Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

phác họa (kỳ 4)

 

 

6

 

“Bây giờ thì tao 11 tuổi” – Bố nói lúc tôi nhìn ra ngoài cửa sổ – khoảng trống hình chữ nhật trên tấm tôn rỉ lượn sóng, phía trên là một tấm mành được cuộn lại trông như cây chuối. Hoàng hôn có mầu xanh thẫm. Ngay gần chân tôi, lũ dơi đang liệng trên mặt con mương để đớp muỗi – “Kể cả tao nói nếu bây giờ tao 11 tuổi, thì mớ tóc bạc này đâu còn nghĩa lí gì nữa”. Bố nói. Ông vẫn thượng chân lên mặt bàn – “Cả cái nước da cứt trâu này, cái răng cửa sắp rụng này, cái dương vật nhăn nheo này … sẽ không còn nghĩa lí gì nữa. Loài người xưa nay vẫn coi thường chữ “nếu”, họ chỉ lôi nó ra trong những sự đề phòng và tiếc nuối. Họ không tin vào chữ “nếu”. úi giời, lạy Chúa lòng lành. Mày làm ơn đừng nhăn mặt, bây giờ tao đã là người của Thiên Chúa và tao nhắc lại tao chỉ còn có 11 tuổi. Khi mày “nếu” tức là mày không còn là mày nữa. Ngược lại sẽ là dối trá, mày bảo tao có cách gì chịu đựng được? Này nhé, nếu mày là cóc thì mày phải là cóc, mày không thể là mày nữa. Mày không thể nghĩ nếu mày là cóc mày sẽ cưỡng hiếp tất cả đàn bà trên trái đất này; tao nói, nếu mày là cóc có khi mày mất cả ngày ngồi soi gương bên một vũng nước nhỏ và tìm cách liếm cái bụng trắng hếu của mình. Mày không thể nói trước gì được vì khi là cóc tức là mày sẽ là cóc, mày không còn là người nữa.”

“Anh J. nói, khi con là một con chim sẻ thì con chim sẻ không còn là con – “Tôi hơi dịch chuyển người để nhìn sang bên kia đường – “Bố này, từ chiều đến đây con không nhìn thấy con mèo đâu cả. Bố không đối xử tệ bạc với nó đến mức nó phải bỏ đi đấy chứ?”

“Đàn chuột đã xé xác nó và tuần trước” – Bố nói – “Tao nghĩ là tuần trước. Chúng chỉ để lại ít lông và một khúc đuôi. Tao cho là mình đã hơi bất cẩn. Dù sao đấy cũng là một con mèo kiêu hãnh, nó chưa bao giờ thèm dấu cứt của mình.”

“Thật đáng tiếc. Không hiểu sao hôm nay con lại muốn được nghe tiếng kêu của nó. Tiếng mèo kêu trong đêm tối đôi khi giống như tiếng trẻ con khóc, nhưng thảm thiết hơn”.

Tôi nhìn sang bên kia đường. Một con bò đơn độc đang đi trong hoàng hôn xanh. Cái mông của nó nhìn tôi.

“Khi bố không kể chuyện thì từ “nếu” của bố thật vô ích” – Tôi nói, cảm thấy đàn muỗi đang tràn vào nhà. Bố vừa bật điện. Tôi không hiểu chúng bị thu hút bởi ánh sáng hay bởi hơi người. Ở đây làm gì có người. Muỗi thì đâu dám đốt cóc. Đèn điện. Phải, tôi đang đứng trong ánh sáng của đèn điện. Phải. Điện. Có điện mới tởm. Đôi khi tôi nghĩ tại sao chúng ta lại cứ phải sống chung với điện, nếu không muốn nói là sống dựa dẫm vào nó. Khoa học chỉ có mỗi việc biến loài người thành một lũ ẽo ợt ngu xuẩn; nhưng người ta thì bảo rằng thực ra cái đó là để giúp cho cuộc sống con người trở nên tốt đẹp hơn. Cho con người. Phải rồi. Tốt đẹp hơn. Cũng phải. Tốt đẹp không chịu nổi. Tôi nhớ rằng có lần vào thời tuổi trẻ phức tạp, tôi đã từng tự hỏi rằng thực ra ánh trăng và ánh đèn điện, cái nào đẹp hơn. Tất nhiên lúc ban đầu người ta làm ra bóng đèn đâu phải để làm đẹp nhưng tôi nói con người thời đại này đâu có biết làm gì khác ngoài việc mài đi giũa lại, tô son trát phán lên các phát mình cũ rích rồi cứ bẽn lẽn đề nghị người ta cấp cho cái bằng, rồi dán lên cả cửa nhà xí. Nhưng tởm lợm nhất là cái thứ tên gọi “tri thức nhân văn”. Tri thức bới móc thì còn khả dĩ đúng. Tất cả được thổi phồng lên từ một hạt bụi, rồi cứ lấp lửng như thể văn chương. Nói chung là chẳng can hệ gì, cả bóng đèn lẫn các ông giáo sư xã hội. Xét cho cùng bất cứ cái gì do con người làm ra đều có hơi hướng của sự lãng quên, cả ánh đèn điện cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng lãng quên thì liên quan gì tới cái đẹp. Chẳng gì cả, nó chỉ là một thứ nội lực, là thứ vĩnh viễn không thể chai lì được. Nó luôn sống động, sống động vô cùng. Tóm lại đừng có rỗi hơi mà ngồi so sánh dù ngay từ bé tôi đã thấy rằng chẳng thú vị gì khi ngắm trăng mà lại đứng ngay dưới một ngọn đèn cao áp. Bây giờ thì số lượng những người ngắm trăng và những người ngắm đèn đường trong đêm cũng chẳng khác gì nhau. Không những thế, nếu bạn cố sống đến khi rụng hết cả hàm răng thì bạn sẽ thấy, thật ra tất cả mọi thứ trên đời cũng chẳng khác gì nhau. Bóng đèn hay các ông giáo sư cũng vậy. Mà Thích Ca hay cứt dê thì cũng thế.

“Con người không bao giờ hiểu được từ “nếu”, họ chỉ đang dùng nó như một thứ công cụ đã mòn. Thằng anh mày thì khác, nó hiểu tất cả nhưng đồng thời cũng chẳng biết gì. Những suy nghĩ của nó không thuộc về nó. Khi hiểu ra như vậy thì số phận của nó đã được định đoạt, nó chẳng có ý nghĩa gì ngay từ lúc còn chưa sinh ra. Nó là cái ruột thừa của tạo hóa và bây giờ nó đang mưng mủ.”

Một con đom đóm to khủng khiếp, trông giống như một cái đèn trời, bay qua. Tôi bỗng có cảm giác rằng tôi không thể nhớ đốm sáng lập lòe kia là một con đom đóm mặc dù tôi vẫn có thể gọi nó là con đom đóm. Tôi nhớ nhưng tôi không hiểu thế có nghĩa là thế nào? Phải, như thế có lẽ hợp lý hơn. Tôi bắt đầu cảm thấy mình không còn hiểu bất cứ cái gì nữa.

“Không chỉ suy nghĩ mà tao cảm thấy ngay cả lời nói của nó bây giờ cũng không thuộc về nó. Nó hoàn toàn đứng bên ngoài lời nói của mình. Thằng bé tội nghiệp, nó không bao giờ sở hữu được những thứ là chính nó. Cả cuộc đời này nó luôn phải trốn chạy sự trống rỗng, trốn chạy ngay chính cả sự tồn tại thực sự của nó. Điều ấy khiến tao đau xót hơn cả việc từng ngày ngắm nhìn nó biến dần ra một con cóc.  Làm sao ta có thể biết được gì một khi nó hóa thân thành cóc. Một con cóc có thấy hạnh phúc khi ngồi ngắm hoàng hôn không? Một con cóc có thích thủ dâm không? Q. ạ, cả tao lẫn mày đều không bao giờ biết được điều ấy”.

Mẹ nó.

“Phải, cả bố và con đều không biết. Không ai biết được nỗi đau trong tim anh ấy khi ngắm nhìn lũ cóc, đồng loại trong tương lai; nỗi dày vò khi cố gắng nhịn ăn từng con muỗi và xót xa khi cảm nhận từng ngày những cái mụn sùi lên dưới lớp da. Tự mỗi con người đều là một tay nhà báo khốn kiếp, nó chỉ biết và chỉ có thông tin. Nó không bao giờ hiểu”.

Bên kia đường vài nhà đã lên đèn. Trong quán nước nhỏ xíu dưới cây gạo, một lão già đang chống cái cửa sổ lật bằng cót với một chiếc gậy. Nó gãy liên tục nhưng lão không hề nản chí mà cứ cột đi nối lại bằng những sợi dây, thậm chí còn có vẻ thích thú với công việc phải gió này nữa. Lão ngậm trong mồm một que hương, nhếch cái mép già nua và ư ử hát một bài gì đấy. In hệt thằng cha Sisyphe. Cách quán nước độ chục mét là một hiệu may nhỏ, lão chủ hiệu đang lột truồng con mannequin có đôi chân dài và bộ ngực của thần vệ nữ. Rồi lão đi vòng tròn quanh nó, sờ nắn, vuốt ve cứ như thể nó được làm bằng thịt tươi vậy. Cái mặt nhăn nhúm của lão được kéo căng ra bởi một niềm tự hào không nỡ che dấu. Tôi còn ngỡ nó còn có vẻ rực hồng lên nữa. Mà cũng chẳng có gì để mà phải trố mắt với lão ta, ở cái xứ khỉ ho cò gáy này, tay nào có được một đứa con gái nõn nà, dù có làm bằng gì đi nữa, để cứ tối tối lột truồng ra rồi thích làm gì thì làm, mà lại không tự hào thì tôi cứ xuống địa ngục.

Hai lão già làm trò khỉ của mình dễ đến cả thế kỉ khiến tôi bỗng dưng díp mắt lại. Rồi tôi ngáp, một cái ngáp hết hơi.

“Trước đây con vẫn nghĩ những kẻ có được một thời tuổi trẻ đáng nhớ đều biết lựa chọn cho mình một cuộc sống tốt đẹp trong tương lai. Bởi vì thông thường khi về già chúng ta có xu hướng thu nhỏ mình lại một cách toàn diện . Nhưng bây giờ thì con biết con đã lầm, ít ra là trong trường hợp anh J., anh ấy không thể già đi, không biết cách để mình già đi; chính vì vậy mà con người anh ấy cứ phình mãi ra, phình to đến nỗi anh ấy không thể chui vào một chỗ nào đấy của cuộc đời để mà sinh sống. Nếu như mỗi người trong chúng ta đều sống trong hiện tại và sống cho hiện tại, do đó mà chúng ta con có khả năng định hướng thì anh J. lại không biết gỡ quá khứ, tương lai và đặt chúng sang một bên. Anh ấy ôm đồm tất cả, anh ấy là mớ hỗn loạn của tất cả thời gian mà anh ấy đã tồn tại trong cõi đời này và chính sự bất cân xứng giữa các thành phần thời gian đã khiến anh ấy không thể đứng vững. Anh ấy cứ lắc lư, cứ mãi lắc lư”.

