Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Phác họa (kỳ 5)

PHẦN HAI

1

Ngày .. tháng .. năm 2008

Lớp học cũ

 

            Có một câu chuyện thường được kể cho nhau nghe trong dân chuột rằng: ngày xửa ngày xưa có một đôi chuột đồng đang chuẩn bị làm đám cưới. Chuột chàng béo mập và có bộ ria mép đen óng rất đẹp; còn chuột nàng thì có đuôi dài và những chiếc răng cửa xinh xắn. Câu chuyện tình của họ khiến nhiều chuột phải thầm ghen tị.

            “Ồ, hai chuột ấy thường ngắm trăng trong những giọt sương. Mỗi khi hò hẹn chuột chàng bao giờ cũng mang đến một bông hoa đơn kim trong miệng” – Dân chuột thì thào.

“Họ luôn cọ mũi vào nhau khi ngồi trên những đường cày còn loang loáng ướt”.

“Và chuột chàng còn biết tung hứng với những hạt ngô”.

Họ thật hạnh phúc. Cả chuột chàng và chuột nàng đều biết là họ đang hạnh phúc.

Ngày cưới đến gần, chuột chàng tất bật với việc chuẩn bị nhà mới cho cả hai. Chàng đi hỏi ý kiến loài rắn về đất ở, hỏi chuột chũi về kinh nghiệm đào hang, hỏi cỏ dại về hướng gió … rồi cuối cùng quyết định xây tổ ấm nơi bờ ruộng dưới những tán rong dừa rất đẹp. Những chuột già chống răng cửa đi khắp nơi gật gù với gió, lũ chuột trẻ hơn thì rủ nhau kết hội giăng dây. Cả xóm chuột tưng bừng.

 

Ngày .. tháng .. năm 2008

            Nhưng rồi một chuyện bất ngờ đã xảy ra. Một tuần trước khi cưới, chuột chàng – mệt lử vì công việc – lê lết đến nhà bà mối và tuyên bố: “Anh không thể lấy cô ấy được nữa”.

            “Tại sao” – Bà mối hỏi. Đó là một con mối già trụi cánh.

            “Anh không biết” – Chuột chàng trả lời. Rồi có vẻ thấy nói như thế không được hợp lý, nó vê vê ria mép suy nghĩ rồi nói – “Chẳng tại sao cả. Anh không lấy vợ nữa, anh đã quyết định thế rồi”.

            “Anh không còn yêu cô ấy nữa” – Con mối lại hỏi. Mụ luôn hỏi như vậy trước tiên.

“Ôi, đừng hỏi anh như thế. Anh còn yêu chứ, hôm qua anh vẫn còn ngồi mài răng cho cô ấy bên cạnh con mương. Thiếu cô ấy, anh thấy mình như một cái cây đơn độc trong tiết trời lạnh giá. Nhưng bà không hiểu hay sao, anh đã quyết định rồi”.

            “Bà không hiểu thật. Bà chẳng hiểu gì cả. Rồi cô bé sẽ khổ đau, tủi nhục biết bao”.

            “Sáng mai anh sẽ rời khỏi đây. Anh hơi mệt nhưng anh sẽ cố đi thật nhanh. Anh nhờ bà nói lại với cô ấy rằng anh luôn thấy hạnh phúc khi nghĩ về những ngày tháng qua. Đời chuột thật ngắn ngủi, sau vài ngày là cô ấy không thể nhớ được gương mặt của anh nữa. Khi anh trở về anh tin rằng cô ấy sẽ cảm thấy chẳng còn gì để nói với anh. Và …”

            “Thôi, thôi” – Bà mối hơi cúi đầu xuống để có thể trợn mắt nhìn con chuột. Mụ giả vờ ho vài cái rồi nói –“Bà hỏi thật anh, có phải việc đào hang cực nhọc khiến anh mất tỉnh táo? Bà biết có những kẻ suy nghĩ phát điên trong khi đang kéo cày, nhưng khi đặt hắn trước mặt mấy cuốn sách thì hắn lại nhớ tới việc đi bừa. Bà muốn hiểu xem anh có dở hơi như thế không, có phải anh đã suy nghĩ quá nhiều không?”

            “Anh chẳng suy nghĩ gì hết. Anh thề với bà” – Con chuột kêu lên –“Anh vừa mới đi từ ổ ra đây. Anh đã làm việc suốt cả buổi chiều trong niềm vui sướng trong trẻo và ngây ngất. Anh chỉ nghĩ rằng anh nên lót báo hay rơm trong ổ; anh đã nhặt được ít sợi kim tuyến và một quả ngô đồng xanh da trời, anh tìm cách trang trí chúng sao cho thật đẹp. Anh chỉ khoái trí với những suy nghĩ ấy thôi. Nhưng khi bò ra xa khỏi cửa để ngắm nhìn lại hang ổ của mình, anh thấy một con bọ cánh cứng lóng lánh bay qua. Một con mặc áo. Nó đứng lại trong không trung, nhìn xuống rồi cứ lượn vòng tròn xè xè trên đầu anh. Thế là anh bỗng dưng quyết định “anh sẽ không lấy vợ nữa”, rồi anh bò một mạch tới đây. Trời ơi, anh đã quyết định, bà có hiểu không, anh quyết định. Anh thậm chí còn không suy nghĩ gì về cái quyết định của mình nữa. Nhưng anh thấy hạnh phúc, bà hiểu không, anh đang rất hạnh phúc”.

