mình bối rối – “Tôi biết rằng nhà của tôi đang ở ngay kia, điểm cuối của con đường mọc hoa, nhưng tôi vẫn cảm thấy không thể nào tới đó được nếu tự ý bước đi một mình. Không, tôi cảm thấy chắc chắn mình sẽ lạc đường, sẽ bị lạc ngay trên đoạn đường thẳng ấy. Tôi không hiểu tại sao … Tôi muốn ông đi cùng tôi”.

“Tôi không rời quán nước của mình đã 18 năm nay” – Lão già nói –“Tôi sống đến giờ phút này và tôi biết đây là thiên đường dành cho riêng tôi, mọi thứ bên ngoài đều là địa ngục. Cậu cũng biết Sisyphe đã không hề hạnh phúc, ông ta chỉ ở trong cái trạng thái nửa thức nửa tỉnh, trạng thái của hiện hữu đích thực. Giống như một kẻ điên, cậu thấy không. Ta có thể thấy y tồn tại nhưng không chắc y đã thấy ta tồn tại. Sisyphe ở thiên đường, đấy chính là sự nhàm chán cuối cùng. Tôi không có bất cứ một động lực nào để rời bỏ nó cả. Nhưng nếu cậu đã nói thế, tôi sẵn lòng chỉ đường cho cậu”.

Tôi im lặng, rồi tôi thấy mình nhắm mắt lại, đôi bàn tay nắm chặt đưa ra phía trước.

“Tôi mua cho ông một thẻ hương”

“Cám ơn cậu” – Lão già nói, giọng nhẹ nhõm như thể lão đã nghe thấy một lời gì đó có thể khiến một cái gì đấy quay trở lại. Có thể lão cảm thấy đang được vớt vát – “Cậu tốt quá. Chưa bao giờ bố cậu mua một cái gì cho tôi cả”.

“Ông đừng nói vậy. Đây là của bố tối” – Tôi thả thêm một đồng xu nữa xuống mặt bàn – “Giờ tôi phải đi đây. Hãy luôn chống cái cửa sổ của mình cho tốt.”

“Cậu đi à?”.

“À không?” – Tôi cười – “Tôi hiểu ý ông. Không phải tôi đi, mà là tôi về. Tôi về nhà của mình.”

“Còn một điều nữa, có lẽ cậu cũng đã hiểu: khi cậu kêu cứu và có một bàn tay nào đó chìa ra cho cậu thì tốt nhất là nên gạt phắt nó đi. Tôi mong cậu có thêm nhiều sự vượt qua.”

“Tôi hiểu. Chào ông”.

“Chào cậu”.

Tôi chạm nhẹ 2 ngón tay lên cây gậy chống cửa rồi bước đi, cảm nhận một cách vô lí rằng mình đang bước trên một con đường bị lãng quên. Mọi tín hiệu của sự sống nơi đây, cỏ hoa, ánh sáng và những dập dờn tha thiết đều như in dấu một nỗi sầu thảm vô cùng; tựa như một đôi mắt không thể nào khóc được vì buồn thương đã lấp đầy trong tuyến lệ. Tôi biết mình đang khơi dậy những hồi ức. Khơi dậy những mê cung. “Cái thứ được gọi là mê cung” – J. nói – “Chỉ được sinh ra khi con người không có nổi những cảm nhận sâu sắc về sự giản đơn của mình”. Anh thật hài hước. Tôi vẫn bước đi, nghe thấy một nỗi lo lắng mơ hồ vây bọc lấy tam trí. Thực ra đây là đâu? Tại sao tôi lại đi tìm chị Uyên? Và chính xác thì tôi đang suy nghĩ điều gì trong đầu?

“Quỉ sứ luôn nhìn theo chúng ta. Quay đầu lại đi” – Tôi nghe thấy những tiếng kêu đau đớn và cảnh giác thét gọi, và thảng thốt, tôi quay đầu lại thật. Lão già kia đã nhoài đến nửa người ra khỏi bức tường, dõi mắt nhìn theo tôi, gương mặt nhăn nhúm vì những khoái lạc không dứt. Bắt gặp lại ánh mắt kinh ngạc của tôi, lão vén cặp môi mỏng lên thành một nụ cười. Tôi đã bị lừa.

