Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

phác họa (kỳ 2)

2

 

Tôi bước vào khi bố thượng chân lên bàn và ngoáy mũi.

“Bụi quá thì ngay cả cóc cũng chết. Cả thiên hạ không ai biết rằng lũ cóc hơn bọn lợn chúng ta ở lá phổi chứ không phải bộ gan hay lòng, mề gì cả. Chúng nó chỉ việc ngồi thản nhiên liếm cái đe bằng cái lưỡi đớp muỗi cũng hơn đứt những cú nện búa mạnh cỡ cú táp linh cẩu của tao. Tất cả chỉ vì tao không chịu nổi bụi”.

Ông nói rồi sau khi chùi những ngón tay vào ống quần, ông đứng dậy bước về phía kệ sách.

“Anh J. nhờ con chuyển lời tới bố rằng anh ấy đã tóm cổ được gần hết lũ chuột” – Tôi nói – “Tất nhiên với khả năng sinh sản của chúng thì thông tin này chẳng có nghĩa lí gì hết. Chỉ để thoát vài con là sau một ngày mọi sự đều biến thành công cốc. Chính vì thế anh ấy dặn thêm rằng, bố không cần nhận xét gì về thông tin vừa rồi cả. Tức là bố không cần nói gì với con và con cũng không có gì để phải nói lại với anh ấy”.

Bố vẫn khom lưng bước qua bước lại nhìn vào kệ sách, hoàn toàn không có ý mời tôi ngồi xuống một cái ghế nào đó trong căn nhà mắc dịch này của ông. Căn nhà mà cả bốn bức tường và mái đều làm bằng những tấm tôn lượn sóng, hoàn toàn không thích hợp để vứt vào bất cứ cái gì có chữ, chẳng cần nói đến sách. Ngay phía trên bàn thờ, những lỗ thủng li ti sáng lấp lánh như sao mọc. Bố không nói gì cả, chắc không phải vì câu nói vừa rồi của tôi. Có lẽ ông đang day dứt vì đã tạo cho mình một thói quen mới tốt đẹp hơn là mở mồm ra nói chuyện với thằng con trai mỗi khi nó muốn, và bây giờ ông có phần khoái trá khi thực hành lại tính nết xưa cũ.

“Anh ấy muốn rằng, bố nên bỏ chút ít thời gian về thăm mẹ. Mẹ đang không được khoẻ mà chị dâu thì chẳng có một chút khả năng nào để chăm sóc người khác, chưa kể đến người ốm. Chị ấy chỉ biết bắt bọ xít cho Caddy. Anh ấy nói, chồng quan tâm đến vợ khi ốm đau thì chẳng có gì xảy ra cả, bố vẫn cứ là bố. Bố về thăm mẹ thì mọi việc vẫn cứ vậy mà mẹ thì chắc sẽ vui lòng. Con giả dụ nếu mẹ cảm thấy khoẻ hơn thì chắc bà cũng sẽ lung lay một ít niềm tin vào cái việc tụng kinh Dược sư thì ăn đứt đi một lời động viên hay một thang thuốc bắc. Đại khái là một việc tốt”.

Bố lôi từ kệ sách ra cuốn Thánh Kinh Cựu ước có bìa đỏ, dày cỡ hai con nhái tháng ba ngồi lên nhau. Ông đập đập nó vào ống quần rồi lại bắt đầu thượng chân lên bàn, trườn người trên ghế. Tôi tưởng ông đang ngồi bằng lưng.

“Anh ấy nói mẹ bây giờ chỉ là một bà già lẩn thẩn, không làm việc gì khác trong ngày ngoài việc đốt hương và sai chị dâu đi mua băng cassete mỗi khi có một mụ già mặc áo nâu nào đấy đến ri rỉ cái gì đó vào đôi tai chết dẫm của bà. Và sở dĩ một bà già như thế vẫn cai quản được một cái nhà như thế, để nó vẫn không có nghĩa lí gì trong con mắt thiên hạ, là bởi vì bố thì đang ở đây. Ông trưởng thôn nói rằng bố đã bay đi như một con chim. Nhưng sẽ thật tuyệt nếu đấy là một con chim én và bố lại trở về nhà khi xuân đến”.

Một con mèo đi qua trước cửa và nhòm vào trong nhà. Lần nào tôi ở đây cũng bắt gặp cái nhìn lỗ mãng như vậy. Bố vẫn không nói gì. Ông giơ cuốn sách lên như một tay bảo vệ đang đọc báo. Ông chẳng ưa gì đạo Ki Tô, hay đúng hơn ông chẳng ưa một tôn giáo nào cả. Có lần tôi còn nghĩ, rằng ông chạy trối chết ra khỏi nhà chỉ vì không chịu nổi tiếng cầu kinh nghe sởn da gà của mẹ. Còn mọi lí do khác chỉ là vặt vãnh. Ông thích những truyền thuyết cổ về người Do thái, về đấng Jehovah. Ông đọc chúng hay mọi cuốn sách khác như những trang tiểu thuyết diễm tình, thật không sao hiểu nổi. Có lần ông nói với tôi, trong Cựu ước Kinh có một câu chuyện hay đặc biệt. Đó là lúc cụ Abraham chuẩn bị đưa dao cắt cổ con mình để hiến dâng lên đức Chúa trời thì ông này đã hiện lên ngăn cản hành động ấy và chứng giám cho lòng tin của cụ với ông ta. Vừa khi đó thì cụ phát hiện ra một con hươu trong bụi rậm gần đấy liền tiện tay chọc chết và dâng lên đức Chúa toàn năng. Bố nói: “Thế đấy. Nếu con người ta luôn giữ vững được lòng tin với một cái gì thì anh ta sẽ chỉ phải hi sinh những thứ trời cho”. Và bố sống với cái triết lí ấy cho đến tận bây giờ. Với ông thì ngay cả đứa con gái máu mủ cũng chỉ là thứ trời cho, không phải là của ông. Ông không thương tiếc gì cả. Những gì còn lại trong tay ông đến khi ông chết mới chính thực là của ông, vĩnh viễn là của ông. Nhưng giờ thì ông xé ra một trang trong cuốn sách, cuộn lại và đưa lên ngoáy tai.