            Bà mối nhìn chuột chàng rất lâu nhưng người ta có cảm giác mụ đang nhìn cái gì ở phía sau nó thì đúng hơn. Gương mặt mụ lộ vẻ suy tư giống như thể một con chó nằm chờ cơm trên bậc cửa; rồi mụ lắc nhẹ cái đầu, đôi mắt chứa chan lòng thương hại. Kiểu thái độ đặc biệt muốn mửa. Thoạt đầu con chuột cảm thấy giận dữ, nhưng rồi ánh mắt mụ già như một tấm vải chùm lên người khiến nó bối rối. Nó lắp bắp thốt lên:

            “Bà ơi, bỗng dưng anh cảm thấy thật bình an. Anh thấy mình có thể sẵn sàng chấp nhận tất cả. Bây giờ anh sẽ trở về nhà, buộc sợi kim tuyến lên đầu, chuẩn bị tay nải và anh sẽ ra đi. Bà ơi, anh biết còn yêu chuột nàng nhiều lắm, anh sẽ khóc rất nhiều trên đường miên viễn. Nhưng có phải anh đang quên cô ấy đi không, phút chốc anh cảm thấy hình bóng cô ấy nhạt nhòa dần, anh không hình dung được những xúc động của mình xưa kia. Trời ơi, anh thấy dường như anh đã quên cô ấy ngay từ khi hai đứa quen nhau; càng yêu thắm thiết anh càng thấy lãng quên nhiều điều. Bây giờ anh thấy rối trí quá, anh chẳng còn hiểu mọi chuyện ra làm sao nữa. Vì thế quyết định cứu vớt anh, quyết định khiến cõi lòng anh rộng mở, anh thấy yêu đời tha thiết. Anh cần có quyết định, dù anh không thể suy nghĩ được gì về nó, nó sẽ giải thoát anh ra khỏi chính cuộc đời anh. Ôi quyết định, bà ơi, anh thấy tự hào về quyết định của mình biết bao”.

            “Chàng trai trẻ tội nghiệp” – Bà mối già lên tiếng. Mụ ngồi thu lu trên cái hộp đựng thuốc lào –“Để bà kể cho anh một câu chuyện mà bà đã được nghe khi còn dệt mành trong thị trấn. Chuyện rằng: Ở ngôi trường cũ nọ có một vườn cây long não đặc biệt; mùi thơm của nó thu hút đến rất nhiều loài động vật, trong đó có một con chuột chù và một con cóc hoa. Cả hai đều có sở thích chơi quay bằng những quả bạch đàn nên nhanh chóng kết bạn. Cứ chiều đến chúng ngồi hàng giờ bên nhau trên nền gạch mòn trũng, trong mùi hương long não, chờ đợi trong im lặng mơ màng những vòng xoay chậm dần của con quay nhỏ. Sau nhiều ngày êm đềm như thế, chúng trở thành một đôi bạn thân. Một ngày nọ, con chuột nảy ra ý tưởng mà cậu ta nghĩ rằng sẽ là rất hay ho. Cậu đến tìm cóc hoa và nói rằng, tớ định đào một đường hầm từ ổ của tớ lại đây, xuyên qua vườn cây long não; hang của hai đứa mình sẽ thông nhau, và đó là một hình ảnh thật nhiều ý nghĩa. Nhưng trái với nhiệt tình của chuột chù, con cóc nói rằng chân cẳng nó không phải dùng để đào hầm, đào hố. Con chuột ngạc nhiên sờ chân thằng bạn quí, nghĩ ngợi một lúc rồi quyết định sẽ đào cái hang nối ấy một mình.

 

Ngày .. tháng .. năm 2008

            Cái hang sẽ không bao giờ được hoàn thành, tôi nghĩ như vậy. Tôi mặc xác mọi ý kiến cho rằng tôi đang kể một câu chuyện nhạt nhẽo ngớ ngẩn. Tôi muốn tả cái cảnh con chuột hùng hục đào hầm từ sáng tới tối, cái cảnh nó toét miệng cười và giãy đành đạch trong đêm khi hình dung tới cảnh hai cái hang rốt cuộc đã ăn thông với nhau. Và nhất là đoạn này: chỉ còn một lớp đất mỏng nữa thôi, mỏng đến nỗi ngồi bên này, con chuột đần cũng nghe thấy bạn nó chép miệng; nhưng nó đã không bao giờ bồi thêm một răng vào đấy; không phải vì lí do gì cả. Mà chỉ bởi nó quyết định như thế.

            Nhưng  phải để cho con chuột cãi chầy cãi cối. Tất nhiên. Phải như vậy.

 

Ngày .. tháng .. năm 2008

            “Hãy để anh phân tích tình huống này” – Con chuột nói – “Dù chuột chù có không suy nghĩ một chút gì về quyết định của mình thì đấy cũng là do cậu ta bị những trăn trở vô hình sai khiến, kể cả những trăn trở ấy không có chút liên quan gì tới tình huống này. Chuột chù còn trẻ và do đó cậu ta thật dễ dàng đối diện với hư vô; chính khoảng trống rỗng vô tận ấy hình thành nên những quyết định vô cớ của cậu ta. Điều ấy khác, hoàn toàn khác với anh vì anh hiểu quá rõ sự vô cớ và vô nghĩa trong những quyết định của mình. Chuột chù có thể sẽ phải hứng chịu nỗi buồn miên man trong những tháng ngày sau đó, nhưng anh thì không, trong anh chỉ có sự thanh thản cùng niềm vui trong trẻo lạ lùng. Là như thế đấy. Bà có chịu hiểu cho anh hay không?”

 

                                                                                    Ngày .. tháng .. năm 2008

            Con chuột đáng thương.

            “Anh bạn trẻ yêu quí của ta ơi” – Mụ già rầu rĩ nói. Những mụ già rầu rĩ – “Vì sao có những vết chân trên bùn luôn bắt người ta phải dẵm lại vào nó? Đã bao giờ anh tự hỏi; chính quyết định vô cớ khiến anh thanh thản hay sự thanh thản rập rình trong bóng tối con người anh đã đưa anh đến những quyết định ấy? Dù quyết định là vô cớ. Phải, là vô cớ”.

            Tự nuốt cái lưỡi.

            “Anh có thể trả lời được hay không? Anh có chịu hiểu rằng thanh thản và tuyệt vọng vốn không khác gì nhau?”