“Không có ai lừa dối chú mày hết” – Lão già đắc ý gào lên – “Mọi người luôn nói cho chú mày tất cả sự thật, theo cách này hay cách khác nhưng chú mày luôn luôn đánh rơi nó. Hoặc giả như chú mày không  tin vào nó, hay cố tình lờ đi; cả cuộc đời này chú mày chỉ chăm chăm vào một điều duy nhất, cốt yếu nhất: thống trị cảm xúc của tất cả. Chú mày là một thứ động vật bạo chúa đầy bệnh hoạn. Chú mày không bao giờ xứng đáng trở thành một con người. Không bao giờ. Ha ha. Không bao giờ”.

Tôi cảm thấy tai mình ù đi. Những lời nói của lão già giống như những quả tạ nặng nề kéo chân tôi xuống lòng sông. Tôi thấy ngạt thở. Tôi vẫy vùng một cách vô ích.

Vừa khi ấy một cánh cửa mở ra ở bên trái hành lang, đằng sau những cái thùng rác. Bòng đen ùa ra làm tối cả con đường. Tôi nhận ngay ra đó là căn phòng mà tôi với anh J. đã ở khi còn nhỏ. Không một chút do dự, tôi bước vội sang bên ấy. Và đằng sau tôi vẫn có một lão già đang ré lên một cách lố bịch.

“Cậu đã thừa nhận rồi. Đã thừa nhận rồi. Cậu đang tìm cách trốn chạy khỏi nơi đây và dù một cái miệng cọp mở ra, đó cũng là lối thoát của cậu. Nhưng không sao. Ha ha. Tôi ca ngợi sự phức tạp kì diệu ở cậu. Nó luôn hướng tới hư vô, và với tôi, đấy chính là chân lý”.

 

 

*

 

 

Tôi bước ngang qua những cái thùng rác, khẽ rùng mình khi nhận thấy những luồng hơi mát lạnh từ đấy tràn ra. Chân tôi như ngập trong sương. Thu hết cam đảm tôi lấy hai tay ôm lấy miệng cái thùng rác gần nhất rồi thò đầu vào. Ở trong đó, giữa những búi nilon được cuốn gọn gàng, một thằng nhóc đang ngồi trên cái nắp nồi bằng thép. Nó mặc một bộ áo liền quần có đuôi nhung dài quấn thành mấy vòng trên cổ, ở trong lòng là một cuốn sách để mở. Nó chẳng có vẻ gì là khó chịu khi ngồi trong vùng hơi lạnh đậm đặc không phải là dưỡng khí như thế. Khi thấy tôi thò đầu vào, thằng bé gấp cuốn sách lại, nhìn lên tôi một lúc rồi hỏi:

“Bố mẹ cháu đâu rồi, hở bác?”

“Bác không biết” – Tôi nói.

“Cháu nghĩ là bác ở bên ngoài đấy, bác sẽ nhìn ngay thấy họ” – Thằng bé nói, điềm tĩnh như một ông già – “Bác thấy không, cái miệng thùng rác này quá cao, cháu có đứng thẳng lên cũng chẳng nhìn thấy gì. Nhưng ở đây có một cuốn sách và cháu sẽ ngồi đọc nó. Bác không nhìn thấy bố mẹ cháu thật đấy chứ?”

“Không phải” – Tôi nói – “Là bác không biết họ. Nghĩa là bác không chắc đã từng gặp bố mẹ cháu lần nào hay chưa? Mà cũng có thể là chưa nhưng nếu bác nhớ thì chắc là bác biết. Mà có khi bác đang nhìn thấy bố mẹ cháu cũng nên”.

Tôi cười rồi tôi chống hai tay vào cằm, tì khuỷu tay lên miệng thùng rác.