Lão già trong quán nước đã gặm gần hết que hương. Không hiểu sao tôi bỗng thấy con người lão và khung cảnh xung quanh trở nên bạc phếch, cứ như một bức ảnh đen trắng. Rồi tôi cho rằng mình đang nhìn thấy bức tranh thu nhỏ của cuộc đời lão: một con người ngây dại bước ra từ bãi rác rồi  trốn chạy vào một góc tường cụt, chơi với những cái vỏ chuối và lớp bụi xám. Tuyệt vọng đến hãi hùng. Xét trên cái nền ấy thì lão chủ hiệu may có vẻ có sức sống hơn một chút. Theo như tôi cảm thấy, với một xác suất nào đó, lão dường như ý thức được đôi chút cái dục vọng bé tí tẹo của mình. Và hi vọng le lói. Hi vọng đến mửa được. Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng tìm được môt điều thú vị nho nhỏ trong cái tổng thể ngái ngủ này, cả hai lão già đều giống như tôi, họ đang đứng trong ánh sáng của đèn điện. Nhận xét này khiến tôi buồn cười. Tất cả đều thật vô lí, không sao mà hiểu được. Và thế là tôi bật cười khanh khách, dễ đến cả cuộc đời rồi mới cười được như vậy. Đúng là tôi đã chẳng còn hiểu nổi cái gì nữa.

“Mày cười cái gì vậy?” – Bố hỏi. Ông đang đọc một cuốn sách gì đấy. Có vẻ là của Novalis. Sợ thật.

“Con đang nghĩ không biết mẹ có thích tiếng dế kêu trong cỏ như tiếng kinh chiều xưa kia không?” – Tôi nói – “Tuần trước con có cùng chị Uyên và Caddy đi thăm mộ mẹ. Caddy cầm những bông hoa thược dược vàng trên tay còn con đưa chị Uyên cầm một cái đài cassete nhỏ chứa mấy bài kinh nhật tụng. Bố cũng nên về thăm mộ mẹ một lần cho biết, con mới quét vôi và sửa sang lại đôi chút. Ở nhà vào thời gian này mọi người vẫn cố gắng để bên mộ mẹ luôn có những bông sen nở, thứ hoa mà mẹ rất thích”.

“Đấy là suy nghĩ khiến mày vui thế à?”

“À không, con cười là vì chị Uyên. Dạo này chị ấy có vẻ đã tỉnh táo hơn nhiều, mỗi khi trở bệnh cũng không còn bướng bỉnh như trước nữa. A. đút cơm cho chị ấy cũng không bị cắn vào tay. Có lần Caddy còn trông thấy chị ấy vẽ vời gì đó trong phòng, Caddy đòi xem nhưng chị ấy không cho và làm bộ giận dữ nhưng thực ra là ngượng nghịu. Caddy nói rằng có thể đấy là tranh một chàng trai nào đó mà chị Uyên đã tình cờ nhìn thấy trong những lần dạo chơi cùng Caddy. Con nghĩ thế cũng hợp lý vì đàn bà, dù là thiếu nữ xuân thì hay cụ bà móm mém, dù điên hay tỉnh thì khi vẽ cũng chỉ vẽ các chàng tuổi trẻ chứ đâu rảnh hơi và dở hơi vẽ các ông già. Tiếc là nếu có một chàng trai nào đó thật thì cũng khó xử vì chị Uyên bây giờ chắc cũng đã đáng tuổi làm mẹ anh ta. Nhưng dù thế nào sắp tới có lẽ con cũng nên gửi chị ấy đi Cổng Đen, tuy con không tin mấy thằng cha trong ấy lại có thể làm nổi cái gì khiến bệnh tình chị con thuyên giảm, vì nếu không con đã gửi chị ấy vào đó từ lâu rồi. Chúng không khiến chị ấy hóa điên thực sự khéo còn là may; bố cũng biết là con không tin vào y học, nhìn ngay cái biểu tượng của bọn này cũng biết: một con rắn! Giết người là cái nhỡn tiền thứ đến mới là chữa bệnh. Cổng Đen cũng ở khá gần chỗ con. Con buộc phải làm thế vì nhà mình, bố xem bay giờ chỉ còn mấy mụ đàn bà, Caddy thì cũng phải nên lấy chồng mà chị A. thì đã mòn mỏi lắm rồi, con không muốn chị ấy phải khổ thêm nữa. Từ ngày anh J. bỏ đi lần nữa, chị ấy đã thay đổi rất nhiều, thay đổi trong im lặng nhưng con nghĩ đấy cũng chỉ là thói cố chấp của đàn bà. Thực tình đã lâu dường như chị ấy chẳng còn chút niềm vui gì”.

“Mày cứ việc làm những cái mà thích” – Bố nói.

“Đấy không phải là những cái con thích”.

“Thế thì mày làm ơn làm cả những cái mày không thích. Tao không nói rằng đấy là những chuyện không can hệ gì tới tao. Thằng con trai mình định tống chị nó vào nhà thương điên khi chị nó hoàn toàn bình thường hay ít ra là bình thường chán so với những kẻ còn lại trong cái nhà này, chẳng ai bảo đấy là chuyện nhỏ nhặt. Nhưng tao nói mày cứ làm gì mày thích vì tao hiểu mày nói tất cả những chuyện ấy chỉ để cho tao biết. Trước mặt tao mày thích nói những điều như thế. Mày quá rõ là tao không muốn hay không có khả năng can dự vào chuyện ấy hay dù có muốn cũng chẳng có nghĩa lí gì. Cái nhà này bây giờ chỉ là mày mà thôi, chỉ là mỗi mày và tao hiểu mày đang muốn làm cái gì đó hay thậm chí mày vẫn đang làm một cái gì  đó. Là cái gì thì hoặc là tao không biết hoặc nó đã bầy đống trước mắt mà tao không có khả năng nhìn thấy. Nhưng liệu còn cái gì có thể trôi đến đâu được nữa. Vậy đấy, giờ thì mày cứ làm ơn làm cả những cái mày không thích.”

“Bố ạ” – Tôi nói, lòng chỉ mong mấy con chữ khốn kiếp nhảy ra và cắm vào mặt ông – “Con vẫn nói là Cổng Đen ở ngay gần chỗ con mà cho dù nó ở xa thì con vẫn có thể thường xuyên đến thăm chị ấy, tất nhiên là dẫn theo cả Caddy và chị A. nữa. Bố biết là con không thể yên tâm được gì với lũ bác sĩ tâm thần, chúng nó còn nguy hiểm hơn bọn điên nhiều. Con nghe nói ở Cổng Vàng, chúng cứ để mặc cho các nữ bệnh nhân bốc cứt ăn và dạy cho các nam bệnh nhân biết cách thủ dâm mỗi khi nhìn thấy gái. Nói là điều trị phân tâm, là giải phóng dục vọng các thứ. Nhưng tất nhiên con sẽ dạy cho chúng biết có trách nhiệm hơn với quyền năng của mình, như thế chị Uyên cứ yên tâm mà đuổi bướm hay vẽ tranh gì đó tùy thích. Có điều con chưa muốn quyết định hẳn làm những việc này nếu không có được ý kiến của bố vì dù thế nào trên danh nghĩa, bố vẫn là bố của chúng con”.

Những ông bố, xét cho đúng, dù có là kẻ thù thì cũng không vì thế mà trở nên nhạt nhẽo; ta vẫn nên hỏi ý kiến họ trong những việc có liên quan đến họ và biết đâu lại chẳng nhận được những lời khuyên xác đáng, dù là có hiếm hoi đến mấy?

“Nghe vậy mà tao thấy mừng quá” – Bố nói, mặt ông thản nhiên đến độ tôi tưởng ông có đặt một cái cassete trong mồm và giờ thì ông đang cho chạy những đoạn ông đã cho ghi âm từ trước – “Có điều đừng để tao mừng hụt. Người ta thấy cái cảnh này không đến mức khoái trá nhưng chắc cũng gật gù được; nhưng nếu họ chịu đặt mình vào địa vị một thằng bố như tao thì sẽ thấy chẳng hay hớm gì. Đấy là tao nếu thế. Mẹ kiếp. Tao nếu thế. Q. ạ, mày cứ làm những gì mày sẽ làm. Tao biết ơn mày đã nói cho tao tất cả những chuyện ấy. Tao biết ơn lắm, giống y như thằng anh mày vậy. Bây giờ làm ơn kéo tấm mành ấy xuống cho tao, nếu không lũ muỗi sẽ khiến cho chúng ta không thể thở được”.

“Lão chủ hiệu may có vẻ đang hạnh phúc” – Tôi nói.

“Ai?”

“Cái lão mặt chuột nhắt có con mannequin bên đường ấy. Con nghĩ lão vẫn thường làm tình với nó”.

“Ờ, đấy cũng là một lối thoát” – Bố nói – “Thả cái mành xuống”.