            “Bây giờ bà muốn nói với anh rằng, cả anh và chuột chù đều sa chân vào một thứ định mệnh chán chường, giống như bất kì ai trên cõi đời này, nó đang giễu cợt các anh. Thế giới đang đi đến một trạng thái lạ lùng, nơi mọi hành động và phán quyết không bao giờ có được từ những suy nghĩ và thỏa thuận chín chắn. Mọi thứ đều mơ hồ. Nếu nhìn từ bên ngoài xã hội vào từng con người, anh sẽ dễ dàng thấy điều đó: mọi quyết định đều thật nhanh chóng và thờ ơ. Tất cả chúng ta đang thờ ơ với các quyết định. Bà muốn anh tránh xa điều ấy; anh cần hiểu rằng trên đời này không hề có những quyết định vô cớ, mà đó chỉ là sự cứu vớt của những cơn tuyệt vọng. Anh đừng thích thú về điều ấy, đừng coi sự vô cảm sâu xa trong con người mình là ý chí; và cũng đừng lãnh đạm bắt chước thế gian”.

 

Ngày .. tháng .. năm 2008

            Tiếp tục cuộc đối thoại giữa mụ mối và con chuột.

            “Bà kể thêm cho anh nghe một câu chuyện để anh rõ hơn rằng, có những trường hợp mà ta tưởng như quyết định của chúng ta không thuộc về chúng ta, nó như đến từ một nơi nào khác, nhưng kì thực, tất cả những điều ấy chỉ thể hiện sự ăn khớp hoàn hảo của bất kì cá thể nào với thực tại và thời đại – một sự ăn khớp chỉ được áp đặt bởi mọi thứ không là chúng ta, biến sự độc đáo, riêng biệt làm nên những cá thể nổi trội thành một ấn tượng cũ kĩ, nhàm chán và mệt mỏi”.

           

Câu chuyện 1:

N. sống trong thị trấn. Hắn dựng ngôi nhà với mái tôn và sàn gỗ của mình trên đống cọc bê tông bốn chấu. Dưới sàn nhà hắn trống một đống khoai nước, để mỗi sáng thứ hai cắt lấy lá buộc bên cạnh chiếc  gương bát quái trước cửa nhà. Tôi hỏi: “Anh làm gì vậy”, thì được hắn trả lời: “Đấy là phong tục”. Nhưng rõ ràng trong thị trấn không có ai làm trò mèo ấy cả.

Mỗi buổi chiều, sau khi nắng vừa tắt, như thường lệ, hắn dùng một cái bát vỡ hì hục nạo vét cái rãnh nước bẩn thỉu mà hắn khơi bằng được từ đường cái chính để nó chảy qua nhà. Hắn làm việc ấy với tất cả niềm say mê vô tội. Tôi dừng lại, ngó một lúc, rồi hỏi: “Anh lại làm cái quái gì vậy”. Hắn trả lời: “Thì cũng thế cả thôi”, rồi cúi xuống nhìn cái quần của mình và mỉm cười. Tôi nhận thấy, N. không phải người vui tính, nhưng hắn lại sẵn sàng toét miệng cười trước bất kì cái quần nào hắn gặp trên đường. Vì thế mà ở trong thị trấn, mọi người đều mặc váy, kể cả con bò.

N. thường đọc sách mỗi khi bình minh và hằng đêm hắn chong đèn ngồi trên giường ngắm ảnh Hitler rồi chảy nước mắt. Hắn quăng sách khắp nơi, cả trong nồi và trên mái nhà, bên cạnh những cái lốp xe.

N. thích bàn thờ vì không chịu nổi mùi hương. Hắn ghét ông trưởng thôn 6 vì ông này có hai cái cà vạt giống hệt nhau; tuy người ta không biết vì sao hắn cho rằng ông kia có hai cái cà vạt khi mà nó giống – hệt – nhau. Tôi thắc mắc thì hắn liền đưa tay vuốt bụng và trả lời: “Thì đấy”. Khi nào nói từ “thì đấy” thì hắn luôn phải đưa tay vuốt bụng, như thể đã có một cái gì đó vừa thực sự diễn ra. Tôi tò mò hỏi tiếp thì hắn sa sầm mặt và nói: “Đúng là như thế đấy. Mọi thứ đều có khả năng và đều có thể diễn ra. Với tôi thì mọi thứ đều diễn ra. Anh muốn hiểu thì đừng hỏi, mà hãy tưởng tượng đi, hãy cảm nhận đi”. Ít khi N. nói nhiều như thế, hắn có vẻ thực sự đau khổ vì những lời đã nói ra, vì vậy hắn đổi tay xoa xoa lên vùng da bụng đã dính bết vào lưng.

N. ăn rất ít, hắn thường chỉ ăn khi nào hắn ăn. Trên mép hắn lúc nào cũng có một mẩu vỏ bạch đàn không biết từ đâu ra, cứ dính ở đấy, chẳng bao giờ rơi. Tôi mới nhắc khéo thì hắn đã nhảy bổ lại nhìn trừng trừng vào mặt rồi nói hết sức từ tốn: “Không ai để thế như tôi cả. Nhưng cũng trừ ra vài người? Dĩ nhiên”.

N. có hai đời vợ. Người đầu tiên hắn lấy về vì biết cô ả từng làm điếm. Hắn chăm lo cho ả rất ân cần, ngọt ngào đủ kiểu, nhưng không bao giờ chịu làm tình. Không phải vì hắn khoái trí với việc sỉ nhục người khác, cũng không phải hắn đang tiến hành một thứ trải nghiệm gì mà đơn giản là hắn không hề nghĩ hay cố gắng không hề nghĩ đến tất cả những chuyện ấy. Tâm tưởng của hắn thuần khiết đến độ ta có cảm tưởng dường như hắn còn chưa nghĩ tới chuyện làm tình với cô dù hắn biết rõ người hắn lấy về là một con điếm.

Khi người vợ thứ hai có mang đứa con đầu tiên, hắn bắt thị hàng ngày phải ăn thịt những con thỏ sứt môi để sau này con hắn “có những túi cỏ như lũ trâu bò ngu xuẩn”. Vợ hắn đẻ con một đàn và trong thời gian này công việc ưa thích của hắn là tóm gáy những đứa trẻ thả ra thả vào một thùng giấy carton cùng với lũ gà con”.