“Sao bác lại không biết bố mẹ cháu được nhỉ?” – Thằng bé ngạc nhiên – “Trẻ con bọn cháu ấy, tất cả đều biết nhau. Cháu biết tất cả bọn chúng, thằng Tin, con Tũn, thằng Hí. Thằng Hí hôm qua mọc nhọt ở mông còn con Tũn bị mẹ nó tát vì tội ngậm cái cờ lê trong miệng khi đi ngủ. Nó thanh minh rằng vì nó tưởng đấy là cái kẹo mút nhưng mẹ nó bảo tưởng thế cũng không tốt vì sẽ bị sâu răng. Chúng nó đang ngồi cả trong thùng rác như cháu kia kìa … Bác ơi, bác làm sao thế?”

“Không sao” – Tôi nói – “Cháu bảo tất cả trẻ con  đều biết nhau à. Có lẽ cháu nói đúng. Bác đã lớn tuổi rồi vì thế nên bác quên đi nhiều người, quên đi nhiều điều. Có thể ngày xưa, xa xôi lắm, tất cả mọi người trên thế giới này đều quen biết nhau và ở bên cạnh nhau. Có thể ngày ấy, bác cũng quen biết bố mẹ cháu. Có thể …”

“Bác không nên khóc”.

Tôi đâu có khóc.

“Người lớn luôn tìm cách dỗ cho chúng cháu nín khóc nhưng lại thường bảo với nhau là cứ khóc đi cho thoải mái”.

“Đấy là vì càng già người ta càng hiểu ít đi. Trẻ con có thể hiểu được người lớn nhưng người lớn không bao giờ thực sự hiểu được trẻ con. Người già cũng vậy, họ không hiểu được tuổi trẻ, dù họ đã trải qua quãng thời gian đó, giống như ông già đang kêu gào một mình kia kìa. Đấy, cháu có nghe thấy không?”

“Có. Cháu nghe thấy. Nhưng sao bác lại khóc”.

Tôi đâu có khóc.

“Bác có khóc đâu nào” – Tôi nói – “Đây, cháu nhìn vào mắt của bác xem”. Tôi cúi xuống để thằng bé nhìn vào mắt tôi.

“Đúng chưa?”

“Dạ, đúng. Mắt của bác lạ thật đấy. Mắt bố cháu rất sáng, mắt mẹ cháu thì buồn, còn mắt của bác thì cháu chẳng thấy gì cả. Cháu còn chẳng thấy hình của cháu ở trong đấy nữa.”

“Vì mắt của bác là đôi mắt nhìn vào bên trong và chỉ có những người ở bên trong bác nhìn thấy được mình khi soi vào nó thôi. Và bác không có nước mắt, cũng không có máu. Thỉnh thoảng, bác còn không có cả trái tim nữa, thật đấy”.

“Vậy thì khi ấy cái gì sẽ đập, hở bác”.

“Bác không biết” – Tôi nói, nhưng rồi dường như nhận ra thằng bé đang thất vọng, tôi bèn chìa cánh tay ra trước mặt nó.

“Nhưng cũng có khi bác có rất nhiều trái tim, như bây giờ chẳng hạn. Đây, cháu nắm lấy chỗ này” – Nó nắm lấy cổ tay tôi – “Thấy chưa. đang đập đấy.”

“Vâng, cháu thấy rồi. Cháu nghĩ rằng ở trong người lúc nào cũng nên có một cái gì đang đập”.

“Đúng. Phải thế mới được. Ở cái chỗ này ấy” – Tôi chỉ xuống cổ tay của mình – “Ở cái chỗ này nhiều người cũng thấy đập, nhưng đấy không phải là trái tim”.

“Của cháu cũng đập đấy, nó là gì hở bác?”

“Của cháu thì là trái tim”

“Sao bác lại biết?”

“Vì cháu rất ngoan” – Tôi đưa tay định xoa đầu nó nhưng bỗng chốc sợ mình sẽ ngã vào thùng rác và không bò ra được, tôi bèn rút tay về và đu người trở lại.

“Bây giờ bác phải đi thôi” – Tôi nói – “Anh trai của bác đang đợi bác ở trong kia. Nếu bác nhìn thấy bố mẹ cháu, bác sẽ nói với họ là cháu đang không nhìn thấy họ”.