“Bụi làm tai tao điếc đặc, lũ nhện khốn kiếp”. Ông nói, nghiêng đầu sang một bên. Bụi từ tai ông rơi ra như trong cái đồng hồ cát. Tôi bỗng sợ đống vật chất tương tự ở tai bên kia sẽ theo độ dốc mà chảy về hốc mắt ông. Nhưng chẳng có quái gì xảy ra cả. Khi một đứa con trai khởi sự lo lắng cho bố thì ngay lập tức nó sẽ hiểu rằng đó là việc thừa thãi nhất trên đời này. Ông lại nghiêng đầu về phía bên kia, lấy tay đập đập vào thái dương. Những cử động trống rỗng tuyệt đối.

“Mày làm ơn nói lại. Nãy giờ tao chẳng nghe thấy gì cả.” – ông nói, quăng cuốn sách lên mặt bàn rồi đan tay ra sau gáy.

“Anh J. nói rằng bố đã thực sự thay đổi.” – Tôi nói.

“Tao không cho là như thế” – Ông lắc lắc cái đầu – “Với một thằng con trai, không có ông bố nào là thay đổi cả. Hơn nữa, dù thế nào thì điều ấy cũng vô nghĩa và bất lực trước những đổi thay của cuộc sống. Đấy mới là điều đang thực sự diễn ra.”

“Có khi cuộc sống đối với ai đó chỉ là bố mà thôi”.

“Tao cho mày 8 con chó nghiệp vụ cũng không tìm nổi hắn đâu. Làm ơn đóng giùm cánh cửa”.

Gió thốc vào nhà mỗi lúc một mạnh. Khi khép cửa lại, tôi nhìn thấy bên kia con mương, con mèo cái xám đang ngoái lại nhìn tôi qua bờ vai nhỏ nhắn.

“Không có gì phải lo ngại cả. Nó chỉ đang thực hiện công việc của mình thôi”.

“Con biết”.

“Đâu có ai biết được. Nó chỉ nói có vậy thôi à?”

“Những chuyện khác thì bố đã nắm được. Con có thể ngồi chứ” – Tôi rút ra một cái ghế nhựa ở góc nhà.

“Mày cứ tự nhiên. Mà này, mày nói vậy nghĩa là thế nào?” – ông ngồi thẳng người lại trên ghế – “Tao ở đây đâu có biết được gì; ngoài chuyện hàng tháng nó gửi đến cho tao hàng đống hoá đơn ếch nhái gì đấy và yêu cầu tao chuyển tiền cho vợ nó. Nó làm như thế chỉ vì nghĩ rằng tao là bố nó và với một ông con thì thằng bố luôn luôn có tiền trong túi, không ít thì nhiều”.

“Đó là tiền để mẹ có thể thở ra thở vào cho đến lúc này và mua đủ thứ đồ lễ để cúng dường đức Phật. Bố vẫn biết là bấy lâu nay mẹ thậm chí còn chưa bước ra nổi đến cửa, mà chị dâu  con thì lại là người sinh ra chỉ để hấp thụ khí trời mà sống chứ đâu có ý định làm bất cứ việc gì cho mình hay cho người khác. Mấy người đàn bà ấy, con nghĩ có lẽ không có ai dám gửi thư xin tiền bố nên anh con mới phải làm thay họ việc đó. Anh ấy bảo rằng, một ông chồng nếu không bị thúc đít thì không bao giờ đưa tiền lương cho vợ cả. Ông ta tưởng rằng các bà vợ nội trợ có thể hóa phép ra những món ăn thịnh soạn mà không cần dùng đến bất cứ thứ gì và tiền họ vòi ông ta theo chu kì chỉ là để chi tiêu vào những việc mờ ám. Những người đàn ông mất cả cuộc đời cũng không hiểu được việc bếp núc của vợ họ. Anh ấy nói như vậy đấy”.

“Đúng thế. Nó lúc nào cũng nói đúng. Chỉ có điều bây giờ tao vẫn là thằng bỏ tiền ra nuôi cơm vợ nó”.

“Anh ấy không để ý đến những chuyện như vậy đâu, anh ấy chỉ quan tâm đến người khác khi nào nhận được yêu cầu từ phía người ấy” – Tôi nói rồi lấy lá thư từ túi áo khoác đưa cho ông – “Con vừa qua chỗ mẹ. Mẹ càng lúc càng chẳng ra làm sao, mấy ngày trước tràng hạt của mẹ bị đứt, thế là bà bỏ cả cơm, suốt ngày ngồi ôm chân tượng. Con nói với mẹ rằng , mẹ lần tràng hạt 18 tiếng một ngày như thế thì đến da voi còn đứt chứ đừng nói là mấy sợi dây vớ vẩn. Thế là mẹ liền dúi đầu con xuống chân một bà tượng, trước Phật thì mẹ khoẻ thế, rồi xì xụp cúi lạy cho đến khi con nói: thôi thì mẹ muốn làm sao thì làm, me có không nghĩ đến con thì cũng nên lo cho đứa con gái khốn khổ của mẹ mà cố nuốt lấy vài miếng gì đấy mỗi ngày vì con nói ngửi hương lắm thì chỉ có chết sớm chứ không thể nào mà thay cơm được. Bố không biết là mẹ đã sợ hãi thế nào đâu. Mẹ lẩn thẩn lắm rồi. Con thấy hay là thời gian tới bố bỏ tạm mọi thứ đấy về thăm mẹ mấy hôm. Hình như mẹ cũng đã xin được ngày cải mộ cho ông nội rồi, như thế đã thừa lí do dù bố có dùng đến nó hay không cũng vậy. Và bố thì vẫn cứ là bố”.