Ngày .. tháng .. năm 2008

            Thái vô tích.

            “Anh xin lỗi” – Con chuột chán nản hét tướng lên – “Anh biết tất cả những câu chuyện thuộc loại này sẽ dẫn tới đâu: chúng chẳng dẫn tới đâu cả”. Nhưng anh không hiểu bà kể nó cho anh với dụng ý gì. Anh không thấy mình trong tay N. đó”.

            “Bà đang tìm lối thoát cho anh”.

            “Lối thoát ư? Có lối thoát nào không ngập đầy nỗi đau? Mà thôi, sao anh lại nhắc đến những điều ấy. Dù nỗi đau có khủng khiếp thế nào thì nó cũng êm đềm lắm, nó cũng là lựa chọn, là quyết định của anh. Vậy quyết định ấy không phải là lối thoát sao? Bà còn tìm gì cho anh nữa?”

            “Mọi lựa chọn của anh không phải tự do mà là định mệnh và tuyệt vọng. Dù ngay cả định mệnh ấy cũng tự do và ngược lại. Mọi quyết định của anh cũng vậy, đều là hối hận, đều đưa anh đến tuyệt vọng. Đấy là điều bà muốn nói qua những câu chuyện liên miên bất tận: mọi câu chuyện chỉ có một ý nghĩa và mọi nhân vật đều chỉ có một kết cục mà thôi. Thế gian bây giờ không còn tồn tại những quyết định vô cớ, chúng ta đã đánh mất nó; tất cả nhân loại giờ đây đều đang vỡ mộng và tuyệt vọng. Bà vẽ cho anh xem biểu đồ ấy của con người, nó đã đến cực đại rồi.

 

phachoa-5

 

“Vậy bà tìm lối thoát cho anh ở đâu” – Con chuột ôm đầu, nó như kiệt sức –“Bà tìm nó ở đâu? Chao ôi. Và cuộc đời là gì kia chứ? Cuộc đời là gì?”

Bà mối già im lặng; mụ như chết rét vì lời than vãn của chuột chàng – mà vậy cũng đúng. Sau đấy mụ khởi sự kể tiếp chuyện bằng một cái giọng rè rè.

 

Câu chuyện thứ 2:

Trên chuyến tàu hỏa cuối cùng chạy trên làn chiếu bồng bềnh như thảm lúa, người lái tàu mặc một chiếc áo ngoài thủy thủ. Ông nhớ về người bẻ ghi và nói với những gợn vàng ngoài cửa sổ: “Những con nhện nước có lặn được hay không?”. Những chuyến tàu luôn là những chuyến tàu cuối cùng, người ta không bao giờ khởi hành được ngay cả khi đã về tới ga. Điều ấy giống như mọi sự khởi đầu, người ta thường chua chát khi đã xong xuôi mọi việc. Người lái tàu nhớ về anh bạn bẻ ghi của mình theo cách đó. Ông ngắm nhìn những hình vẽ kì quặc trên móng tay của mình và cố hình dung rằng trong đó không ẩn chứa nỗi đau mà là nụ cười sâu bên trong hạnh phúc. Nhưng ông thường không thành công và mỗi khi cảm giác vô nghĩa ấp đến sau mỗi tưởng tượng, ông phải cố gắng thả lỏng mình cho sự mơ màng. Ông trói mình vào cột giấc mơ mà trước kia ông lầm tưởng là những chuyến đi của cuộc đời; bằng cách đó ông gạt bỏ những khoảng trống hư vô luôn đầy dần lên và trơ lì đi. Và đấy cũng là cách giúp ông vượt qua sự tan vỡ những điều mà ông tuyệt đối tin rằng đó không phải là ảo tưởng; cũng như đưa ông qua bên kia những điều mà ông không bao giờ dám nghĩ đến. Tất cả nhờ cảm giác mơ màng. Ông thấy bình yên và cánh chim đang chao nghiêng trên đợt sóng vàng kia mới đẹp làm sao.

“Vì sao đã đến điểm cuối cùng của thế giới và thời gian này, con người ta vẫn đòi được đi” – Ông trầm ngâm nhìn chân trời đỏ rực bất động như mắt bão; bánh xe tàu vẫn bay trên làn chiếu và gió cuốn giữa không gian, ánh sáng cùng cỏ cây và đồi núi – “Không phải. Cứ đi. Quo vadis? Ta có thể đi đâu đây? Có thể đi đâu?”

Ông thấy người bẻ ghi đứng ở trong đám cỏ dại như một tấm biển chỉ đường. Rất nhiều năm rồi họ không nhìn vào mắt nhau và ông không biết vì sao hay có chuyện gì xảy đến với người bẻ ghi. Cũng có thể đã không có chuyện gì xảy ra. Một ngày kia, người ta không nhìn vào mắt bạn nữa, chỉ có vậy thôi.

Như một con voi con không bao giờ gặp lại người quản tượng, cho dù nó không hề nghĩ tới hay lo sợ rằng mình không thể già đi; mọi sự vẫn thường diễn ra như vậy. Ở đây không có sự thờ ơ, chỉ là biến động rất nhỏ trong thời gian riêng của nhân loại. Không có gì đáng phàn nàn khi ta tự mất liên lạc với chính mình nhưng lại có nỗi buồn vĩnh cửu khi chúng ta mất liên lạc với nhau. Khi bạn không liên lạc với ai nữa, đấy không phải là quyết định của bạn. Tất cả chúng ta giờ đây đều đánh mất điện thoại khi mua nó về.

Tôi nói thêm câu này chắc bạn sẽ không tin đâu: Thực ra Thượng đế đâu có bị điếc, nhưng chính là loài người hiện nay đều câm cả.

“Vậy chúng ta cần đến bước chân thần thánh” – Người lái tàu nghĩ ngơi – “Nó là gì vậy? Bước chân của một cậu bé nhớ thương tuổi già của mình; đi ra cài lạ cánh cổng sắt u ám trong cơn mưa tầm tã? Nhảm nhí!”