“Bác hãy nói là cháu đang đợi bố mẹ. Nhưng cháu cũng có thể đợi rất lâu”.

“Bác hiểu rồi” – Tôi nói – “Cháu ngoan lắm”.

“Vâng, đấy là trách nhiệm của cháu” – Thằng bé nói rồi lại mở cuốn sách ra. Tôi biết làm gì khi một đứa trẻ lại nói về trách nhiệm?

“Và cháu cũng muốn giống như bạn cò”.

“Bạn cò nào thế nhỉ?”

“Bạn cò với bạn vạc ấy. Bác không biết ạ. Người lớn cái gì cũng không biết”.

“Có thể tại bác hay quên. Bác lớn tuổi rồi mà. Tại sao cháu lại muốn được giống bạn cò?”

“Vì cháu không thích bạn vạc, mà chúng ta chỉ có thể trở thành một trong hai bạn ấy thôi. Bố mẹ cháu đều là cò và cháu cũng sẽ trở thành cò”

“Còn bác thì thế nào?”

Thằng bé nhìn tôi một lúc, nhưng tôi biết nó không nhìn tôi mà nhìn vào mắt tôi.

“Bác suýt nữa thì là cò” – Nó nói, nghiêm túc như một viên thẩm phán.

“Suýt nữa à” – Tôi giả vờ bật cười – “Mà bác còn chưa biết bạn cò là người như thế nào đâu đấy”.

Cái đích của cuộc sống lẽ nào lại trật mất rồi?

“Để cháu đọc cho bác nghe” – Thằng bé nói và lật giở một trang có ép những bông hoa nhỏ. Tôi nhìn thấy một bức tranh in hai mầu: một con cò trắng ngủ gục trên ngọn tre, choán hết nửa mặt trăng ở phía đằng sau; và một vệt xanh, tôi hiểu là con vạc, đang bay đâm thẳng vào khoảng sáng mặt trăng còn lại. “Đây là bạn cò, còn đây là bạn vạc” – Thằng bé chỉ vào bức tranh.

“Ừ” – Tôi nói liều – “Tranh vẽ mặt trăng, tức là ban đêm. Mà ban đêm thì phải ngủ như bạn cò mới là ngoan. Cháu muốn nói vậy với bác phải không?”

Nhưng thằng bé không nghe tôi nói nữa, nó chăm chú nhìn một cách trịnh trọng và tự hào những dòng chữ nhỏ xíu viết ngay dưới bức tranh, mà đứng ở đây tôi không thể nhìn rõ được.

 

Chuyện cò và vạc

 

Cò và vạc là hai anh em nhưng tính nết rất khác nhau. Cò thì ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành. Còn vạc thì lười biếng … nên đêm đêm vạc mới bay đi kiếm ăn …

 

Tôi nhắm mắt lại, lắng tai nghe tiếng đọc ngân nga của thằng bé, nhìn thấy những nốt nhạc trong trẻo bay lên lấp lánh trong không trung. Bạn đã bao giờ nằm cuộn mình trong chăn và bên thành giường, đứa con trai yêu quí của bạn ngồi đánh vần cho bạn nghe một câu chuyện thần tiên? Bạn có tin rằng khi ấy, bạn đã được nghe những điều mà bạn không thể tìm lại ở bất cứ nơi đâu trong cõi đời: đó là sự thật?

Tôi hình dung ra cái lớp học cũ đang ngập tràn thứ ánh sáng được tạo nên bởi những nét phác chì. Tôi ngồi ở cuối lớp, bên cạnh Caddy, miệng ê a những câu đã trở nên quen thuộc lắm: “Cò và vạc là hai anh em nhưng tính nết rất khác nhau. Cò thì ngoan ngoãn …”. Caddy ngồi tựa mình vào cửa sổ, ngắm nhìn những con cun cút đang soi thành nón cát sâu xuống mặt thành đất dưới chân song cửa. Em chẳng bao giờ để ý xem tôi làm cái gì. Với em, tôi là ở đó, vậy thôi.