Bố cầm lấy lá thư, vo tròn bỏ vào miệng rồi nuốt chửng. “Chưa ai biêt cách đọc thư nhanh thế này cả”. Ông nói rồi lại đứng dậy, mở một cái tủ phía dưới kệ sách – “Bà ta dặn tao không nên uống rượu nữa, như một con mẹ trẻ khó tính. Nhưng mày làm ơn nhìn tủ rượu của tao, toàn chai không” – ông đưa tay gạt một cái, tiếng chai lọ thuỷ tinh loảng xoảng và mấy chai Vodka Hanoi lăn ra ngoài – “Mẹ kiếp. Mấy tháng nay tao đâu có uống rượu, tao bỏ nó cũng dễ như nhịn cơm vậy. Đôi khi tao tự hỏi tao vì ai mà phải bỏ rượu. Dĩ nhiên là không phải vì con mẹ mày, càng không phải vì chán nghe cái trò lải nhải muôn đời của bà ấy, mày biết tao chịu đựng giỏi lắm mà. Sống trong một cái gia đình thế này mà đến bây giờ tao vẫn chưa cởi truồng đi ngoài đường, phải, tao biết tao chịu đựng giỏi lắm. Phải, nhưng vì sao mà bỏ rượu để suốt buổi nôn nao, quai búa như ngồi quạt và chịu đựng tiếng cười mỉa mai ken két của lũ cóc khốn kiếp? Thật là chó. Giờ thì tao chỉ ước tất cả đống chai này lại đầy rượu chỉ trong một phút và tao sẽ mặc xác tất cả chúng mày” – Ông cầm một cái chai không, ngửa cổ, rồi dốc vào miệng – “Không khí chẳng bao giờ được như rượu” – ông đưa tay quệt miệng như thật. Rồi ông nói giá như ông chỉ là sợi tơ hồng để có thể thoải mái nhấp sương trên bờ dậu cúc tần vào mỗi sớm.

Chỉ bố láo. Tôi đứng dậy.

“Có lẽ con chẳng còn việc gì ở đây cả”.

Bố liền xua tay và cánh cửa bật mở.

 

 

*

 

 

Tôi thấy mình đứng trước một cánh đồng lúa xanh rì rào và xa xa, hàng bạch đàn mong manh như liễu soi mình dưới con mương trong vắt và bí mật. Tôi dắt tay Caddy bước đi trên bờ cỏ ướt, cảm giác như đang dạo chơi trong một xứ sở diệu kì nào đấy thuộc về giấc mơ, nơi mọi rung động của thiên nhiên vây quanh chỉ như những cái vuốt ve nhẹ nhàng của gió. Tóc Caddy ướt đẫm, không hiểu vì sao, và đôi giày đỏ của em đã dính đầy những vệt bùn màu nâu. Tôi lấy vạt áo lau tóc cho em và nói:

“Caddy này, mình đi nữa hay thôi. Anh nghĩ có lẽ mình đã đi lâu lắm rồi đến nỗi quên hết cả mọi sự. Anh chẳng nhớ vì sao tóc Caddy ướt mà tóc anh lại khô và tại sao em lại đi giày đỏ, em có những đôi giày màu hồng rất đẹp cơ mà”.

“Nắng kìa, Caddy” – Tôi lấy tay chỉ cho em dải nắng vừa xuyên qua những tầng mây đỏ thẫm xếp hàng song song như những luống cày ở chân trời phương Nam – “Nắng đấy, Caddy còn nhớ nắng không? Anh hiểu rồi, vì ở đây có nhiều nỗi buồn hơn một chút. Nhưng đấy là nỗi buồn xao xuyến không trọn vẹn, nó làm anh không an tâm. Caddy thấy chú chim nhỏ kia không, phải ba con như thế mới làm cong được cây lúa. Anh nghĩ có khi chỉ cần một hạt mưa rào thôi cũng làm nó ướt hết, Caddy có thấy vậy không?”

Em chẳng nói gì. Đôi mắt em trong như giọt nước.

“Ngồi xuống đây nào. Anh chợt nghĩ có thể mình đã đi rất xa, chỗ này anh thấy lạ lắm, và như thế Caddy đã mỏi chân rồi. Caddy sẽ ngồi trên dép của anh còn anh thì ngồi trên cỏ ướt”.

“Mặc váy thì không được ngồi như vậy, xấu lắm. Caddy có thấy lạ không, chẳng biết hôm nay là ngày gì mà cả cánh đồng rộng lớn thế này không thấy bóng một ai. Bây giờ có phải giữa trưa đâu. Hay tại mình đang nằm mơ hả Caddy. Nhưng là anh mơ, Caddy mơ hay là có một ai đó đang mơ thấy anh và em. Ai lại có thể như vậy được nhỉ? Là bố chăng? Bố chỉ toàn mơ về những con cóc. Hay là mẹ. Giấc mơ của mẹ chỉ có mùi hương trầm và những bông sen. Chị Uyên thì anh chắc chắn chị ấy đang mơ bóp cổ con búp bê Nadja. Vậy chỉ còn có anh J. thôi. Nhưng không phải vậy Caddy nhỉ? Anh ấy là người khinh miệt giấc mơ và mọi ước mơ; từ lâu rồi anh ấy không mơ nữa. Ôi, dù là đúng theo Trang Chu đi nữa, anh ấy có gì để biện hộ cho mình. Có lẽ thế này: anh ấy cho con mơ là phù phiếm, hư ảo, thoáng chốc, vì rất ít cơn mơ được nhớ lại trong đời mà nhiều khi đấy lại là ác mộng. Do đấy những cơn mơ không thể là sự lựa chọn, là cuộc sống mà chúng ta ao ước, vì chúng ta cần sự yên ổn, thói quen, êm ấm và dài lâu. Nhưng sẽ ra sao nếu anh nói ngược lại thế này, Caddy: có bao lần trong giấc mơ anh nhớ được hiện thực anh đang sống, có bao nhiêu lần trong giấc mơ anh ngồi trầm tư? Nếu anh nói cơn mơ là thoáng chốc, thì có phải hiện thực trong giấc mơ của anh còn hư ảo hơn thế không? Vậy lẽ nào giấc mơ không đáng quí hơn đời sống chúng ta, chẳng phải nó thẳng băng và quỉ dị thế sao? Và có phải đáng yêu biết bao nhiêu con người đang mơ thế này về chúng ta, dù cho đó là anh hay em hay thậm chí là một con cóc nào đấy đi chăng nữa. Hay có thể, một con thiêu thân. Anh vẫn nhớ anh J. nói với anh rằng, tất cả nhân loại chỉ hiện hữu trong giấc mơ của một con thiêu thân. Thế gian này là một cơn ác mộng và chúng ta phải học cảm nhận lấy sự êm đềm của nó như khi choàng thức giấc và nhận ra rằng tôi vẫn ở bên cạnh ta. Ngồi đây nhé, anh sẽ mang những bông hoa về cho em”.