Nhưng đôi khi ta cần suy nghĩ một cách nhảm nhí vì có thể vẫn có những điều lạ lùng được phát lộ. Có điều cần phải cẩn thận.

Chuyến tàu hỏa cuối cùng lại băng qua một vườn hoa hồng ấm đầy những giọt sương. Người bẻ ghi vẫn đứng trong đám cỏ dại, ông ta sẽ không bao giờ mốc xanh khi ở đó. Ông chìa cánh tay của mình ra cho nắng và cố gắng nắm lại cái bóng bàn tay của chính mình. Ông nhìn thấy ngọn gió đuổi theo con tàu, rải cánh hoa đang xoay tròn xuống nước, thấy màn sương từ cõi trời dừng dựng nên như một cái thác rộng và cao vô hạn tiến dần đến bờ, quây lấy con tàu như để gói tròn vào cái bọc cách biệt và xa lạ với bên ngoài; cái kén ấp ủ để mai sau nó bạo tàn đục bỏ để xô đến những đau khổ của con người. Ở đấy có buồn thương đâu?

Rồi con tàu đâm thẳng vào biển xanh.

Người bẻ ghi lục tìm chữ kí của mình trong vạt cỏ, nhưng ông chẳng thấy gì. Vì lẽ đó mà ông đứng hoài ở đấy.

“Vậy có khi ta cần đến bước chân thần thánh” – Ông cúi xuống nhìn đàn kiến bò bên nhau làm đám cỏ rung rinh – “Nó là gì vậy? Bước đi của sự sống và cái chết tuế sai như bông vụ và khật khưỡng như tên say rượu? Tào lao!”

Giống như một mụ già rời bỏ đống đầu vịt trên cái mâm đồng của mình bên đường ray tàu hỏa để đuổi theo những quả táo đỏ chạy trên đường trong chiều giông bão. Nhưng trên cái mâm đồng ấy không còn là những cái đầu vịt mà chúng đã biến thành những con chim non trụi lông hối hả bò đi bằng đôi cánh.

Người bẻ ghi mỉm cười khi nghĩ rằng ông đã không tự hào về tính hay quên của mình, dù với một số người đó là điều đáng để kiêu hãnh. Nhưng chợt nhận ra rằng mình vừa hiểu được một điều gì đấy, ông cảm thấy bối rối và buồn bã. “Anh đừng kịp thời sáng suốt. Đó là sự trơ lì” – Người lái tàu đã tưng nói như thế – “Hãy để mình là một mớ bòng bóng và quăng tất cả những gì thấu hiểu được lên mặt giấy”. Nhưng đã không có ai trong số họ ngồi viết, vì có những chân trời và ảo ảnh chân trời. Cũng vì thế họ không lớn lên và cứ thế già đi.

Điều ấy cũng giống như con chim én bị giam cầm trên con đường hẹp giữa những bức tường của dãy nhà chung cư. Nó nhìn thấy mình trong sự hoảng loạn êm đềm dưới tấm kính bạc trong những vũng nước đọng bị bỏ rơi”.

“Nó đấy ư?” – Con chuột mệt mỏi lên tiếng.

“Anh có nghe đâu” – Bà mối già mỉm cười. Ôi những mụ già, tốt nhất là đừng có cười.

“Không phải, anh đã cố căng tai ra nhưng thế gian đã điếc mất rồi” – Chuột chàng hơi khẽ dịch người, nó đứng lâu đến mức đất dưới chân đã nổi hết cả lên – “Không hề có cuộc đời, chỉ có những câu chuyện về cuộc đời thôi; nhưng như vậy sẽ buồn thảm biết bao: mọi câu chuyện đang trở nên thừa thãi. Giá như anh đã không lắng nghe bà nói, những điều ấy khiến anh đang cảm thấy mình trống rỗng”.

“Vì anh không biết đến dòng thời gian khác nằm bên trong con người mình” – Bà già nói –“Anh để nó chảy trong sự quên lãng bên dưới dòng thời gian của chính anh, thứ khiến anh phải đi đến sự đối diện với tuổi già và cái chết. Anh đã quên mất thời gian của người khác vẫn âm thầm chảy trong anh, là dòng suối ôm trong lòng nó và vuốt ve những viên sỏi đủ màu sắc của những điều đẹp đẽ khiến con người trở nên đẹp đẽ. Chính điều ấy khiến tâm hồn anh trống trải khi nghe những câu chuyện về cuộc đời này. Có những thứ thời gian mất đi mà chúng ta không bao giờ tìm lại được, thứ thời gian bị lãng quên. Những điều bị lãng quên như thế không bao giờ được tìm thấy dù ta có tìm lại được và nắm chặt nó trong bàn tay hờ hững của mình đi chăng nữa. Thời gian người khác trong anh không trôi đi, nhưng anh lại già vì điều đó. Trong anh đang tràn ngập niềm tuyệt vọng mênh mang của sự già nua mà anh không hề hay biết”.

“Ô. Vậy làm sao bà lại biết?”

“Vì anh đã kêu cứu”.

“Không, bà ơi” – Con chuột phá lên cười – “Con người ta không kêu cứu khi tuyệt vọng mà tuyệt vọng khi lên tiếng kêu cứu; kể cả khi có bàn tay chìa ra cho ý cũng vậy. Y chỉ bị sự tuyệt vọng quyến rũ khi vô tình nhắc tới nó thôi. Người ta thường bị cuốn hút và yêu thương ngay cả những tình thế bi thảm nhất của mình”.

“Đấy chỉ là cách để người ta biết được rằng mình đang tuyệt vọng” – Mụ già chán nản – “Bà có thể làm gì để thuyết phục anh rằng ta có thể biết và hiểu ngay cả những điều ta không hề biết tới và sự thật đích thực nằm trong những điều mà ta tưởng tượng ra?”