“Con biết là bố nhìn thấy con thay đổi nhiều từ ngày con tìm lại được Caddy” – Tôi nói trong khi gỡ sợi dây treo mành –“Nhưng con vẫn hi vọng sự thay đổi ấy không phải là vô ích; tuy như bố nói cái nhà mình còn cái gì nữa để mà cứu vãn. Anh J. thì lại mất tích, chẳng thể nào mà liên lạc được. Mới rồi con nghe phong thanh anh ấy đang buôn hàng inox phế liệu ở trong Nam, con mò vào tận nơi hỏi thăm nhưng một thằng cha láu cá sống dưới gầm cầu bảo rằng anh ấy đã bỏ đi, đúng ra là bỏ trốn, từ kiếp trước rồi. Nó nói hồi tết công việc của anh thua lỗ nặng vì đợt ấy inox rớt giá thê thảm. Anh ấy lại nợ chồng nợ chất một bọn nào đó từ trước nên không dám giữ hàng, đành nhắm mắt bán bừa rồi thì biến. Nó còn chỉ cho con cái nhà gỗ của anh ấy ở gần bờ sông, chẳng khác gì cái nhà kho. Bọn thập phương tứ xứ cũng không thèm bén mảng lại đấy vì nó bốc mùi hôi khủng khiếp, tuy ai trong chúng ta cũng đều ít nhiều thích mùi hôi. Nhưng lí do chính là trong nhà rất lắm chuột, chúng tụ tập ở đấy và xung quanh, đông đúc đến đáng ngạc nhiên. Con thử bước vào thì chúng bỏ chạy toán loạn; chui xuống hang trong cát trước cửa nhà, chạy giữa những bãi cỏ, lẩn sau đống đồ đạc bẩn thỉu và nham nhở hay đánh đu trên cửa sổ. Tuy thế cũng có vài con hung dữ lao vào con nhưng chỉ cần một cây gậy là ổn thỏa. Mới đầu con nghĩ rằng lũ chuột ở đây sau khi anh J. đã đi khỏi và có lẽ chúng bị thu hút bởi thứ gì đấy anh đã để lại, ví dụ như nhựa cóc chẳng hạn. Bởi tuy anh J. là một con cóc nhưng lại là con cóc nguy hiểm, bọn chuột biết rõ điều ấy và chúng chẳng liều mạng gì mà bén mảng quanh đó cả, đừng nói là chui vào nhà. Nhưng sau đấy, tên bới rác đêm cho con biết là con nhầm; lũ chuột đã kéo đàn lũ đến đấy ngay từ khi anh J. mới dựng nhà, chúng chễm chệ ngồi ở đấy, ăn cơm cùng với chủ và sẵn sàng xua đuổi bất kể khách khứa nào léng phéng lại gần. “Đúng là chó cậy gần nhà” – tên bới rác nói về lũ chuột như thế và hắn kể rằng chỉ có duy nhất một lần hắn đứng được cách gần nhà 5m, trên doi cát sát mép nước để gọi anh J. đi làm thêm cùng với hắn, vì sắp Tết, thiên hạ xả rác như lũ lụt; và anh J. để bảo vệ bạn mình đã phải cầm chổi quật lũ chuột nát như tương ngay trên bãi cỏ. Sau khi anh J. bỏ đi, thằng cha cùng với mấy tên đồng nghiệp quyết định đuổi cổ lũ chuột khốn kiếp để lấy chỗ ở nhưng không được, vì lúc này tuy chúng không hung hăng như trước nhưng vẫn lì lợm ở lại, đuổi cách gì chúng vẫn cứ loanh quanh như chó ở đấy. Mấy cha kia sau đó lại đánh bẫy đánh bả nhưng riết rồi cũng chán vì bọn chuột kia khôn chẳng kém gì người; mới đầu người ta thấy chúng chết đen kín bờ sông nhưg sau một đêm nước triều lên cuốn bãi xác ấy đi thì cả bẫy lẫn bả chẳng tích sự gì nữa. Tên bới rác cũng nản chí nên cuối cùng hắn cũng để mặc lũ chuột trời đánh ấy ở lại với căn nhà; nhưng chỉ được độ vài tháng thì không hiểu sao từ đấy bốc ra mùi thối đến lợm giọng, thối đên mức cả bọn ruồi cũng không chịu đựng nổi … Cái xóm gầm cầu ấy người ta kêu như cha chết và cuối cùng quyết định sẽ đốt béng căn nhà ấy đi. Có kẻ bảo tốt hơn là dỡ lấy gỗ làm mấy tấm phản nhưng số còn lại cười khẩy nói rằng cứ tự nhiên nếu chú mày nghĩ rằng có thể đứng lại đấy 5’ mà không thối rữa cả hai lá phổi ra, đấy là trong trường hợp lũ chuột để cho chú mày làm như thế. Rồi đúng cái ngày mà họ chuẩn bị châm lửa thì con đến kịp. Câu chuyện này thật kì lạ, bố có thấy vậy không?”

Tôi dừng chiếc mành lại giữa chừng để ngắm nhìn hoàng hôn xanh dường như không bao giờ dứt. Bố chẳng nói gì cả cứ như thể ông đã bị đống chữ đè chết. Bên kia đường lão già bán nước đã chống xong cái cửa và vừa cắm thêm que hương nữa vào mồm, lão vừa thong thả xếp lại mấy thứ hoa quả bánh trái trên mặt bàn, trong không khí thoang thoảng tiếng hát nghe như tiếng rên rỉ. Vậy là lão đã ăn đứt thằng cha Sisyphe, ít nhất thì lão cũng thực sự có một cái kết thúc đúng nghĩa trong ngày hôm nay. Mặc kệ cho ngày mai mọi sự cứ lặp lại. Phải, cứ mặc kệ đi.

Bên ngoài phạm vi cây gạo, lão già thứ hai đã kéo cửa xuống, nhốt ánh sáng điện vào trong nhà. Có lẽ lão đi tắm rửa hay cơm nước gì đấy; rồi sau khi xem hết sạch sẽ chương trình TV chắc lão sẽ ra vuốt ve đứa con gái kia bằng cái dương vật mốc meo của mình. Lão sẽ phóng tinh một cách khổ nhọc như cái tuổi của lão và lăn quay ra đất ngủ, ngay dưới háng bức tượng. Như thế cũng tốt.

Còn ở bên này đường lão già thứ ba đang đọc sách, tập trung giỏi đến mức dường như không nghe thấy thằng con trai nói gì. Lão ngồi đấy, tĩnh lặng như thể từ xưa đến nay lão vẫn là thành phần bất di bất dịch của thời gian và không gian, nơi mọi biến chuyển xung quanh đều chỉ như một thứ ấn tượng hão huyền không mảy may tác động đến trạng thái suy tư của lão. Tóm lại, đấy là một khối lãnh đạm, lạnh lùng kết tinh.

Ba lão già sống còm cõi như ba hòn đảo ở cái xứ sở mới được kéo điện lưới chưa đầy một năm, nơi bọn thanh niên tối tối hò hét về sự ngu đần của chúng trong bộ quần áo hoa lá cây cành và một đôi tông đầy bùn đất, tôi nhận thấy mọi điều cũng chỉ đến thế. Đến thế là cùng.

“Cuối cùng con cũng không thuyết phục nổi họ ngừng việc thiêu hủy ngôi nhà, dù con đã cố gằng lí lẽ rằng nếu như lũ chuột đã cương quyết bám lại như thế ắt hẳn phải có lí do. Thứ nhất có thể chúng tin rằng anh J. sẽ quay lại đây sau một khoảng thời gian nào đấy vì anh ấy không thể đi mà không có một lời dặn dò nào cho chúng. Bố vẫn biết anh ấy chỉ đối xử bạc bẽo với riêng con người. Riêng việc lũ chuột ở lại đã chứng tỏ rằng anh ấy muốn chúng như thế, một là lời hứa quay trở lại, hai là anh ấy muốn chúng trông giữ ngôi nhà này trong khoảng thời gian anh ấy đi vắng. Điều này hoàn toàn hợp lý vì có một tay cửu vạn mũi hếch đã kể, độ 1 tuần sau khi anh J. bỏ trốn, đám chủ nợ có đến lục soát nhà anh nhưng chẳng thấy gì; sau đó bọn này định dỡ căn nhà cho bõ tức thì gặp phải phản ứng quyết liệt của lũ chuột, chúng nổi điên lên và lao vào cắn xé lũ ngu đần ấy. Tay mũi hếch nói rằng đám chủ nợ đã phải chạy bán sống bán chết ra cửa với đầy đủ vết trầy xước trên mặt và chân tay, và phía sau lưng bọn chuột đứng kín đặc trước cửa và trên mái nhà. Sau đấy, tên bới rác đã có thỏa thuận với bọn chủ nợ về quyền sử dụng ngôi nhà với một số điều kiện; bọn kia dù rất căm nhưng rồi cũng đồng ý. Mọi chuyện tiếp theo thế nào thì bố đã biết. Lúc đó con đã sử dụng việc ấy để phỏng đoán rằng, sở dĩ lũ chuột chống cự quyết liệt thế khi người ta định dỡ nhà của anh ấy là bởi vì rất có thể chúng có nhiệm vụ bảo vệ căn nhà, cụ thể hơn là bảo vệ một cái gì đấy ở trong căn nhà mà có lẽ anh J. do vội vã hoặc có một lí do nào đấy đã không thể mang theo. Con cố gắng đề nghị rằng trước hết mọi người nên xem xét cặn kẽ xem thực ra cái gì đã gây ra mùi hôi khủng khiếp ấy và tại sao đến tận bây giờ nó mới bốc mùi hôi. Cái này tất nhiên không phải do bản thân căn nhà, vì nó làm bằng gỗ xoan, bình thường có mùi thơm rất dễ chịu; cũng không phải do các đồ đạc trong nhà, vốn chẳng có gì. Con và vài người nữa đã xem xét rất kĩ, đồ đạc chỉ có một bộ bàn ghế, một cái phản, một cái bình nước lọc đã uống gần hết, một bộ quần áo lao động màu xám treo trên mấy cái đinh, một bức tranh nhái của Corot dán trên đầu phản, một cuốn sách nói về luật khai khoáng và một chậu hoa không có cả đất. Chẳng có cái gì tỏa ra mùi thối cả. Rồi con nghĩ tới lũ chuột, điều này quá vô lí vì xét trong chừng mực nào đấy chúng còn dễ ngửi hơn cả người. Thế còn phân của chúng, thưa, chúng bây giờ đã bắt chước tính cách của loài mèo ngày xưa, có lẽ đã dấu tất cả dưới lớp cát. Trong toàn bộ gian nhà và xung quanh không có dấu vết của bất cứ loại phân nào. Con đã tuyệt vọng kiếm tìm mọi ngóc ngách của căn nhà, trần và tường trong cái đầu kín mít bởi túi nilon và 3 lần khẩu trang, nhưng không thể tìm thấy bất cứ cái gì khả dĩ gây ra mùi thối. Chúng rõ ràng không tỏa ra từ một trung tâm nào hay đến từ một hướng nào cụ thể, như bốc từ dưới đất lên hay chìm từ trên trời xuống; khiến những nỗ lực của con trong gần 3h đồng hồ trở thành vô ích. Con như kiệt sức lúc ấy. Rồi con tự hỏi lí do nào thôi thúc con tìm cho ra cái nguyên nhân gây mùi thối kia, con mong chờ cái đó là gì? Một manh mối nào để bắt liên lạc với anh J. ư? Quá vớ vẩn, anh ấy sẽ chẳng bao giờ để lại một cái gì tương tự thế vì mỗi khi ra đi anh ấy chẳng biết được mình sẽ đi đâu. Một cái gì đó có ý nghĩa quan trong trong cuộc đời anh ấy, để qua đó con có thể có hi vọng giúp ích được chút gì cho cuộc sống của anh? Nhưng lẽ nào lại có một thứ gì như vậy. Dù là na ná như vậy? Thế thì rốt cuộc con chờ đợi một kết quả như thế nào? Con không biết nhưng rõ ràng con cảm thấy trong việc này đang chứa đựng một điều gì đó thật bí ẩn. Một bí ẩn hệ trọng. Và nếu nó không là điều quan trọng với anh J., hiển nhiên, thì ít ra nó cũng rất quan trọng đối với con. Và thế là con ra sức tìm nhưng tất nhiên con lại thất vọng. Có quá nhiều thứ tỏa ra mùi thối mà chúng ta không bao giờ có thể tìm ra được. Mọi chuyện lúc ấy có lẽ sẽ khác đi nếu con nói với những người kia về một chuyện lạ lùng mà chắc là họ không biết, để qua đó thuyết phục họ dời thời điểm phóng hỏa đi vài ngày. Đấy chính là mối liên quan giữa anh J. và những con chuột, điều mà tay bới rác đêm đã khiến con rất ngạc nhiên về phỏng đoán sai lầm của mình. Tuy vậy con đã không nói vì thực tế con cũng chưa biết nên lí giải nững việc trước mắt ấy như thế nào. Có khi không hẳn là vì anh ấy đã tuyệt vọng mà tại bời anh ấy đã hiểu ra một điêu gì đó, như bố nói, là hiểu một điều gì đấy thực sự về chính bản thân anh, giống như Rimbaud xưa kia. Vì không nắm chắc được suy đoán của mình nên con thấy lí do nếu có đưa ra cũng không thuyết phục và chỉ thêm rắc rối, nhất là nó không giúp ích gì được cho việc đoán biết xem đích xác là cái gì đang tỏa mùi hôi. Chính vì thế mà mọi người vẫn quyết định đốt căn nhà vào tối hôm ấy. Đôi người khi đó còn lắc đầu vì sự gàn dở của con.”