Bạn không bao giờ tìm được những bông hoa muống khi thực sự cần đến chúng. Đó là những bông hoa đặc biệt nhất trên đời, chúng sẽ rủ nhau lặn mất tăm vào lòng đất khi linh cảm thấy một chàng trai hay cô gái nào đấy đã phát hiện ra vẻ đẹp mong manh của chúng. Hoa muống là những tiên nữ Nanhphơ. Khi bạn thấy hoa muống trắng đồng chính là khi người ta đã không còn biết về chúng nữa. Những thứ bị lãng quên luôn sinh sôi trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta chỉ như một kẻ mù loà khi lãng quên một điều gì đó. Thế là tôi đành mang về cho Caddy một bó hoa đơn kim. “Một cô bé sẽ xinh xắn hơn biết bao nhiêu khi cầm những bông hoa trên tay. Em có biết điều đó không hả Caddy?”

Em nhìn tôi bằng đôi mắt mở to chứa đầy không gian vây quanh, màu xanh và gió.

“Chúng mình làm cách nào để thoát khỏi giấc mơ này bây giờ, Caddy. Vì nếu đây là giấc mơ thì anh cũng không biết đường để trở về nữa. Em nhìn xem, mình đang ngồi giữa cánh đồng lúa xanh vô tận và biết đâu nhà mình lại ở tít tận bên kia hoàng hôn. Khi chúng ta đi mãi về phía trời Tây để băng qua nó, chúng ta sẽ phải đối diện với cảnh hoàng hôn không bao giờ tắt. Không, không có cách nào để vượt qua hoàng hôn. Em hiểu điều đó đúng không Caddy?”

Không gian đã thấm đầy hơi lạnh và đàn chim én sà xuống đồng lúa trước mặt chúng tôi. Chúng bay không theo một quĩ đạo nào cả; náo động và hỗn loạn. Những con chim tuyệt đẹp với đôi cánh thân hình thanh tú lao vun vút trong không trung; có khi thay đổi độ cao và hướng bay đột ngột đến mức tôi nghĩ chúng phải có họ hàng với loài dơi. Còn gió bấc do những cái đập cánh sợ hãi của chúng sinh ra thì ai cũng biết.

“Anh sẽ gọi mùa đông về trên đồng lúa này. Chúng ta khi ấy có thể hỏi gió bấc đường về nhà, phải không Caddy”. Tôi nói và bước lên con đường chạy về phía mặt trời, tìm những viên sỏi dưới tán cây bạch đàn. Hơi lạnh mỗi lúc một dầy thêm và khi đã bỏ đầy sỏi vào hai túi áo để quay lại chỗ Caddy, tôi có cảm giác gương mặt mình cứ lạnh buốt đi sau mỗi bước chân.

“Anh sẽ gọi mùa đông về” – Tôi hét to – “Và chúng ta sẽ rời khỏi đây trên cánh tay của thần gió bấc. Thần sẽ bay thật nhanh, đến nỗi Caddy còn chưa cảm nhận được là mùa đông đã đến thì chúng ta đã đứng dưới giàn hoa giấy quen thuộc trước hiên nhà, nơi những cánh bướm vàng vẫn chập chờn như hoa nắng”.

Và tôi cố hết sức ném những viên sỏi về phía đàn chim én vừa hét lên “A A A”. Tôi tìm cách chọi chết chúng trong ánh hoàng hôn.

Chim én chẳng bao giờ gọi đông về khi chúng không muốn. Vì thế trước những đòn tấn công của tôi, chúng tìm cách chống trả lại một cách tự nhiên. Với những sải cánh bình thản, đàn chim kết hợp lại và bay theo những quĩ đạo xác định, nhưng những quĩ đạo này đồng thời lại thay đổi liên tục, vẽ nên những hình thù đẹp mắt luân phiên nhau xuất hiện trên nền trời. Ngay khi tôi nhận thấy rằng chúng bay theo hình một trận gió mùa xuân để chuẩn bị đón đầu thì ngay lập tức chúng chỉnh lại đội hình, đồng thời với việc luôn luôn thay đổi khoảng cách giữa mỗi thành viên, chúng bay sang hình một cái cốc đựng những viên bi ngũ sắc. Với những đường bay hợp lý và bình tĩnh, lũ chim én khiến tôi chỉ còn biết mong rằng gió bấc sẽ thức dậy bởi một con ruồi vô tình đậu lên mép và sẽ bay tới đây vì lắng nghe thấy tiếng đập cánh náo loạn rất nhỏ của một con chim nào đấy. Tôi chỉ cần khiến được một con chim hoảng hốt, thế đã là cả một kì công.

Bạn không thể doạ nạt chim én chỉ bằng những viên đá. Khi tôi nhận ra được điều ấy thì số sỏi còn lại chỉ nằm vừa đáy túi; tôi thất vọng dốc ra và ném xuống mặt ruộng săm sắp nước.

“Caddy có biết nếu hôm nay chỉ có mình anh, anh sẽ làm thế nào không? Anh sẽ lăn quay ra, đánh một giấc. Đúng, ngay ở đây. Hoặc anh có thể làm một điều gì đó tương tự như ngài Mông tiên tri để chui ra khỏi giấc mơ này, nếu đúng thật là có ai đó đang mơ. Nhưng vì có Caddy ở đây nên thật khó, anh không thể ngủ được mà Caddy thì cũng không thể ngủ nữa. Không ai lại để em gái mình ngủ ngay trên bờ ruộng cả”.