“Thật tẻ nhạt làm sao” – Con chuột tội nghiệp không cười được nữa, nó như chết đuối trong cảm giác nhạt nhẽo do chính mình dựng nên. Nó cảm thấy mình đang tuyệt vọng thực sự và chán ngấy mọi điều hiện hữu, một thứ ước vọng tự sát lấp đầy từng tế bào trong cơ thể những kẻ thờ phượng thứ đạo đức vớ vẩn vừa tỉnh dậy trong bãi nôn mửa của chính mình sau một cuộc rượu.

Mỗi lời nói đưa người ta đến gần sự điên loạn, cô độc, vô cảm và do đó: cái chết. Lời nói giải phóng linh hồn như một thứ động cơ phản lực; con người trống rỗng nhiên liệu và bị đẩy ra xa nhau. Nhiên liệu ở đây không phải sự đồng cảm nhưng là muốn sống vô thức qua chọn lọc tự nhiên.

Chính lời nói đưa chúng ta rời xa nhau.

“Đúng thế, một tình thế luôn tẻ ngắt khi chúng ta lên tiếng” – Mụ già nói – “Nhưng chúng ta có thể làm được gì? Có những người thường tự hỏi rằng, vì sao họ – những kẻ chán chết sống giữa một cuộc đời chán chết – lại nhận được bao quan tâm của kẻ khác. Họ mường tượng rằng ngay cả đối với một ai đó, họ vẫn là một cái gì đấy. Có lẽ không hư ảo hơn. Họ tồn tại vì một người nào khác cảm nhận rằng họ đang tồn tại. Anh có hiểu được đấy là một niềm an ủi lớn lao? Đối với những người như thế, mô típ giao tiếp giết chết họ. Không giống như nhân vật của Ionessco – những kẻ mất đi sự giao tiếp kết dính giữa con người với nhau, bởi thế mà trở nên cô đơn, rời rạc – những nhân vật của cuộc đời chúng ta bị mất đi khả năng giao tiếp của chính mình, nó ở bên ngoài họ. Họ không nấp kín đằng sau những câu khuôn sáo, họ cố trồi lên mà không được. Sự nhạt nhẽo đè họ bẹp dí, họ mỏng như một tờ giấy và thế là gió cuốn họ bay giữa con người.

Vậy chúng ta có thể làm gì nếu không phải tự làm “nặng” lời nói của chính mình với sự tưởng tượng, bằng cách đó tạo thành một thứ mỏ neo níu giữ ta lại với lời nói – một cách thứ quyến luyến với các biến cố?”

“Bà lảm nhảm cái gì vậy?”

            “Nếu anh không chấp nhận được sự nhạt nhẽo bản chất được tạo ra do tương tác giữa lời nói và tình huống, anh sẽ chán chường ngay cả với sự tuyệt vọng của mình”.

            Con chuột không trả lời nữa; nhiều lần nó ngước mắt nhìn bà mối già, định khởi sự nói câu gì đó nhưng không được. Dường như lời nói đang trương phình trong nó như một khối kí ức hỗn loạn khiến cổ họng nó mắc nghẹn lại. Nó đang dần trở thành kẻ câm với chính mình. Bên cạnh đấy, trong sự cảm thông xa lạ, một con mụ già vẫn đang tiếp tục tìm kiếm lối thoát cho tình huống của nó bằng lời nói thản nhiên đều đều.

Ngày .. tháng .. năm 2008

            Nghĩa là ở đây, đối với anh J., sự bất động của thời gian đồng nghĩa với sự trôi nhanh vùn vụt của nó.

 

            Trong bóng tối muộn màng đầy màu xanh khó hiểu của bình minh, tôi khẽ lật mở cuốn nhật kí của mình với sự ghê sợ run rẩy. Lớp học cũ vẫn ngủ yên trong một lớp bụi xám dầy. Thứ bụi ma quỉ ấy còn bám chặt vào mặt bảng trơn một cách quái lạ và trên đầu tôi, cái xác trắng toát của con rắn ráo hơi lay động trên cánh quạt trần. Tôi cảm thấy một sự kì lạ rằng, đáng lẽ ra trong cái khoảnh khắc này, một mình tôi ngồi giữa lớp học cũ, giữa sự im lặng nao lòng khi cái chết ập đến với con cú lợn duy nhất của ngôi trường, và giữa không gian đóng băng thứ ánh sáng đục lờ như sữa có pha phẩm mầu, khi tôi ngồi đọc sách và viết nhật kí với dải băng mầu đen trên mắt, không, mầu đen trên mắt, mầu của thế giới những hoạt động mẫu mực, tôi ngỡ mình đứng giữa pháp trường và tôi ngỡ cõi lòng tôi phải trôi nổi trong sương. Tôi sẽ phải thấy sự bình lặng vĩnh hằng trong tâm hồn tương ứng với những hành động tôi đã làm trong cái lớp học cũ này: thấy mình ngủ cùng lớp bụi và những chấn song bằng gỗ, thấy nhịp điệu đều đặn của tiếng giở sách và tiếng sột soạt của ngòi bút rong chơi trên mặt giấy. Tôi phải lắng nghe tiếng sột soạt ấy lọt vào một con đường bí hiểm trong không gian, nơi nó có thể tự do trong sự hồn nhiên và thờ ơ nguyên thủy của mình, đi dần đến điểm tận cùng trong cảm giác về sự tồn tại. Khi nhìn vào nơi ấy, lẽ ra trong khối óc tôi phải xuất hiện hình ảnh một người đang từ từ khép lại đôi mắt; thế nhưng trong tôi giờ đây lại đang ngập tràn một cảm giác ghê sợ.

            Ôi Caddy, anh đang gọi em ở ngưỡng cửa 6 đường đi trong địa ngục, nơi anh đang bị những sợi dây leo màu đen cuốn chặt lấy người.

            “Trốn đi anh ơi, cha đang đến”.

            “Không sao, ông ấy không biết anh. Sao em lại buồn khi anh không nhìn ông ấy, con người cao lớn có đôi mắt của con gà”.

            Những đàn quỉ đội lên từ giàn mướp đương ra hoa. “Ai cho rằng mình không sợ quỉ sứ sẽ có ngày tìm thấy con người khác”. Phải diệt chúng bằng lửa, nước và tro xương … Hắn đấy, hắn đấy.