Tôi buông mành xuống. Bố vẫn ngồi im như tượng, như thể số câu nói trong ngày của ông đã hết. Ông chứ dí sát cuốn sách thổ tả ấy vào đôi mắt kèm nhèm, gần tới mức đứng ở đây tôi chẳng thấy nổi gương mặt ông. Chào. Novalis. Bông hồng xanh. Lãng mạn quá thể. Chỉ có điều tôi thấy bố chẳng hợp với trò này tí nào. Tôi thấy hơi tiếc là ông đã bỏ rượu và chuyển sang nghiện Chúa.

“Sao mày không kể tiếp đi?” – Bố hỏi khi thấy tôi im lặng – “Mày nói không thèm nhìn vào tao thì tao cũng có quyền nghe mà không nhìn mày lắm chứ”.

“À vâng” – Tôi nói – “Rồi thì ngôi nhà cũng cháy rụi. Mọi người chung tiền vào để mua một can xăng từ trước đấy; thực ra cũng có đôi chút khó khăn khi rưới chỗ xăng ấy vào căn nhà vì hình như lũ chuột cũng linh cảm thấy điều gì đó. Lúc bọn con bước vào, mỗi người cầm theo một ống nước, con xách can xăng, thì bọn chúng có vẻ bị kích động, mắt trở nên đỏ ngầu và chút chít kéo dài nghe rất đáng sợ. Nhưng thái độ ban đầu của chúng có vẻ rụt rè sợ hãi hơn là tức giận. Khi con mở nắp can xăng thì chúng mới bắt đầu tiến lại gần, rất chậm rãi và trật tự. Tuy thế với từng ấy con chuột trong một không gian vừa bằng cái lỗ mũi như vậy thì con cảm giác chỉ trong chớp mắt đã bị bọn chúng vây kín. Những người khác mở lối để con đi dọc theo 4 bức tường; để đề phòng chúng con đều đi ủng và quấn lưới nhiều vòng quanh người, gần đấy có một làng chài nên cũng tranh thủ quấn khá cẩn thận. Khi con bắt đầu đổ xăng thì mới bắt gặp ánh mắt van lơn cầu khẩn của mấy con chuột gần đấy. Nhưng con chẳng làm gì được và thế là sau đó vài giây lũ chuột bắt đầu lao vào chúng con. Làm nản lòng chúng quả thật chẳng dễ dàng gì, một vài ngưiờ bị chúng xô ngã, nhưng rồi có lẽ chúng cũng lờ mờ nhận thấy rằng với quyết tâm và sự chuẩn bị chu đáo thì lũ chuột mất đuôi có thể làm được gì. Mấy cái ông nước rất được việc, bọn con kết thúc phần thứ nhất mà không có ai bị thương tích gì đáng kể. Khi bước ra khỏi nhà để chuẩn bị châm lửa, bọn con không vấp phải sự kháng cự nào của lũ chuột nữa, chúng chỉ tụ tập thành từng nhóm đông đứng rải rác khắp nơi và kéo dài tiếng chút chít nghe gai cả người. Rồi thì lửa cũng bùng lên với ít khói và những tiếng nổ nhỏ. Những con chuột còn ở trong nhà chạy ào ra như một dòng nước đen ngòm. Một số con sặc khói và một số con khác bị vướng vào lửa kêu rít lên. Ngọn lửa cứ bốc cao và chúng con, đứng thành vòng cung tròn bên ngoài bãi cỏ, cảm thấy hài lòng vì mùi hôi đã bắt đầu dịu bớt. Lũ chuột tìm cách tránh xa sức nóng và cũng đứng thành vòng tròn quanh ngôi nhà, chỗ thưa chố dầy. Cả chuột và người đều đứng ngắm sự hoành hành của lửa. Cuối cùng khi mà ngôi nhà chỉ còn là một hình vuông đen sì trên mặt đất, tất cả đều thoải mái nhận thấy mùi hôi thối khủng khiếp mới đây đã biến mất. Nhưng lũ chuột không chịu bỏ đi. Con cầm cái ống nước gạt chúng ra rồi bước vào trong đống tro than vừa tắt. Nhưng con vẫn không tìm thấy gì ngoài một nền nhà trơ trọi và vài đốm lửa lẻ loi đang cháy nốt. Con thấy tuyệt vọng khi nghĩ rằng rất có thể thứ con cần tìm bây giờ cũng đã hóa thành tro bụi”.

“Tối hôm ấy con ngủ lại dưới gầm cầu, trong lều của những tên bới rác. Chúng rủ con vào thành phố cùng chúng, nhưng con từ chối với lí do nhức đầu vì khói và con nói con chỉ muốn nằm nghỉ. Rồi cuối cùng chúng cũng để cho con yên; và sau khi đặt một tô phở bốc khói lên cái bàn nhựa, chúng chúc con ngon miệng và lũ lượt kéo nhau đi. Cái xóm nhỏ chốc lát vắng tanh, tất cả bọn kia có lẽ đã tỏa đi khắp các ngõ nhỏ trong thành phố, chờ đợi trước cửa những nhà khá giả để sau 10h đêm, họ quăng ra những bịch rác đủ mùi xú uế. Và khi trời tang tảng sáng chúng sẽ tụ tập nhau lại ở một nơi nào đấy và khoe khoang về những thứ đã mót được: giấy lộn, đồ chơi cũ, chân gà, một quả táo gặm dở … Sau đấy thì làm gì. Dĩ nhiên là đi chơi điếm. Toàn thanh niên lực lưỡng cả, nhưng dù sao đấy cũng là một nghề. Con còn nhớ được bài mà chúng đã bá cổ nhau hát đến khản giọng trước lúc đi. Chúng hát với một thứ xúc cảm lạ lùng, tựa như là sự giải thoát, và bỗng chốc con cảm thấy mình như sống riêng trong một thế giới khác. Con nhức đầu rồi buồn nôn. Bố có muốn nghe cái bài hát đó không, giai điệu cũng thú vị ra trò”.

Nhưng chẳng cần ông phải trả lời, tôi bắt đầu hát. Hay tôi tin là mình đang hát:

 

Ối ô

Ô ô ô

Chúng tớ là hội bới rác

Sống cho sướng rồi thì thác

Khuân vác chẳng đến lần

Xoay trần không qua lượt

Không dãi nắng

Chẳng dầm sương

Mai sớm ngáy trên đường

Tối lông bông bát phố

Một xe thồ nhẹ như bông

Một cào sắt nhẹ hơn đồng một tí

Một khẩu trang, một cặp kính

Trông xa xa cũng sành điệu như ai

Túi không tiền nên không xài không hết

Mình không buồn nên không mệt không lo

Ngày ngủ thì ngáy o o

Tối xong việc nhậu no bò phè phỡn

Này, gọi chúng tớ là hội bới rác

Đừng có mà giở giọng bôi bác, nghe không?

Nghe không?

 

Tôi tin mình còn đá cao chân lên nữa, hay đại khái có làm những động tác tương tự. Giống như mấy ả múa bông vậy, tóm lại, thật là lố bịch. Nhưng thế thì có sao, tôi đâu phải là người Pháp?

“Bọn đó thì có lẽ tao hiểu” – Bố nói – “Chúng giống như các ngài nhà thơ Việt Nam vậy. Ngày trước là cái loa, bây giờ thì bới rác”.

Tôi chẳng thèm tiếp lời ông và còn ưỡn ẹo thêm một lúc nữa, nhưng rồi nhớ lại lời nói của anh J. và tôi thấy mình thật kì cục. Chẳng biết làm gì với cơ thể lơ lửng của mình, tôi lại kéo mành nhìn ra cửa sổ. Trong phòng đã nhiểu muỗi đến mức tôi nghĩ sau một lúc nữa chẳng tìm thấy cái quái gì ăn được chúng sẽ lại lũ lượt bay hết ra ngoài. Không hiểu sao tôi lại nghĩ chúng trong hình dạng những phân tử khí và tôi chợt thấy sợ rằng khéo phòng sẽ lạnh buốt đi khi chúng đã bay hết. Tôi cài cúc cổ lại rồi nhòm sang bên đường. Mấy cha thanh niên chim cò sặc sỡ vẫn chưa đến quán nước và lão già Sisyphe khéo đã ăn đến que hương thứ 100. Bạn thấy không, những que hương đôi khi cũng có ích như vậy đấy. Cái quán nhỏ của lão khiến tôi nghĩ tới những đốm lửa.

“Đêm hôm ấy con đã nôn mửa đến mệt lử, với một cái dạ dày trống rỗng. Nằm một mình trong lều, thi thoảng con lại cảm thấy một đợt sóng dội lên trong ngực, tim đập như ngựa tế và con không sao ngủ được. Con thử thủ dâm nhưng cũng vô ích. Con chẳng nhớ nổi một gương mặt đàn bà nào còn những cái âm hộ khiến con thấy nhạt nhẽo. Con cố sức đến phát cuồng lên nhưng cái dương vật trời đánh vẫn cứ oặt ra và rồi khi cảm thấy qui đầu đã ngứa ran thì con buông xuôi tất cả. Con nằm vật xuống đống vải bạt lộn xộn, nhìn về phía căn nhà đã cháy. Lũ chuột vẫn đứng ở đấy, một vòng tròn bất động trên cỏ và trong thứ ánh sáng mờ mờ hắt xuống từ trên cầu. Con nghĩ tới bọn bới rác rồi lại nghĩ đến lũ chuột, cảm thấy chua chát một cái gì không rõ. Con định đứng dậy đi ra đống tro còn lại một lần nữa nhưng người cứ nôn nao khó chịu và con nhận thấy sự vô nghĩa hão huyền trong những hành động của con suốt ngày hôm nay. Con chợt muốn khóc”.

Mẹ nó.