Những con én quay lại tấn công tôi, chúng đang trả thù – như thể các mụ đàn bà, bố nói như vậy – . Những con táo tợn nhất bay vụt qua, ngay sát mặt tôi; dưới sự chênh lệch áp suất tôi bị hút vào đường bay của chúng, nơi mà khí lạnh từ dưới cánh toả ra đã khiến không khí như bị đông cứng. Caddy nép lại sau lưng tôi; gió bỗng nhiên thổi mạnh làm mái tóc đã khô của em bay tung ra phía trước, ôm kín khuôn mặt tôi. Nơi hương thơm mát lạnh tôi cảm nhận thấy sự chuyển động của gió qua từng sợi tóc, vuốt ve nó, nhuộm buốt nó; và mỗi sợi tóc khi chạm vào da thịt đều gây cho tôi cảm giác êm dịu vô cùng. Tôi đưa tay gỡ từng sợi tóc vương trên mặt, bỗng cảm thấy phía sau gáy những chuyển động lạ lùng của mái tóc Caddy, vừa giận dữ vừa như hoang mang. “Bắt được con én, đúng không Caddy. Bắt được con én”.

Tôi quay đầu lại, đằng sau những vệt mờ nhạt – những sợi tóc như mây lướt trên da mặt – tôi nhìn thấy một con én rất đẹp đang bay trong mái tóc Caddy, như trong một cái lồng chim thật lớn. Em vẫn cầm bó hoa đơn kim trên tay và ngước mắt nhìn lên một cảnh tượng thật đáng thương: con én đang bối rối.

            Hãy học cách bắt chim én bằng mái tóc em gái bạn.

 

 

 

 

 

 

3

 

“Có phải tôi ở dưới đấy không?” – Tôi cúi xuống giếng và gọi. Mặt nước tối thẫm – “Bao giờ anh mới trở về nhà. Phải chăng những người trong gia đình anh đã phải hứng chịu kiếp lang thang ngay từ khi còn chưa sinh ra? Bố anh đang ở đâu? Mẹ anh đang ở đâu? Anh chị em của anh đang ở đâu? Cớ làm sao để căn nhà rộng thênh thang cứ ám bụi ngày đêm, để nhện chăng màn bốn bức tường và lũ chuột bất tử cứ thản nhiên uống nước trên bàn thờ tổ tiên? Bây giờ có ai thay anh chơi đùa với đàn bướm dưới giàn hoa giấy, ai chăm sóc những bông hồng xanh và ngắm nhìn đàn kiến cần mẫn đi trong đêm trăng? Ai bế Caddy xuống khi em leo cầu thang và chải tóc lại cho em khi trời nổi gió? Ai dỗ dành chị Uyên những khi chị biến thành một người ương bướng? Anh J. đang biền biệt ở xứ sở nào, để trốn chạy lời nguyền độc đoán đã reo vào cõi lòng anh khi mới hoài thai và trở thành nỗi ám ảnh của anh cho đến hết cuộc đời. Có phải anh ấy đã từng nói với anh: trong số phận mỗi người luôn ẩn chứa niềm hạnh phúc của sự nhẹ nhõm và lối thoát. Định mệnh không bao giờ tuyệt vọng. Có phải anh luôn tin anh ấy như tin vào những lời thì thầm của gió … ô … nhưng điều ấy thì có ý nghĩa gì đâu khi đối với anh J., lời nói của chính anh ấy lại là địa ngục của những điều hối tiếc; anh nhân danh điều gì trên cõi đời này để khuyên anh ấy tin tưởng vào những điều anh ấy đã nói ra … ô ô ô … nhưng không phải mi đang tâm chà đạp lên số phận anh ấy sao, không phải mi đã làm tất cả những trò bỉ ổi ấy không một chút ưu tư sao … ô ô… khi yêu ai là anh đã thách thức cả thế giới này … anh ơi … phải, chính mi đã làm tất cả những điều ấy, chính mi chứ không phải ai khác”.

            Máu dồn xuống mặt khiến mắt phải của tôi nhức nhối. Tôi đưa lưỡi liếm lên những chiếc răng, môi và cảm thấy tê buốt. Tôi đã bị mẻ hai chiếc răng cửa. Anh ta mới chỉ vỗ bàn tay hộ pháp vào mặt tôi mà sự thể đã như vậy. “Đừng cúi đầu sâu thế, anh có thể bị lộn cổ xuống đấy” – Hắn nói và tôi ngẩng đầu lên – “Nếu anh không đẩy tôi từ phía sau thì sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra cả”. “À, dĩ nhiên, không thể có chuyện như vậy được” – Hắn nói – “Anh nên rửa mặt đi, một gương mặt dính máu dưới ánh trăng trông thật đáng sợ. Anh biết sử dụng cái bơm tay này chứ?”

            “Như thế này đây” – Hắn giật cần bơm và dòng nước bạc chảy ra, rơi rất êm trên nền đất –“Dùng chiếc khăn này đi”.

            “Cám ơn” – Tôi nói và nhúng chiếc khăn mùi xoa vào dòng nước lấp lánh –“Đúng là khốn kiếp. Lẽ ra tôi đã tống được một quả vào mõm hắn nếu như tôi nổi giận ngay khi ấy, nhưng tôi đã đánh mất khả năng giận dữ trước một việc nào đó từ khá lâu rồi. Tôi đã không thể nhớ được cách thể hiện sự tức giận của mình ngay cả trong cảm giác cho đến khi hắn ra dấu đe dọa tôi và bỏ đi. Tôi là người hay vờ vịt nhưng tôi lại không thích vờ vịt nổi giận. Những sự vờ vịt thái quá như thế khiến tôi cảm thấy thật lố bịch”.

            Cục máu đông nằm trên khăn trông như mắt một con chim.

            “Chẳng cần giận dữ cũng có thể cho hắn một quả đấm, nhưng đấy là dành cho người có khả năng” – Hắn nói – “T. to gấp rưỡi anh”.