“Cháu là cò vì cháu có một cuốn sách” – Thằng bé nói, rồi nó gấp cuốn sách lại, kẹp xuống bên dưới cánh tay – “Cháu cặp nó vào đây, dưới đôi cánh của cháu. Cháu nghĩ bác không có cuốn sách nào ở dưới cánh cả, vì thế mà bác không trở thành cò được”.

“Ồ không, bác có chứ” – Tôi nói rồi lôi một cuốn sách bìa cứng, khổ nhỏ từ túi trong của áo khoác ra –“Đây. Bác cũng để sách ở dưới cánh phải không? Sách này là của bố bác, sau khi ông mất bác đã luôn mang theo bên mình. Sách kể câu chuyện về một chàng trai trẻ từ biệt căn nhà thuở ấu thơ, lên đường đi tìm cho người yêu mình đoá hồng màu thiên thanh, để rồi nhận ra rằng mọi con đường chàng đi cuối cùng đều dẫn về đến nhà. Nhưng bác thì đã có những bông hồng xanh ở trong vườn, chính vì thế bác chẳng bao giờ phải đi tìm nó”.

“Nhưng này, giờ thì bác phải đi thôi” – Tôi nói khi thấy thằng bé cúi xuống và nhìn vào cuốn sách của nó. Lẽ ra tôi không nên để nó suy nghĩ về chuyện con cò. Thật đáng xấu hổ.

“Bác đi nhé” – Tôi lại chào nó nhưng thằng bé vẫn im lặng. Trong khoảnh khắc mà mọi âm thanh dường như đông cứng lại ấy, tôi nhận ra mình lại đang lắng nghe những tiếng tru tréo bất tận của lão già bán nước. Tôi nhảy ra giữa hành lang, rồi lấy hết bình sinh tôi cũng gào lên:

“Này lão. Chờ có nghĩ rằng có thể dạy khôn tôi được điều gì. Chân lý ở đâu cơ? Nó có thể ở bất kì đâu, trừ đi ở đoạn cuối thời gian, trừ đi ở người già như lão. Tất cả bọn người già đều chỉ nói láo về sự cứu rỗi mà họ nhận được, về sự giải thoát và mọi thứ chân lý tổng thể hay cá nhân. Lão ca ngợi sự phức tạp của con người tôi? Không bao giờ có điều đó trong thái độ không ngập ngừng, bởi vì chính lão đã đánh mất khả năng thấu hiểu nó rồi. Tất cả những người già như lão đều không còn tư cách để nói bất cứ điều gì về thế giới này nữa. Vậy tôi xin lão, hãy tự cuốn tròn mình lại và ngủ đi. Hãy ngủ đi”.

Dứt lời, tôi cảm giác mình có thể chết đứng được khi ấy. Nhưng rồi, như không muốn chứng kiến thêm bất cứ điều gì xảy ra nữa ở trong hành lang, tôi lại lao người qua những cái thùng rác, nhảy vào trong căn phòng. Tôi nắm lấy quả đấm cửa. Vừa khi ấy, tôi nghe thấy tiếng thằng bé gọi.

“Bác ơi. Bác ở đâu rồi thế?”

“Bác ở đây. Bác phải đi rồi. Anh của bác đang đợi bác”. Tôi cố sức nói to lên, thấy đôi tay mình đang run rẩy. Lại có thêm một cái gì nữa trôi qua mà tôi không có cách gì níu giữ được. Đó là cảm giác bất lực. Đó là định mệnh.

“Có một điều nữa cháu chưa kịp nói với bác”.

“Điều gì thế?”

Tôi nghe thấy tiếng cười của nó trong giọng nói.

“Nếu bác cứ giữ cuốn sách ở dưới cánh thì rồi bác cũng trở thành cò đấy. Cháu tin bác sẽ trở thành cò”.

Tôi im lặng, bàn tay nắm chặt hơn quả đấm, vậy mà tôi có cảm giác như đang thả nó ra. Tôi nuốt khan trong cổ, hít thở đều rồi nói to.

“Cám ơn cháu”.

Rồi tôi từ từ khép cánh cửa lại, hiến mình cho bóng tối.

 

 

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Nhật Minh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)