            “Không phải, hắn cũng tồn tại như anh và ngồi giữa lớp, sao anh có thể dùng sự tồn tại của mình để biện minh cho phán quyết về sự không thể tồn tại của hắn khi mà sự không thể tồn tại của hắn còn thuyết phục hơn sự tồn tại vốn hư ảo của chính anh”.

            “Trời đất, hắn trườn người trên ghế và gác chân lên mặt bàn, giống như … giống như … sao anh lại mường tượng hắn là con thỏ tuyết đứng giữa đống mạng nhện ướt sương giăng tràn trên cỏ”.

            “Sao anh lại như vậy chứ?”

            “Gọi cho em đi anh, anh đang ở đâu? Em đang đứng tựa cửa ở một nơi xa xăm có ngôi nhà trên sườn dốc và lối đi gập ghềnh đá màu vàng trắng và rêu và những bông hoa dại vươn mình trong nắng. Em không thấy anh còn anh thì thấy em ngó lơ đi nơi khác, phải không? Phải không, anh đang buồn và thấy em buồn phải không?… Gọi cho em đi”.

            “Nhưng biết phải làm sao?”

            “Anh và em không ở bên nhau, Caddy. Thế thì chẳng có nổi lí do em lo cho anh và anh phải trốn chạy”.

            “Hắn trốn chạy, anh không trốn chạy. Anh có ở bên em đâu Caddy”.

            Thời gian đâu mất rồi? Tim tôi như đập ngược lại khi những dòng chữ vô hình mở ra trong bóng tối. Giá như có mưa. Không, giá như tôi nghe thấy tiếng mưa rơi. Các cửa sổ đều đã mở. Nhưng để làm gì khi âm thanh ấy … Tôi sẽ mường tượng ra thời gian bị cuốn vào những giọt mưa, tôi sẽ nghe thêm tiếng tí tách rơi trên thềm gạch nổi đầy bụi đỏ. Tôi sẽ thấy lại cho mình. “Nhưng trên đời này thực tế đâu tồn tại âm thanh” – Anh J. nói – “Cứ nghĩ mà xem”. Và nơi đây bao năm rồi không mưa? Bao năm rồi khi em trở về, Caddy?

 

Ngày .. tháng .. năm 2008

Giải thích ngụ ngôn của S.

Trong nguy hiểm con người trở nên đần độn một cách vô thức, nhưng họ vẫn tưởng là mình đang bình tĩnh và tỉnh táo. Họ bị hiểm nguy lừa gạt, cho đến khi bi kịch xảy ra họ mới thấu hết nỗi đau kinh hoàng của sự bất lực trong cuộc đời.

Mọi tưởng tượng đều là hiểm họa.

Mọi tưởng tượng đều là hồi ức.

Mọi tưởng tượng đều là thành kiến.

Mọi tưởng tượng đều là địa ngục.

Và mọi tưởng tượng sẽ đều kết thúc tại đây.

 

Ngày .. tháng .. năm 2008

            Tuổi thơ tôi: Trong niềm say mê khơi lại, nỗi cô đơn trở nên trong suốt. Hạnh phúc giống như một thứ hình khối bao bọc.

.

.

.

            “Hình khối bao bọc”

                        ai lại không biết điều ấy

cái rộng rãi làm người ta hoảng hốt và sự gần gụi khiến người ta cô độc

            “Ai có thái độ ngụy tín khi viết những dòng trên?”

            “Ai âm mưu ngay cả trong cảm xúc?”

không phải thế. “Có ai trên đời lại có thể viết được nhật kí cho chính mình?” – Anh J. nói.

Caddy cũng nói như vậy

 

            Bất chợt tôi thấy mình tỉnh giấc, giống như một con người tình cờ ngồi lại đâu đó trong sự yên bình. Tôi không sao nhớ lại được cảm giác ấy và tôi rùng mình ớn lạnh. “Đừng bao giờ nhớ đến sự hiện hữu của mình khi vừa thức giấc”. Hắn nói hay tôi nói.

            Ôi ngu ngốc, lời khuyên ngu ngốc làm sao.

“Mình lên đồi được không Caddy?”

“A, vì sao anh lại hỏi “được không”? Mình lên đồi nào Caddy! Bây giờ đang là giữa trưa, anh sẽ để Caddy thấy sương lạnh rơi trên ngọn cây ngay khi trời nắng.Ông đang ở đó, trong một túp lều lợp bằng lá cọ. Khi Caddy nhìn sương rơi, anh sẽ cố hỏi ông xem, cõi lòng con người liệu có thể lạnh hơn sương được không? Ông có đang thấy lạnh không? Gió bấc có thấy lạnh không? Băng giá có thấy lạnh không? Caddy sẽ gọi anh về khi lá cây và sương ngừng rơi, đấy là giờ anh J. mang cơm lên cho ông. Mình không nên để anh ấy bắt gặp, phải không?

            Tôi không tự lừa dối mình tôi đã không hi vọng.

            “Caddy. Nó đã ngồi ăn cơm ngay trước mõm con chó chết đói”.

            Hắn nói và nhìn tôi đầy vẻ giễu cợt.

            “Không”. Tôi nói nhỏ. Hắn nói hay tôi nói.

            “Nhưng mày lại điếc trước chính lời nói của mình phải không?”

            Tôi nhìn hắn và trong khoảnh khắc, anh vỗ vào vai tôi.

“Tao ca ngợi tất cả những kẻ tìm cách biện hộ cho niềm tin của mình”.

Nhưng hắn biện hộ thế nào cho niềm tin vô hình tôi không thấy?

“Mọi con cóc đều tưởng mình là nhái”.

“Anh điên thật rồi”.

Phải, nhưng hắn đâu có điên. Và hắn nữa.

 

Ngày .. tháng .. năm 2008

Tôi tên là Q.. Ngày này cách đây 2 năm.