“Mày kéo mành lại cho tao rồi hẵng kể tiếp” – Bố nói – “Dù cái phòng này có chật thế nào và muỗi đã đông kín đi chăng nữa thì chúng vẫn tiếp tục bay từ ngoài vào; giống y như thế giới hiện nay vậy. Đến khi trời sáng chúng mới chịu bay ra.”

Tôi nhìn thấy một con lợn đực giống đang đi trong ánh sáng điện đỏ rực của quán nước. Nó lúc lắc hai hòn cà một cách hãnh diện. Tôi chợt nhớ lại con bò trong hoàng hôn một tiếng trước và hiểu ra rằng: khi một con bò đơn độc ra đi, bao giờ cũng có một con lợn đơn độc quay trở lại. Cuộc đời này là thế đấy.

Tôi lại hạ mành xuống.

“Con cứ nằm co ro mộng mị trên đống bạt ấy gần như suốt đêm. Con mơ thấy mình bước xuống một cái đầm lầy toàn lá chết, trên bờ những cơn gió thuần phong vi vút thổi. Bùn ấm giống như mưa. Trên các ngọn cây thầu dầu bao quanh đầm, con thấy gia đình mình đang bám cả ở đấy. Mẹ che mặt và khóc. Bố thì lặng im, trong đôi mắt bố nhìn con có đầy đủ cả sự thờ ơ lẫn cay độc. Chị Uyên ròng những sợi dây leo xuống để cho con leo lên. Mắt chị đỏ hoe và chị cứ ú ớ điều gì không rõ. Con chưa bao giờ nhìn thấy đôi mắt chị lại như thế, nhưng con chẳng ngạc nhiên. Còn Caddy nữa, nhưng em lại ở rất xa, tít ở đầu bên kia của đầm, trên ngọn cây cao nhất. Con chỉ thấy gương mặt em như một vệt sáng mờ ảo giữa lá cây và những sợi tóc; em lặng im giống như những ngày còn chưa đột nhiên mất tích ở trong nôi. Anh J. không có ở đây nhưng ở ngay cây thầu dầu gần con nhất, con thấy một người vừa giống hệt như con, vừa giống hệt như anh ấy. Hắn ta giống hệt cả con và anh ấy, con không thể miêu tả được. Con biết đấy không phải là anh J. vì hắn huýt sáo. Anh J. không bao giờ huýt sáo, anh ấy nói đó là trò đùa của quỉ trong mỗi con người. Hắn bám vào thân cây như một con lười, cứ huýt sáo, nửa như muốn leo lên cao hơn, nửa như muốn tụt xuống đất để sơ ý đạp một chân lên mặt bùn rồi bỏ đi. Con lưỡng lự nắm lấy sợi dây leo, lưỡng lự; rồi con thả nó ra, bước thêm một bước. Bùn ngập cao đến đùi và con bỗng nhận thấy nó trở nên mát lạnh. Cái mát lạnh của sự đau đớn. Con phân vân, ở đây có nhiều lá chết quá, lá chết kín mặt đầm trong mùi tanh nồng khó chịu. Nhưng con vẫn hít thở căng đầy lồng ngực thứ mùi ấy vì con chẳng muốn cũ rích như kẻ khác, hít vào rất ít những mùi khó ngửi rồi mới nín thở. Dù gì thì cũng đã hít. Con nghe thấy tiếng mẹ khóc trong nhưng âm điệu ri rỉ sầu muộn kéo dài; con cảm thấy khó chịu vô cùng. Một con chim bói cá lông xanh biếc bay vụt qua, đậu trên cây gòn; những quả gòn nổ lốp bốp rơi bông xuống mặt bùn, ngay cạnh chỗ con. “Đồ bói cá chết tiệt”, con hét lên và định lấy đá ném nó nhưng rồi con nhận ra là trên mặt đầm chẳng có viên đá nào. Con bực bội và di di chân mình trong bùn dưới mặt nước rất mỏng; rễ cây, lá mục và những cái gì đó lèo nhèo khiến con nổi gai khắp người. Tiếng ri rỉ cứ ngày một rõ; con ngửi thấy mùi rượu phảng phất, mùi mái tóc Caddy, mùi hương trầm, mùi hơi lạnh và mùi thơm khiến người khác nôn nao trên cổ chị Uyên. Chị ấy không biết khóc. Sợi dây leo cứ giãy quằn quại trên mặt bùn; gió thuần phong lại nổi. Gió trong lá xào xạc và trên đầu, con nhìn thấy những con cò bè bay lất lưởng trong nắng như những tờ giấy. Người giống hệt con và anh J. đã tụt xuống đến gốc cây, hắn cầm đầu dây leo bây giờ đã biến thành sợi dây thừng và giãy giãy, nửa như trêu ngươi, nửa như ngu ngốc. Rồi hắn đi. Con ngỡ ngàng nhìn ra xung quanh, dù nhìn thấy tất cả mọi người nhưng con chẳng cảm thấy gì. Con không kịp cảm nhận thấy ngay cả sự trống rỗng trong cơ thể mình. Con nhìn Caddy, gương mặt em đã khuất trong mái tóc đang sáng lên trong nắng và rồi con bói cá kêu thét lên một tiếng như một đứa con gái hư hỏng bị cha nó dụi tàn thuốc vào ngực, khiến con giật mình. Con thấy mình đứng trong lớp học cũ, những con nhái tháng năm nhảy lên và liếm khắp người con và con hoảng hốt choàng tỉnh giấc”.

“Nhưng khi con còn chưa kịp cảm nhận hết những êm đềm dễ chịu của một cơn ác mộng thì bỗng nhận ra sự khác lạ trong không gian. Con đưa bàn tay lên mũi, cái bàn tay dùng để quệt miệng ngay trên những bãi mửa kinh tởm; nhưng con chẳng cảm thấy mùi tanh dịch vị dạ dày của nó nữa mà thay vào đấy là một mùi hôi thối của những con chuột chết. Con ngửi khắp cơ thể mình, từ bàn chân đến đũng quần và nách, nhận thấy rằng những mùi hôi riêng biệt ấy cũng đã được thay thế. Con hơi sợ hãi và chỉ trấn tĩnh được suy nghĩ mình đang hóa dần ra một con chuột chết khi dần cảm nhận thực ra cái mùi tởm lợm kia không hẳn bốc ra từ người con mà nó đang ngập tràn khắp không gian, như đến từ mọi hướng. Con ngửi khắp đồ đạc trong lều: vải bạt, bao tải, gach vỡ, gỗ, những bát sứ sứt mép bẩn thỉu, mấy đĩa tráng men, một xe đạp làm bằng sắt rỉ, cái gối bằng vải cotton và cái chăn đắp mỏng bằng diềm bâu … tất cả đều đang bốc ra một mùi hệt như nhau; nhưng không phải nó bốc ra từ những đồ vật ấy mà con thấy rằng thực chất nó tỏa ra từ những vùng không gian bị đồ vật chiếm chỗ. Tức là có thể nói rằng mọi thứ đều đã bị đánh mất mùi; tất cả bao gồm cả con đều như hóa thành chính cái không gian hôi thối ấy. Cái mùi đáng sợ đó đã nuốt trọn toàn bộ những gì nó tràn đến”.

“Sau khi thoát khỏi những ấn tượng mơ màng khi vừa thức giấc, con lao ra cửa lều. Trong luồng ánh sáng chứa đầy khói chân trời, đàn chuột vẫn đứng bất động nhưng chúng đã thu hẹp vòng tròn lại rất nhiều. Giờ đây chúng hiện lên như một cái vòng đen sì trên nền đất, như thể đang ngoan ngoãn uống sữa trong đền thờ Karni, nhưng không khí lại như lắng dịu và quái đản. Con cảm thấy mặt trời sắp mọc dù chân trời còn tối đen; con vội vã đi ủng, cầm theo một ống nước và quấn sơ sài đống lưới lên người, nhìn từ xa chắc ai cũng ngỡ là đang mọc lông lợn. Con đi như chạy về phía căn nhà đã cháy, sợ hãi một cách khó hiểu rằng lũ bới rác đêm sẽ trở về ngay lúc này. Nhưng xung quanh không một bóng người. Mùi hôi thối không giảm bớt cũng không tăng lên khi con đặt chân đến nền nhà, tuy thế con cũng không có thời gian tìm lời giải đáp cho việc ấy, hơn nữa đôi khi có người mất cả đời đi tìm câu trả lời cho những vấn đề mà chỉ đến khi nhắm mắt xuôi tay họ mới dám khẳng định là nó hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì. Có rất nhiều câu hỏi nhưng đừng vì thế mà khẳng định rằng, không trả lời được một câu nào đó là chúng ta đánh lỡ đi một điều gì đấy. Trong cuộc đời ta luôn trả lời được tất cả câu hỏi mà nó đặt ra cho chúng ta. Chính vì thế mà con chưa từng bao giờ hối tiếc về những cơ hội hay về sự hiểu biết của mình. Nó chẳng quan trọng gì ráo. Và con thấy điều ấy mang đến cho con sự thoải mái như thế nào”.

“Lũ chuột không có ý định tấn công con. Ngoài một vài tiếng kêu chít chít lạc lõng ở vòng ngoài và sự nhốn nháo không đáng kể khi một số con chuột, tuy to xác nhưng lại cứ thích chống đuôi đứng thẳng lên bằng hai chân sau như lũ cầy bốn ngón; thì dường như tất cả vẫn im lìm trong sự trang nghiêm. Thái độ thù địch biến mất giống như những cái bóng lặng lẽ nhặt xác đồng đội trên chiến trường khi hai bên tạm ngừng giao chiến; và con còn cảm giác như chúng đang chờ đợi một điều gì đấy như việc tất cả sẽ biến mất khỏi mặt đất không một dấu vết khi những tia sáng đầu tiên của bình minh hé rạng. Tuy thế con nóng vội đến mức, mặc cho những suy nghĩ rằng bọn bới rác hiện nay vẫn còn đang mải mê đào bới trên những cơ thể trần truồng, đã cầm ống nước gạt lũ chuột ra một cách hấp tấp. Chúng đứng thành ba vòng đồng tâm, đông đúc và đen tới mức con tưởng là bóng tối cô đặc. Con tiến lại tâm vòng tròn nơi những con chuột to nhất đang ngồi quây lưng lại. Chỉ độ vài mét nhưng con không thể bước đi được vì đàn chuột lúc nhúc ở dưới chân; cái ống nước vô dụng, con giơ lên nhưng không dám quật vào bọn chúng và cuối cùng đành chọn cách di chuyển là lê chân sát mặt đất vì nếu giơ cao lên để bước con sẽ không thể nào hạ chân xuống mà không trượt ngã trên bộ lông của chúng. Đúng lúc này con bỗng nhận thấy sự biến đổi khác lạ của mùi trong không gian; không phải tính chất hay độ nồng của nó thay đổi mà là con cảm thấy sự chuyển dịch của nó. Đúng là các mùi đang chuyển động, giống như những giòng hải lưu trên biển – không gian được tách thành những sợi hôi thối, lan rất chậm và rất nhẹ đến trung tâm vòng tròn”.