            “Kể cả hắn gấp bốn lần tôi. Đâu cứ cần nổi điên mới khiến kẻ khác phải nể nang mình” – Tôi nói –“Kể cả hắn gấp bốn lần tôi, tôi vẫn cứ nói trước mặt hắn rằng, chính thực vợ hắn đã bị một con cóc cưỡng hiếp và hắn làm việc như điên ở nhà máy chỉ là để cung phụng một mầm mống cóc, lũ động vật có hàm răng nằm ở dưới lưỡi. Nhưng anh thừa biết rằng, những thằng ngu thì đồng thời cũng là những thằng điếc và hắn liền trả ơn cho thông tin của tôi bằng bàn tay to gần bằng cái chiếu. Môi có sưng to lắm không. Đúng là khốn kiếp thật.”

Tôi cố gắng nhếch mép. Tôi đang diễn kịch.

“Anh đã học lại được cho mình cách cáu giận rồi đấy” – Hắn nói.

“Cáu giận suông thì chẳng để làm gì. Có sưng lắm không?”

“Tôi tưởng anh đã soi mình xuống dưới giếng rồi chứ. Nước ở đây trong lắm cơ mà?”

“Tôi chẳng thấy gì cả. Chưa bao giờ tôi thấy được mặt mình khi soi vào nước” – Tôi áp khăn lên con mắt đang bỏng rát –“Tôi xin cái khăn này nhé. Mà này” – Tôi chỉ tay về phía chân trời đang bốc cháy –“Phía đằng kia có nhà máy phải không?”

“Không đâu” – Hắn nói – “Tất cả nhà máy đều nằm ở phía Nam thị trấn này. Anh đi mãi về phía kia sẽ chỉ thấy rừng bạt ngàn thôi; đấy là một con đường bị lãng quên nhưng cỏ dại không bao giờ lan ra được đến giữa đường. Người ta đạp lên nó đời kiếp rồi cuối cùng không quên nhét vào một góc khuất nào đó của thư viện thời gian, một cuốn sách in tên và gáy mạ vàng. Cái mõm cá voi của lịch sử. Con đường này chạy về đâu không ai biết vì chẳng còn ai nhớ đến nó nữa. Quanh đây không hề có ai sinh sống cả. Trước kia tôi tưởng luồng ánh ấy là ánh sáng hoàng đạo, nhưng mới mấy ngày trước đây thôi tôi đã biết mình nhầm”.

“Không có cách nào biết được sao?”

“Anh cứ đi đến cuối đường, biết đâu cũng có một nhà máy hay công trường gì đó thật. Còn tôi, tôi chỉ dám đặt chân lên một con đường bị lãng quên khi biết được vì sao nó lại bị lãng quên. Điều ấy thật vô vọng vì đâu còn có ai nhớ đến nó nữa. Nhưng cũng có thể tôi sẽ bước đi trên con đường ấy nếu như tôi hiểu được vì sao bây giờ tôi lại biết về nó”.

“Tôi thì thật đơn giản” – Tôi nói – “Tôi biết về nó qua anh”.

Hắn không nói gì. “Nhìn này” – Tôi nắm lấy cần bơm và hất mạnh lên. Nước bắn tung tóe. “Khi ngồi tắm dưới làn nước chảy ra từ cái bơm này anh sẽ thấy mặt trời màu xanh. Đấy là điều tôi biết được từ những ngày thơ xa lắc. Chính nó dạy cho tôi cách hoài niệm về thời ấu thơ còn xa xôi hơn nữa. Một cậu bé 6 tuổi biết thương tiếc thời gian. Anh có hiểu được điều ấy không? Hiểu được nó có ý nghĩa gì không?”

“Chẳng có gì cứu vãn được khi tuổi trẻ qua đi” – Hắn nói – “Nhưng tuổi trẻ của chúng ta không đồng cảm và thương tiếc những ngày thơ”. Rồi hắn gõ gõ mũi giày xuống nền đất cứng như một con ngựa đang cào móng. “Anh đi được chứ. Chúng ta cần quay trở lại khách sạn”.

“Tại sao không một ai thấy lửa đang cháy ở chân trời?”

“Vì họ không nhìn. Không ai nhìn cả” – Hắn quay mặt đi –“Xuống hết con dốc này, chúng ta sẽ gặp một cái nhà kho bị cháy. V. nói trước đây nó dùng để chứa cà chua xanh; điều này thì tôi quả thực không hiểu vì cà chua chỉ được trồng ở cách đây độ vài trăm cây số; tại sao người ta lại phải vận chuyển lên vùng rừng núi xa xôi thế này và chứa trong một cái nhà kho cách biệt với khu dân cư? Nhưng dù sao thì bây giờ nó cũng đã cháy và một cái nhà bị cháy thì luôn đáng ghi nhớ hơn một cái nhà còn nguyên vẹn. Nó sẽ giúp chúng ta nhớ ra đường về khách sạn”.

Chúng tôi đi vào bóng tối của những cây xoan dầu, thấy mình như chạy trốn khỏi ánh trăng. Tôi lập cập bước theo tia sáng hấp hối phát ra từ những chiếc cúc trên vai áo của B.; nhìn từ đằng sau trông hắn hệt như con bù nhìn trên các ruộng dưa. Những dòng nước nhỏ sắp khởi sự bị lãng quên vẫn thầm lặng chảy theo chúng tôi, len lách qua những viên đá màu vàng, trắng, qua rễ cây và lá mục. Âm thanh của tĩnh lặng trỗi dậy mơ màng.

Không có cái nhà kho nào hết, dưới bóng những rặng tre đang lay động trong đêm trăng là một cái miếu thờ đã bị bay mất mái.

“Với một cái miếu thế này chúng ta chỉ có thể trú qua được những cơn mưa bay song song với mặt đất” – Tôi nói.

“Không thể nào” – B. nói và sờ tay vào một lư hương có hình cuộn giấy vệ sinh. Hắn tưởng đấy là quả cà chua chắc.

“Không thể nào cái gì?”

“V. không nói dối tôi bao giờ cả”.

“Anh ta không nói dối anh đâu. Mọi cái nhà kho đều biến thành cái miếu mất mái khi nó biết rằng người ta định lợi dụng nó để tìm đường về khách sạn. Anh nhìn này” – Tôi rút những chân hương ra khỏi đống tro đã bết lại như bùn – “Đúng là ở đây đã có những đám cháy đấy chứ. Tôi ước sao mẹ có thể thấy được cảnh này”.