 

Tôi nhận được lệnh từ chính phủ, trở thành nút thắt trong một thủ đoạn chính trị đầy sáng suốt của Michiavelli. Có lẽ là ảo giác. Tôi được chúng phát 1 cuốn sổ, 2 bút bi TL và 1 bút chì kim. Tôi giấu theo người thêm một cuốn sổ nữa để làm nhật kí. Điều này thực ra rất nguy hiểm, vì khi đã tiếp nhận công việc, tôi không được quyền ghi chép những gì chính phủ không thể kiểm soát. Nhưng tôi hiểu rằng, khi trở thành một nút thắt tức là tôi đã có một hình khối và tôi muốn mình là một hình khối sống động. Hơn nữa anh J. đã từng nói với tôi rằng, bất kì ai, dù thế nào cũng không có cách gì đọc được nhật kí của người khác. Tôi tin anh ấy? Điều đó có nghĩa gì khi thế giới ở bên ngoài chúng ta?

Nhưng dù sao …

Đây là lần đầu tiên tôi đi công tác xa đến như thế. Ở bên kia thời gian. Có lẽ là ảo giác. Bóng tối lạ lùng ở đây chỉ cho phép tôi ngắm nhìn những con nhện tí hon bám đầy trên trần nhà như một lớp sơn nhám. Khi bình minh trở lại, màu xanh chân trời mới nuốt mất không gian và xác con rắn thòng xuống mỗi lúc một dài như một lưỡi dao đe dọa.

Tôi bắt đầu cuộc hành trình thời gian trong phòng học cũ của mình với tâm trạng thanh thản.

Caddy không quay trở lại.

Với tâm trạng thế này công việc của tôi chắc sẽ được giải quyết tốt đẹp. Tôi biết chấp nhận. Tôi không chờ một sự hoàn thành nhanh chóng. Tôi đã đi quá nhiều trong thời gian ngồi ở nhà và dừng lại quá nhiều trong thời gian rong ruổi trên đường. Công việc lần này là cơ hội rất tốt để tôi thủ tiêu mọi cảm xúc tốt đẹp của mình. Một cách tuyệt diệu để bi kịch hóa cuộc đời, những cơn bão xúc động chết trong hồ nước lặng.

Nhưng bi kịch đâu có ở trên đất nước Việt Nam?

Tôi là một Sisyphe vần đá nhiều dục vọng. Có lẽ là ảo giác. Bây giờ tôi ngồi đây, chiếc bàn cuối cùng của dãy bàn bên tay trái trong lớp học nếu nhìn từ bục giảng. Không khí vẫn có mầu xanh và mùi của bụi. Bụi bám theo ta trong mọi khoảnh khắc hiện tồn. Sau lưng tôi, nếu tất cả không thay đổi như cách đây 20 năm, thì chắc chắn phải là một cái chổi làm bằng cây chít và một sọt rác. Những nắm giấy vo tròn ở trong đó. Tất cả lẫn với rác, chui kín vào trong góc tường.

Tôi sẽ ngồi đây trong bao nhiêu năm? Trong bản kế hoạch chi tiết không hề nhắc tới điều này. Vì thế đã có lúc tôi cảm thấy thật sự hạnh phúc, nhưng rồi tôi đã tự kịp trấn an. Tôi không lo sợ điều ấy nhưng,            anh J. nói “Người ta thường cảm thấy hạnh phúc khi một cái gì đó vừa chấm dứt”.

.

.

.

Ngày .. tháng .. năm 2009

 

Tôi đã quá tự tin, đã tự lừa dối mình và lừa dối cả hắn. Tôi ngỡ mình sẽ không bao giờ hối hận. Hắn nói với tôi, hối hận là một sự phản bội. Nhưng tôi đã không thể chống chọi lại nó được nữa. Tôi không biết phải làm gì.

 

Những cơn sợ hãi run rẩy đã bắt đầu lắng dịu. Hoàng hôn nối tiếp bình minh. Những luồng ánh sáng phát ra từ dải mây vòng kín chân trời ùa vào phòng, làm tối lại những chấn song đang nín thở. Thế giới đổi màu xanh còn nhức nhối và hoang tàn hơn trước. Xanh thẫm tới mức tôi gọi nó là bóng đêm.

Tôi cảm giác như có một tổ ong treo trên thành cổ họng mình và nơi buồng phổi có một người nào đó đang mở bia. Sự khó chịu xuất hiện từ một nơi rất sâu, lớn dần lên như một quả bóng phình to trong không gian chân lý tăm tối, rồi bùng vỡ. Tôi ho dữ dội và nhận ra rằng, lớp bụi phủ trong phòng hoá ra đến từ lồng ngực con người. Đến một ngày kia chúng ta ho ra bụi chứ không phải bụi làm chúng ta ho.

Và đã có bao nhiêu kẻ lấy lí do kiếm tìm em gái để trốn chạy hạnh phúc đã ngồi lại nơi đây? “Người ta chỉ  kiếm tìm và chấp nhận hạnh phúc khi mệt mỏi hay tuyệt vọng”. Và họ đến đây chỉ để muốn nói rằng mình đã không mệt mỏi đến như thế?

Cơn ho lật giở từng trang giấy và trong khoảnh khắc tôi lại bị hút vào trong triền miên những dòng chữ bên ngoài. Tôi có thể dùng từ nào để mô tả những gì tôi đã viết? Nhật kí của sự tồn tại? Nhật kí ghi về Caddy? Nhật kí của cuộc chạy trốn, của hồi ức, của giấc mơ … Không, tôi hiểu rằng, khi một con người thuộc về thế giới này, dù là theo mệnh lệnh, lại chấp nhận đến ở trong lớp học cũ, anh ta chỉ có thể suy nghĩ và viết về, tất nhiên là những thứ ngoài công việc, cái thứ là nguyên uỷ mọi toan tính của anh ta: sự vô tội. Và nhất là, đây cũng chính là thứ anh ta mong muốn, trong cảm thức được cứu rỗi hay cứu rỗi chua xót, lí giải tất cả mọi điều.

Nhật kí của tôi: nhật kí về sự vô tội.

bài đã đăng của Nguyễn Nhật Minh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)