Bố đã ngủ gật, tôi biết chắc như vậy. Nhưng ông lại úp cuốn sách xuống ngực để tôi nhìn thấy là ông vẫn mở mắt. Một hành động chẳng để làm gì. Tôi chán đến tận cổ.

“Rồi thì con cũng đến được tới nơi” – Tôi nói và để giải trí, tôi thè lưỡi đớp mấy con muỗi đang lởn vởn quanh người. Tôi mỏi mồm quá, nhưng phải cố nốt vậy – “Mấy con chuột đại bự ấy cao đến đầu gối con khi chúng ngồi; và với cặp mắt như than hồng , chúng im lặng nhìn xuống một cái hố hơi nông, chẳng biết có từ bao giờ – nơi những dải mùi hôi thối của không gian vây lấy nhẹ nhõm nhưng không xâm nhập được. Trong hố là một con búp bê. Một con búp bê đã chết”.

“Mới đầu khi nghiêng đầu vào hố để nhìn cho kĩ, con phải che mũi lại vì sợ bị sốc bởi mùi trong phạm vi này; nhưng sau vài cái khịt mũi con ngạc nhiên thấy rằng vùng bán kính vài chục cm quanh con búp bê không hề có mùi gì. Tuyệt nhiên không có mùi. Lúc ấy con hiểu ra rằng thực ra mùi thối không phải bốc ra từ xác con búp bê này mà nó bị thu hút đến đây từ những vùng xung quanh với những dịch chuyển gần như trong suốt. Chúng cố xâm nhập cái mùi thối rữa vào nó nhưng không được, đành lắng lại bên ngoài và hòa tan mọi vật. Tuy thế con thực sự vẫn không hiểu tại sao trong mấy giờ tìm kiếm trong nhà con lại không hề cảm thấy một sự lay động nào của mùi; có thể khi ấy tất cả đều bị choáng bởi độ nồng quá lớn khiến những cảm nhận tinh tế bị giới hạn lại. Con không dám chắc lắm nhưng cũng không tiếp tục hỏi. Con chỉ cảm thấy rất thoải mái khi nghĩ về việc đã chấp nhận thiêu hủy ngôi nhà; chính khói đã khử mùi hôi thối ấy và bây giờ khi khói bay đi hết thì mùi hôi lại bay trở lại. Giống hệt những con lợn. Đúng là con đã rất dễ chịu với nhận xét rằng: khi con người ta đã lựa chọn hay quyết định thì không có cái gì là phi lí cả. Mọi lựa chọn đều luôn hợp lý.”

“Con nhìn xác con búp bê đang sáng rực dưới hố như đóa hồng bạch trong đêm tháng 8. Nó thối rữa nhưng không có mùi. Những vảy nhựa trên má, cánh tay để trần và mu bàn tay đang tróc dần ra, đôi môi gần như đã biến mất. Tuy thế mái tóc của nó vẫn vàng óng và đôi mi cong khép lại như đang ngủ. Nó mặc một cái váy màu bạc, đi giày đỏ và mang trên người chiếc áo có vai bồng dễ thương. Nó là một con búp bê xinh đẹp ngay cả khi con nhìn nó ở trạng thái như vậy. Con ngồi xổm trên thành hố; lũ chuột dường như đã chấp nhận sự có mặt của con, chúng chỉ khẽ rít lên trong cổ họng và xô đẩy nhau để lấy chỗ đứng. Không khí dưới hố trong vắt, cái trong vắt của sự vật thuần khiết, là nền tảng của các mùi thơm tự nhiên. Mùi hôi thì khác, chúng đến từ bên ngoài, đặc biệt là từ con người. Con nhìn kĩ con búp bê, khắp người nó dường như không có dấu vết bị tổn thương nào hay bị xâm phạm nào. Váy áo gọn gàng và đôi mắt lớn đang nhắm có vẻ thật bình yên. Nhưng, bố cũng biết, trên gương mặt bình yên đã chết của những con búp bê luôn ẩn giấu một cái gì đó thật ghê rợn. Con cầm ống nước gạt những sợi tóc rủ trước trán và một phần vai của nó sang một bên nhưng cũng không cảm thấy gì hơn ngoài vài vùng thối rữa mà con cảm thấy từ đấy đang bốc ra những làn hơi trong trẻo. Rồi con khởi sự nghĩ về anh J. Có thật đây chính là thứ mà anh J., khi bỏ đi vội vã đã không thể mang theo? Nhưng làm sao mà không thể mang theo khi nó chỉ nhỏ xíu thế kia; anh ấy còn luôn nhét cả cây ngô đồng đại tướng trong túi mỗi khi đi đâu cơ mà? Hay anh ấy biết rằng nó sẽ gây ra mùi thối trong vài tháng nữa, và anh ấy – một kẻ thích lẩn trốn trong im lặng – thấy rằng điều ấy thật bất tiện? Vậy thì anh ấy chắc mẩm được bao nhiêu phần lũ chuột sẽ bảo vệ được cái di hài bé nhỏ này khi nó bắt đầu tỏa ra cái mùi không ai chịu đựng nổi. Và có thực anh ấy mong muốn lũ chuột che chở nó đến khi anh ấy quay lại không, hay chúng chỉ là bức bình phong che chắn cho những ý định khác của anh và anh thực sự biết chắc rằng cái giây phút con đứng trước cái xác tuyệt đẹp này sớm muộn gì cũng xảy ra? Anh ấy có mục đích gì trong tất cả những chuyện này? Không, rõ ràng anh J. không phải là người quá tính toán như thế trong những mục đích. Anh ấy khinh bỉ mục đích. Vậy phải chăng anh J. không lường trước  được rằng con búp bê sẽ gọi mùi hôi về sau đấy, anh ấy không biết rằng sau khi chết 3 tháng loài búp bê mới hút mùi thối về; và do đó hiện thời anh ấy vẫn tin tưởng rằng nó vẫn bình yên nằm trong nơi dấu bí mật của anh trong căn nhà chỉ có 10 m2. Không, anh ấy cũng không thể nào sắp xếp mọi việc hời hợt như thế và con nghĩ anh ấy phải biết chắc điều ấy hơn con rất nhiều lần. Vậy lẽ nào con búp bê vẫn còn sống sau khi anh ấy bước chân ra khỏi nhà, nó chỉ ngủ yên theo lời ru của anh ấy chứ chưa hề chết? Và tất cả những gì xảy ra sau đấy là hoàn toàn trái ngược với dự tính của anh J., nếu có thể nói là anh ấy đã dự tính? Nhưng như thế thì vì sao con búp bê lại chết?”

“Con cảm thấy thực sự bối rối khi cảm thấy rằng những suy nghĩ của con chỉ đang đứng ở rất xa so với những gì đang diễn ra trong thực tế. Không trường hợp khả dĩ nào có thể đúng cả. Tuy con nhận thấy chắc chắn rằng, đúng là con búp bê chết ở trước mặt con chính là một đầu mỗi quan trọng có thể giúp con khám phá ra một bí ẩn nào đấy liên quan tới cuộc đời anh J., hay có thể thậm chí là cả cuộc đời con cũng như gia đình ta. Con tin chắc điều ấy nhưng đồng thời con lại cảm nhận được sự hư ảo của nó, như sự hư ảo của tất cả những đầu mối hay dữ kiện nào; nó không ngừng chập chờn khi gần khi xa, sẵn sàng vuột khỏi tay con và con chỉ có thể tóm giữ lấy nó như tóm lấy một giấc mơ mà bất cứ lúc nào cũng có thể lãng quên. Con thấy hoảng sợ và cố suy nghĩ về một trong những khả năng có thể xảy ra: con búp bê đã chết khi anh J. vẫn còn ở lại đây. Đấy là một giả thuyết có cơ sở và hoàn toàn bình thường, thậm chí khi xem xét lại mọi thứ con còn cảm thấy có đôi chút hợp lý. Con suy diễn ra những hệ quả xung quanh và cố tưởng tượng ra anh J. trong trường hợp ấy; thật sự là khá dễ dàng. Con còn tin chắc rằng người con đang tưởng tượng ra đích thực là anh J. với thái độ, suy nghĩ và cách hành động đó. Nhưng rốt cuộc con vẫn cảm thấy tất cả những hình ảnh vừa lướt qua trong đầu ấy, những lập luận tưởng tượng ấy, thảy đều vô nghĩa. Con không hiểu tại sao nhưng lúc đó con biết chắc rằng, con đang thấy giả thuyết của con hoàn toàn không có ý nghĩa gì cả.”

“Bỗng nhiên con để ý thấy một thứ lạ lùng ở trên cổ con búp bê: một sợi tóc, đúng hơn là một đoạn tóc, ôm lấy cổ nó. Một sợi tóc thì có gì lạ? Vâng, nhưng vấn đề ở chỗ con búp bê tóc vàng mà sợi tóc này màu đen. Màu đen bóng của quỉ. Con định với tay xuống nhưng những hình dung về làn hơi trong vắt bốc ra từ cự li gần khiến con run bắn người; thế nên con lại dùng cái ống nước khều vào cổ nó. Con khều mấy lần nhưng sợi tóc vẫn ôm chặt lấy cái cổ tròn trịa ấy như một cái vòng và lần nào cái ống nước của con cũng bị trật đi. Cuối cùng con tức tối đẩy mạnh nó lên phía trước; nó lướt qua sợi tóc như lướt qua một thứ vô hình rồi va mạnh vào hàm con búp bê. Con gần như đứng tim khi thấy cái đầu búp bê ấy rơi bắn ra ngoài; và con hiểu ra không có sợi tóc nào cả, đó chỉ là một vết đứt. Con búp bê của anh J. đã bị cắt cổ.”