“Chúng ta lạc đường rồi đấy, Q. ạ” – B. ngồi bệt xuống nền gạch đã mòn trũng. Hắn tuyệt vọng như thể một thiếu nữ bị nổ lốp xe giữa đường.

“Và anh định ngồi ngắm sao giữa những bát hương đến hết đêm nay? Hay anh đã quên rằng ở đây chúng ta không thể nào biết được bao giờ trời sẽ sáng” – Tôi nói.

Nhưng quả thật trời sao hôm nay đẹp quá.

“Anh không hiểu thế nào là lạc đường sao? Nếu không thể biết được đường đi thì tốt nhất cứ ngồi yên một chỗ. Tạm thời cứ thế đã”.

“Làm sao lạc đường nổi khi chúng ta chỉ đi theo đường thẳng. Chúng ta mới chỉ lên dốc rồi xuống dốc. Tôi chưa từng thấy trên đời có kẻ nào dừng lại giữa cuộc hành trình chỉ vì thấy một lò xo thay vì con ếch. Nếu anh muốn một cái nhà kho cháy thì cứ việc gọi cái miếu này là cái nhà kho ấy. Ở đây đâu có ai ngoài tôi để mà phản bác anh, mà tôi thì đối với tôi mà nói, nhà kho hay cái miếu nát cũng chẳng khác gì nhau”.

Tôi dựa lưng vào tường, trong bóng râm mặt trăng, đối diện với hắn.

“Mặt trăng không bao giờ giúp đỡ những kẻ lang thang trong đêm. Nó chỉ đe dọa” – Hắn nói và xua tay; đám mây xám lững lờ bay phía trên ngọn tre sáng rực lên và tôi nhìn thấy ba con đường mòn rẽ nhánh ngay sau miếu.

“Tất cả đồ đạc của tôi vẫn còn để ở đấy” – Tôi nói – “Cả con dao bấm Thái Lan và bức tranh Don Kihoté của Picasso”.

“Tôi để lại đấy cả kí ức về chuyện tôi đang ở phòng số bao nhiêu” – Hắn nói – “Tôi không thể nhớ được nữa. Anh nói đúng, đợi trời sáng ở đây chỉ như một trò cờ bạc. Tôi không thích sự may rủi. Nhưng chúng ta có tất cả ba con đường và tôi cũng không bao giờ thích phải lựa chọn”.

“Chúng ta có thể đứng trên gốc tre kia, thả một chân hương xuống và chúng ta sẽ đi theo đường mà nó đã đổ” – Tôi gợi ý –“Bố tôi từng nói rằng các vị thần cờ bạc thường chơi xóc đĩa ở trên những gốc tre như thế”.

“Vậy anh sẽ là người thả chân hương” – Hắn lơ đễnh nhìn những sợi tóc rủ trước trán – “Tôi không bao giờ dám đứng trên những gốc tre vì luôn có cảm giác một con chó khổng lồ với đôi mắt rực lửa sẽ nhảy lên cắn vào cổ tôi khi ấy”.

“Được thôi. Những que hương đôi khi cũng có ích cho người sống chúng ta, như thế này đây” – Và tôi đứng dậy, nắm trong tay que hương giữa những lớp mùi xoa dính máu.

 

 

*

 

 

Tôi không nhớ mình đã đứng ở đâu nhưng khi mở mắt ra tôi thấy một khung trời chật hẹp, giống như khi nhìn qua một khe cửa nằm ngang. Mặt trăng sáng trắng, lạnh lẽo; ở mép cái đĩa tròn ấy lia ria những tia sáng giống như những sợi kim tuyến. Tôi nhìn thấy A. đứng trên một con dốc làm bằng đá hoa cương bị cắt cụt ở giữa chừng. Sau một chút băn khoăn, tôi lên tiếng gọi. Dường như A. nghe thấy tiếng tôi; em đi xuống dốc trong bóng tối, dáng nhỏ bé và nhanh nhẹn. Nhìn em không hiểu sao tôi nghĩ đến đàn cá vây hồng bơi trong đêm. Nhưng hình như đã sắp bình minh, bầu trời xám đen hơi ngả sang màu tím. Khung trời của tôi cứ mở rộng mãi ra cho tới khi A. đứng ngay trước mặt, rồi em cười. Nhưng tôi không dám chắc.

“Những đốm lửa ấy đâu rồi?” – Tôi hỏi.

“Đốm lửa nào cơ?”

“Đốm lửa đến từ phía con ếch cuối chân trời. Em đã chờ đợi nó”.

“Không có ai mất cả đời để đợi chờ những đốm lửa. Anh biết điều ấy cơ mà”.

“Không, anh không biết. Nhưng có phải em vẫn còn nhớ nó, đúng không?”

“Phải, em nhớ. Nhưng từ đó đến nay đã là cả một khoảng thời gian vô tận”.

            Một con vạc thì không thể nào bay được ra đằng sau mặt trăng.

            Chúng tôi ngồi cạnh nhau trên một tảng đá bên bờ suối. Nước ngập đầy ánh trăng, nông và trong vắt. Ngay trước mũi giầy của chúng tôi, đàn kiến lặng lẽ đi bên nhau.

            “Anh J., anh ấy đã ăn những con kiến” – Tôi nói – “Ở ngay trong vườn hoa của anh, trên những viên sỏi. Còn anh, anh không bao giờ ăn chúng”.

            “Sao anh lại nói điều ấy với em?”

            Ồ, với sự ngốc nghếch của mình, A. chẳng có cách nào để không làm tổn thương đến tôi.

            “Chẳng có gì. Anh chỉ nhìn những con kiến và vô tình nhớ đến anh J.. Em nhìn xem, có phải là chúng đáng thương lắm không? Đáng thương như những cô bé vô tội”.

“Cái thanh cao giả tạo của con người khiến con kiến trở nên tội nghiệp” – Bố nói – “Vì thói dối trá của họ mà nó còn được sống”.

“Ô, dù sao tốt hơn hết là nên lẩn sâu dưới lớp cỏ trong công viên có đề biển cấm”. Anh J., anh ấy đã không bao giờ ăn được đến con kiến thứ hai. Không ai làm được điều ấy khi ở trong ánh trăng.

“Em cứ nghĩ rằng nếu em không tự tay mở cửa thì anh ấy thậm chí còn không bao giờ ra khỏi nhà” – A. nói – “Nhưng bây giờ em biết, em chỉ là một con bé ngốc. Có ai muốn sống cả đời với một kẻ chỉ biết nói chuyện về những quả ngô đồng xanh đâu. Khi em hiểu ra được điều đó thì anh ấy đã không còn ở bên em nữa”.

“Anh ấy đi vì thực sự anh ấy không còn có nơi nào để đến”.

“Nhưng tại sao? Tại sao anh ấy lại phải mang nó đi, để dằn vặt em trong những suy nghĩ rằng em chưa từng, chưa từng bao giờ có anh ấy. Anh ấy đã từng nói với em: “Hạnh phúc là thứ luôn được bán kèm theo số phận”, và em đã suy nghĩ về điều ấy bao năm nay; trong những đêm mất ngủ khi anh ấy dịu dàng hôn lên trán em và nói “chúc ngủ ngon” cho đến những ngày gần đây, em thiếp đi trong sự mỏi mòn quạnh quẽ. Em luôn cố tìm nhưng em không thấy; không thấy nổi hạnh phúc của mình trong chuỗi thời gian ngóng chờ dài dặc.”

Hạnh phúc vốn bất tử?

Ồ, không có gì là bất tử nếu nó bị lãng quên. Bất tử phải được gắn với đối tượng chịu sự dày vò của những ý nghĩ về nó. Nếu tôi là tôi, tôi sẽ nói với em như vậy? Và chẳng còn thứ gì có thể cứu vãn được nữa hay sao?

Tôi nghe thấy tiếng nước đang khóc. Róc rách và khóc.

“Em không thấy”.

“Em không thấy gì?”

“Em không thấy lại những điều đã mất. Em sợ hãi đến một ngày nào đó em không thể nhớ ra nổi gương mặt anh ấy và em biết rằng khi đó em chẳng còn thấy được một điều gì nữa”.

Mưa đang rơi, những hạt bụi quay tròn trong gió nhẹ và bay nghiêng. Mặt trăng nhòa đi; em ngẩng đầu lên, bụi nước trên mặt em lấm tấm. Tóc em thơm một mùi ẩm ướt.

“Em cảm thấy cuộc đời mình đã từng co rút lại thành một vài điểm sáng, những điểm sáng trong bóng đêm, những điểm sáng của hạnh phúc ngây ngất; nhưng giờ thì nó đang tan ra, lọt qua ngón tay em như gió và như cát”.

Ồ, em nói em đang nắm trong tay sự lụi tàn của một ngọn đuốc và nước chảy róc rách dưới chân tảng đá nằm trong vùng sáng mặt trăng. Mặt nước nổi gai. Tôi nhìn thấy R. đứng bất động nhìn xuống nước như thể chờ đợi những chiếc lá nhỏ ướt đẫm đang dềnh lên theo những con sóng nhỏ trôi đi. Rồi nó uống nước một cách thản nhiên khi vô vàn những con rắn xám đen vẫn lập lờ bên dưới cái lưỡi màu hồng của nó.

“Ồ, em có biết anh J. là người thế nào không?”

“Không, em không biết”.

“Anh ấy chẳng sống nổi cả đời với một cánh cửa anh ấy muốn mở những cánh cửa khác nhau mỗi khi thức giấc”.

“Anh nói dối”.

“Anh không bao giờ nói dối em”.

Ồ, đúng thế, anh nói anh không bao giờ nói dối em, cũng như em vẫn thường nói chẳng để làm gì cả. Phải. Chẳng để làm gì cả. Chẳng có cái gì để làm cái gì cả. Người ta sáng tạo ra tất cả mọi sự để chúng ta thờ ơ với chúng. Sống và lãnh đạm. Cứ thế.

“Ngay cả điều ấy cũng không thay đổi được gì”. Em nói. Tôi không nói.

“Qua con suối này thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ đến một rừng bạch đàn thưa. Ở đấy có những con sóc mà đến bây giờ anh vẫn không hiểu chúng kiếm ăn bằng cách nào. Anh biết là chúng ăn bỏng ngô. Nhưng giữa rừng bạch đàn thì lấy đâu ra bỏng ngô?”

Em là một con sóc, điều ấy hợp lý bao nhiêu so với những gì hiện ra trước mắt tôi. “Với con người, yêu mến họ thôi đã là một cách tự hạ mình” – Anh J. nói – “Tao cảm thấy bị tổn thương sâu sắc nếu buột miệng chào hỏi ai đấy khi vô tình gặp họ đâu đó trong cuộc đời”. Nhưng tại sao không phải là tôi? Vả lại, không chỉ loài cóc mới cảm thấy như vậy.

Má em ướt đẫm, mặt trăng xoay tròn trên nền trời và bóng tôi ôm bóng em dưới mặt nước. Tôi không có gương mặt.

“Chẳng để làm gì hết, buông em ra”.

Một con sóc có xứng đáng đòi hỏi hạnh phúc hơn con người không? Em không đòi hỏi, em giữ nó, em muốn giữ nó như nhốt ánh sáng trong bóng đêm. Đàn kiến vẫn đi.

“Buông em ra”.

Tôi nhắm mắt lại với suy nghĩ nhẹ nhõm trong lòng: trên đời này đã không còn những người chưa gặp được tình yêu, chỉ có những kẻ không bao giờ gặp được tình yêu.

Tôi không biết mình đang ở đâu.

 

bài đã đăng của Nguyễn Nhật Minh


2 Bình luận »

  • Nguyễn Nhật Minh says:

    Cám ơn Nguyễn Thị Hải. Bạn là người thứ 4 có nói rằng “thích” những gì tôi viết. Điều ấy làm tôi vui nhiều lắm.

  • Nguyễn Thị Hải says:

    Tôi đọc tác giả Nguyễn Nhật Minh lần đầu tiên trên damau.org và đã đọc hết các tác phẩm trong một buổi chiều. Tôi rất thích và chờ đợi các sáng tác mới của anh.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)