“Giữa lúc tim con còn đập hối hả vì kinh ngạc, con bỗng thấy bầu trời và không gian sáng rực lên một cách vội vã khó hiểu. Bốn chân trời không hiển hiện một sắc hồng nào – dù mây rất mỏng – để chứng tỏ đang sắp rạng đông. Con thấy như bình minh đã bị đánh cắp; không gian vạn vật đã sáng rõ đến mức nếu mặt trời có xuất hiện cũng trở nên vô dụng. Con nhìn trong kí ức của mình những con cò trắng vỗ cánh bên nhau bay về phía bình minh rộng lớn, cảm thấy đau nhói trong tim điều gì không rõ. Ngay cả lũ chuột cũng cảm nhận được sự đổi thay, chúng trở nên bứt rứt sốt ruột và liên tục chen lấn nhau ở bên ngoài. Những con to nhất ngồi bên cạnh con thì trầm ngâm hơn, đôi mắt chúng đã mất đi màu đỏ để trở lại sắc đen đần độn cam chịu. Có gió nhẹ làm những luồng không khí hôi thối xoáy tròn trên miệng hố; con hít một hơi thật sâu rồi bước xuống bên cạnh con búp bê. Con cởi bỏ tấm lưới trên người, nhặt đầu và thân nó để vào đấy và cuốn lại. Con run đến mức dường như không thể đứng vững, mồ hôi ướt đẫm khắp ngực và bẹn. Con khát khô cả cổ và cảm thấy sốt nhẹ. Dù hết sức lo lắng nhưng con cũng không thể làm mọi việc nhanh hơn được và luống cuống đến nỗi suýt vấp ngã khi bước trở lên miệng hố chỉ cao hơn đầu gối một chút. Rồi con khởi sự nghĩ chậm rãi hơn về cái đầu bị cắt của con búp bê. Ai đã làm việc ấy? Y có mục đích gì? Đúng vậy, y cắt cổ một con búp bê để làm gì? Rõ ràng y phải thừa biết rằng, tất cả những bé gái trên thế giới này đều đã nghĩ hay làm việc đó. Thậm chí chúng còn tàn nhẫn hơn nhiều: lột ngay quần áo khi mới mua về, rạch dao lam từ gáy đến mông hay nhổ trụi lông mi những con búp bê xinh xắn. Hắn phải hiểu rằng đấy không phải là cách để giết chết những con búp bê ấy. Vậy hắn có thể là ai? Một kẻ bình thường không làm những điều như thế. Hoặc hắn chỉ là một đứa trẻ con hoặc hắn là một tên điên. Hắn đã đột nhập vào căn nhà và lén lút cắt cổ con búp bê trong đêm khuya? Hắn làm cách nào để tìm ra nó và chống đỡ lại những đòn tấn công thù địch của lũ chuột? Lúc bị cắt cổ con búp bê này liệu còn sống hay đã chết? Nếu còn sống thì sau đấy ai đã giết nó? Tên điên ấy có liên hệ thế nào với anh J., nắm giữ bí mật gì trong cuộc đời anh ấy? Và phải chăng anh J. hoàn toàn không liên quan gì tới chuyện này? Nhưng tất nhiên như con đã nói, giả thiết anh J. dính líu tới những chuyện đấy không phải là vô lí mà nó hoàn toàn vô nghĩa. Rồi con tự hỏi, có gì là quan trọng nếu cái đầu bị cắt không phải là nguyên nhân dẫn tới cái chết của con búp bê? Không, rõ ràng là sự kiện này đã diễn ra một cách phi lí nên chắc chắn nó phải chứa đựng một ý nghĩa nào đấy. Dù hung thủ là một đứa trẻ hay một tên điên cũng vậy, vấn đề này không phụ thuộc vào hắn mà vào cách thức suy nghĩ của con người, họ luôn moi ra những ý nghĩa hợp lý trong những tình huống hay câu chuyện phi lí”.

Bố ngủ say như chết, nước nhãi nhểu ra chảy hết xuống cổ như cố chứng mình rằng bây giờ ông đã vô tư lắm. Nhưng có thể ông vẫn đang lắng nghe tôi thì sao? Biết đâu đấy.

“Bố này” – Tôi hắng giọng và nói, nhưng ngay lập tức tôi cảm thấy chán ngấy vì mình đã hắng giọng – “Bố có biết người ta làm cách nào để giết một con búp bê không?”

Lão già không trả lời, nằm ngủ như một cái võng mắc giữa bàn và ghế, ngay lúc trời chập tối. Đột nhiên tôi muốn phì cười và tôi khởi sự chăm chú nhìn ông. Chẳng mấy khi một thằng con trai có cơ hội hay mong muốn nhìn kĩ cái mặt cha nó. Nó luôn thấy cái mặt ấy xa lạ và hơi ghê tởm. Nhưng thông thường thì mặt ai cũng vậy, cứ nhìn kĩ thì ta sẽ thấy ngạc nhiên: thì ra đấy chính là cái mặt của nó à. Đại khái là ta không bao giờ nhớ được khuôn mặt của một người nào cả. Ta chỉ tưởng vậy thôi.

Đúng là bố đã già, một thực tế trừu tượng mà tôi phải mất quá nhiều thời gian để hiểu nó. Trước đây tôi không thể tưởng tượng được mình sẽ cảm thấy thế nào khi đối diện với những nếp nhăn trên mặt; tôi tự hỏi tại sao người già họ lại vẫn cứ sống. Đáng lẽ ra những thất vọng, khổ não, mệt mỏi hay thậm chí cả thành công cũng phải lôi họ xuống hố từ 40, 50 tuổi gì đấy chứ; đằng này trái lại họ vẫn cứ sống như thường, như thể càng già thì lại càng dẻo dai vậy. Bây giờ thì tôi cho rằng mình đã hiểu được nguyên do, sở dĩ có người già tồn tại trên trái đất này vì tuyệt đại đa số con người không có một tâm hồn đủ sức lực và sự dũng cảm để đối mặt với cái chết. Họ luôn luôn né tránh, xua đuổi hay đi vòng quanh nó, rón ra rón rén. Cố nhiên khi ấy những kẻ can trường kia có thể vượt qua, nhưng vượt qua cái chết ít nhiều gì cũng chứng tỏ sự hèn nhát. Và tóm lại, người già là số phận mà chúng ta phải hứng chịu vì chính bản chất con người của chúng ta. Cái này cần phải thay đổi.

Bố là người già, tóc hai bên thái dương của ông đã bạc trắng và trên cằm ông có một túm râu ngả mầu trông giống như một thứ lông thú vật mà tôi nghĩ chỉ vì vạn bất đắc dĩ mà ông không cạo đi được. Ông ngủ yên như một cục đá. – “Với người già thì giấc ngủ giống như một thể nghiệm về cái chết” – Anh J. nói như vậy. Chắc có lẽ vì thế mà bọn người già thường mất ngủ. Họ sợ chết nên phải thức để canh nó.

Bất đồ tôi nghe thấy tiếng xôn xao như đến từ bên kia hoàng hôn. Tôi kéo mành lên, háo hức như thể đã lâu lắm rồi mới có cái gì khiến tôi khoái trá đến như vậy. Bóng tối kì dị, đêm như chóng mặt ở khắp nơi. Tôi hiểu sức khỏe mình đang bắt đầu có vấn đề.  Dưới gốc gạo, bên trong quán nước, mấy thằng choai choai đầu tiên đã có mặt. Chúng vuốt tóc nhìn như một cây đinh ba trên đỉnh đầu, ngồi uống chè mạn, hút thuốc và tán chuyện ồn ào. Một thằng lấy điệu bộ suy tư như thể đấy là một cách để tách biệt và kiêu hãnh vậy. Tôi lại nghĩ tới lũ bò, lợn và cho rằng: khi một con bò đã ra đi và một con lợn đã quay trở lại thì bao giờ cũng có một lũ thanh niên đồng bóng dở người đứng ở đấy. Hiển nhiên là thế. Tôi còn chưa thèm gọi đấy là sự thật, chân lý hay một danh từ nào đấy đại loại theo cái kiểu của các bố nhà văn tỉnh táo không azua theo mốt hay các mẹ mìn chính trị thương con. Thực ra thì thế quái nào mà chẳng được, đấy cũng chỉ là mấy trò chơi chữ. Hình như cha nội A.France có nói câu gì đó tương tự.

“Sự khó khăn vấp phải cũng giống như khi chúng ta cố gắng cứu một người chết sống lại” – Tôi nói và dù cảm thấy hơi mệt mỏi và hoa mắt, tôi vẫn nhận ra dương vật của mình đang cương lên đầy sảng khoái. Thật chả ra làm sao cả. Tôi đưa tay xuống vuốt ve đũng quần – “Vì không phải người ta cứ trèo nóc hú hồn là hồn sẽ trở quay lại như ý muốn. Cũng như thế, không phải cứ thổi phù cái vía vô tri của con búp bê là nó sẽ bay đi. Con nói thế là về mặt nguyên tắc; muốn giết ai đó thì phải cướp đi phần sự sống nơi họ và muốn giết một con búp bê thì phải cướp đi phần vô tri trong nó. Tức là trước hết phải biến nó thành người. Lí lẽ này không phải là không có kẻ biết, nhưng người thực hiện nó mới đáng để cho chúng ta quan tâm. Vì bố thấy, nếu việc giết một con búp bê quá dễ dàng thì có lẽ nhân loại đã chết ngạt khi mùi thối tập trung lại trong các khu dân cư”.

Bỗng nhiên tôi thấy sự mệt mỏi tăng lên khủng khiếp và tôi phải nhanh chóng tìm cho mình một cái ghế dựa. Tôi gần như ngã người xuống ghế, rồi trong phút chốc cái dương vật khốn khổ lại nhũn ra. Đầu óc tôi quay cuồng, tôi như nhìn thấy biển cả đang gầm lên trong cơn bão, mưa như trút xuống những mũi tên bạc dày đặc và sóng cuồng nộ dâng cao. Giữa quang cảnh mịt mù ấy, một gã lùn đội mũ quả dưa vẫn thong thả đạp xe. Tôi lạnh đến run người lên.

“Bố ạ, con định nói tiếp cho bố biết con đã làm gì với cái xác của con búp bê ấy” – Tôi gắng gượng nói khi hàm răng đang chuyển động tăng tốc không thể kiểm soát” – “Và nhất là những lí giải và phát hiện mới con thu được từ đó đến nay, nhưng bây giờ có lẽ cũng không còn sớm nữa, con phải quay lại thị trấn. Không hiểu sao con thấy lạnh quá, con dường như không thể cảm nhận được một chút nào hơi ấm xung quanh nữa. Bố không cảm thấy gì sao, hay bố là một tảng đá, bố không biết thế nào là nóng và lạnh? Khi nãy con đã nói, con rất mong bố về thăm mộ mẹ một lần cho biết. Ngày bố về hẳn mọi người sẽ vui sướng lắm; phải, rất vui sướng. Con nghĩ chỉ cần có một ngày gia đình đoàn tụ đầm ấm bên nhau là đã đủ để mỗi người chống chọi với băng giá lạnh lẽo cả đời. Nếu bố thực sự có ý định ấy, hãy gọi điện thoại báo trước cho con. Bố có thể gọi điện ở bưu điện ngoài thị trấn hay tốt hơn hết là để con kéo dây thép về tận nhà; con sẽ trả tiền dịch vụ và thuê bao trước cả năm. Con nghĩ bố không cần bận tâm gì đâu, vì tuy điện thoại khiến ta bị ràng buộc nhưng nếu bố không nghe mỗi khi bố không thích thì nó cũng không đến mức quá trơ tráo, và bố thì vẫn cứ là bố. Con muốn nhận được tin trước khi bố về nhà là vì con muốn thu xếp chu đáo mọi việc để sớm gửi chị Uyên đi Cổng Đen. Ý con nói đấy là việc chẳng thể đừng được, nhưng dù sao con cũng muốn sau từng ấy năm nếu bố có gặp lại con gái mình thì cũng nên gặp ở một ngôi nhà có đủ vườn hoa bóng mát chứ không phải là ở một trại tâm thần. Lúc đầu con có nói ý định này với chị A. nhưng chị ấy đã phản đối quyết liệt. Chị ấy nói rằng nếu con cứ nhất quyết đưa chị Uyên đi Cổng Đen thì chị ấy sẽ đi theo bằng được. Chị ấy còn nói bao nhiêu năm con không có trong cái nhà này mà chị ấy vẫn chăm sóc được chị Uyên chu đáo, vậy mà bây giờ vừa mới đặt chân trở lại con đã hành động như thể suốt thời gian qua chị Uyên đã bị bỏ rơi. Rồi chị A. nói con đã sỉ nhục chị ấy và cứ khóc suốt. Con phải rất cố gắng để thuyết phục chị ấy rằng không phải con không biết đến nỗi lòng chị ấy, con rất hiểu bấy lâu nay trong cái cảnh quạnh hiu của nhà mình, việc chăm sóc chị Uyên cũng chính là ngọn lửa giúp chị ấm lòng và con nói con hiểu A. coi chị Uyên không khác gì con của mình, dù chị ấy chưa từng thực sự làm mẹ. Sau đó con cố giải thích những lợi ích của việc gửi chị Uyên đi Cổng Đen cho chị ấy nghe, đại khái con nói rằng chị ấy không thể cứ ở vậy mà chăm sóc cho chị Uyên mãi được, vì chị ấy đâu có nghề nghiệp gì. Sắp tới nếu Caddy đi lấy chồng mà chị cứ quanh quẩn mãi bên chị Uyên thì lấy gì mà sống. Rồi con nói kể cả trường hợp con khuyên được Caddy và chồng của em ở lại trong nhà mình và có thể quên đi một phần khó khăn kinh tế thì mọi thứ vẫn rất bất tiện, nhất là sau này Caddy lại có con nhỏ. Con cũng lưu ý chị ấy rằng, việc chăm sóc chị Uyên trong thời gian tới có thể sẽ gặp những khó khăn vì chị Uyên đã bắt đầu có những biểu hiện không bình thường, tức là tâm thần chị ấy dường như đã có sự xáo  trộn nào đó. Gộp tất cả từng ấy lí do lại con nói rằng tốt nhất bây giờ là đưa chị Uyên vào Cổng Đen, ở đấy chí ít thì chị ấy cũng sẽ có được một cuộc sống ổn định, ổn định vĩnh viễn. Có người cả đời cũng chỉ ao ước được như vậy. Sau đó con nói thêm rằng Cổng Đen ở khá gần chỗ con, nếu sau này A. muốn tới thăm chị Uyên thì chị có thể lưu lại đấy, bao lâu cũng được. A. tròn mắt lên hỏi con rằng, nếu con đã lo cho chị ấy như thế, tại sao con không đưa ngay chị Uyên về nhà mình vì chị ấy biết sắp tới con không hề có ý định lập gia đình, như thế mọi chuyện có phải đơn giản và tốt đẹp hơn không? Con trả lời chị ấy là vì công việc, con không có điều kiện ở nhà và quan tâm đến chị Uyên; nếu chị có đến ở chỗ con. Mà nếu phải thuê mướn một mụ già nào đấy để chăm sóc cho chị thì chẳng thà vào Cổng Đen, chị ấy còn có bạn bè và thoải mái hơn. Tất nhiên, sau đấy con nói, nếu A. cũng dọn đến nhà con và ở đấy chăm nom chị U. thì sẽ là tốt nhất và chị có thể yên tâm là con chẳng bao giờ nhắc tới những Cổng Đen hay Cổng Vàng gì nữa. Con lại đi vắng thường xuyên nên thấy thật ra không có gì quá bất tiện cả. Nhưng chị A. đã lắc đầu mà chẳng cần suy nghĩ, rồi chị ấy nói chị ấy muốn ở lại nhà để chăm sóc cho Caddy và có thể sau này, con của em ấy. Con nói: “Vậy thì chẳng còn cách nào khác”; A. chỉ thở dài và lảm bẩm rằng: “Có người thân bên cạnh vẫn tốt hơn bao nhiêu”. Con bảo rằng con sẽ thường xuyên đến thăm chị Uyên những khi ở nhà, A. vẫn cứ thở dài cho đến khi chị ấy không nhắc lại chuyện này với con nữa”.

Khốn nạn thật.

Tôi ngả người trên ghế như kiệt sức, mồ hôi đọng thành từng giọt trên mặt. Cơn sốt lạnh bất chợt đã dừng lại và tôi cảm thấy bụng đói cồn cào. Dù sao khi còn là người, ta vẫn cứ nên ăn cơm. Phải, có lẽ tôi nên trở ra thị trấn ngay bây giờ. Ngôi nhà hẻo lánh mắc dịch này đã vắt kiệt tôi như vắt một cái giẻ lau. Tôi nhìn bố, gật đầu chào một cái lấy lệ. Ông vẫn ngủ say trong ánh đèn và giữa những con muỗi. Tôi cảm thấy sâu trong tôi có một cái gì đó đang chết đi nhưng nó không còn đủ nhiệt tâm để hét lên một tiếng kêu cứu.

Tôi đẩy cửa bước ra ngoài. Một làn gió mạnh thổi qua khiến tôi dễ chịu. Những chòm sao mùa hè tráng lệ đã giăng khắp bầu trời, tôi nhìn thấy cả những tia sáng lấp lánh qua vòm lá. Tôi muốn vùng lên chạy đến chân trời nhưng rồi nhận ra mình còn quá yếu, tôi đành thả bộ trên con đường đất nhỏ đi sâu hút vào đêm tối mịt mùng. Xung quanh tôi thấm đẫm mùi hương của đồng quê và những thanh âm mơn man của hoài niệm xa xưa khiến tôi nhẹ nhõm. Bên dưới gốc cây gạo, nơi cửa ngõ vào làng, đám thanh niên vẫn đang tụ tập; chúng cười phá lên trong ánh đèn điện và tán chuyện về con gái và tình yêu. Chúng tán chuyện về tình yêu và ông già Sisyphe, với que hương trên môi cũng như đang mơ màng về một quá khứ xa xăm nào đó. Tôi thấy đây tựa như một cảnh thần tiên. Phải. Một cảnh thần tiên.

7

 

Một ngày mùa hạ không trôi đi. Tôi nắm lấy song cửa sổ và nhìn ra vườn; cỏ đã mọc cao hơn đầu con chim sẻ. Bờ tường vẫn vỡ nát, mủn đi vì sương gió và rêu mốc, nhưng các viên gạch vỡ thì không thấy đâu nữa. Chúng lút mất trong cỏ. Cái lưới mắt cáo han rỉ đã bị xô lệch hẳn đi nhưng vẫn ngoan cố bám vào một bên tường một cách phi lí. Tôi chậm rãi xoay những chấn song cửa sổ, chờ đợi tiếng kẽo kẹt và lắng tai nghe thanh âm đầy những nỗi mừng vui ríu rít ấy; tiếng kẽo kẹt đã quá già nua vì những bước di dài bất tận của thời gian. Trên nền trời, chiếc đồng hồ vĩnh cửu của tạo hóa vẫn hoạt động; chiếc kim dài lướt qua những tầng mây trong những chuyển động giật cục và vô vọng. Nó bị đẩy đi bởi quá khứ ùn tắc và hiện tại ùn tắc; chỉ biết chống cự bằng những tiếng tíc tắc như kêu cứu.

“Đồng hồ là một sự vật lạ lùng” – Anh J. nói khi chúng tôi cùng đạp xe để ngắm hoàng hôn – “Nó là thứ duy nhất cho chúng ta biết chúng ta còn ở hiện tại. Nó giống như mặt trời đang lặn này, vĩnh viễn không có ai vượt qua được chuyển động của nó”.

Mùa hạ không bao giờ trôi đi, nó đứng bên ngoài vòng vận động của các mùa hay đúng hơn nó là mặt trời của các hành tinh. Mùa xuân xoay tròn quanh nó bằng cánh én, mùa thu – bằng lá rơi và mùa đông – bằng gió bấc. Trời tối dần trong một ngày mùa hạ không trôi đi, nhưng điều ấy không khiến tôi ngạc nhiên. Anh J. nói với tôi rằng: “Dù mặt trời có đứng bất động trên nền trời thì dòng thời gian vẫn chảy. Mặt trời, nhật động không liên quan gì tới thời gian; nó chỉ bắt chước thời gian trong cái kết thúc của nó. Những chiếc đồng hồ không bao giờ chết”.

Trời tối dần nhưng không khí lại như sáng rực lên, như thể không khí bị đánh bóng hay không gian như khoảng trống trong một cái chai đang bị rút dần ra một chất lỏng hay khí có chiết suất rất nhỏ. Tôi bước xuống vườn giữa sự im lìm của những vạt cỏ xa lạ. Thoạt đầu sự um tùm của nó khiến tôi sợ hãi, một nỗi sợ hãi bản năng trước bóng tối và những điều nguy hiểm không lường trước được. Cỏ cao đến mức tôi không thể nắm bắt được khi nào sẽ chạm chân xuống mặt đất và tôi tưởng tượng ra lũ rắn đang cuốn chặt lấy nhau như sự sống và cái chết hay trườn đi qua những gốc cỏ trong sự im lặng dối lừa. Nhưng tôi thấy ông đang đứng bên cạnh bức tường đổ, cầm trong tay những quả ớt màu xanh da trời; ông nhìn ra cánh đồng qua ô lưới mắt cáo bằng đôi mắt mà lòng đen và lòng trắng đã hòa lẫn cùng nhau. Tôi bước lại gần, cỏ cao đến tận đầu gối.

“Sao cháu không ngủ đi” – Ông hỏi.

“Trời còn chưa sáng mà ông” – Tôi nói – “Ông tìm kiếm gì ở ngoài cánh đồng thế”.

“Những ngày thơ” – Ông nói – “Những ngày thơ”.

“Không, không” – Tôi hét lên nhưng ông đã biến mất trong làn gió rất nhẹ và thơm thổi qua; như thể khi người già bắt đầu sống lại thời thơ ấu của mình thì cũng là lúc họ sẵn sàng tan đi. Tôi thấy ông ở giữa những tầng mây. “Những kẻ già nua thường không đủ sức hồi tưởng lại những ngày thơ dại xa xôi nhất. Với họ chuyện ấy thực sự quá phức tạp. Họ chỉ biết dùng thời gian để làm những thứ vừa sức với họ: dùng sự mỏi mệt để chinh phục đắng cay, chua chát” – Anh J. nói như thế.

 

bài đã đăng của Nguyễn Nhật Minh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)