Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

phác họa (kỳ 3)

4

 

“Em sẽ không ở lại lâu đâu” – Tôi nói khi bấm thang máy lên tầng 6. Chúng tôi đang ở trong một ống tre.

“Tùy mày thôi” – Anh đút tay vào túi quần, ngắm nhìn những chiếc lá đang rơi trong gió sáng. Anh có gương mặt của màn đêm.

“Em không nghĩ người ta có thể sống được ở trên ngọn tre” – Tôi nói – “Cứ như một con cò trắng”.

“Thì trông tao cũng đâu khác gì một con cò” – Anh nói và chúng tôi bước ra. Với cái lưng rất dài và đôi vai hẹp, trông anh từa tựa như một con bọ ngựa ma đứng thẳng, có vẻ gì đấy thật bệnh hoạn. Anh đưa tôi đi trong hành lang có mầu xanh của mạ non như trong một cái ống khổng lồ, từ thành ống phát ra những âm điệu thánh thót, lẫn trong tiếng gió thổi và lá rơi nghe như tiếng hót của một con chim sơn ca ở vùng đồng quê thanh bình nào đấy. Chúng tôi dừng lại trước một căn nhà nhỏ bện bằng lá tre. Khi nhìn nghiêng, căn nhà trông giống như một tổ chim sâu đang chuẩn bị lăn đi.

“Thế đấy, dòng dõi cóc mà bây giờ lại sống trong một cái tổ chim” – Anh nói và đưa tay gõ cửa –“Tao quên mất không mang theo chìa khóa”. Chúng tôi đứng đợi trong mùi thơm của tre nứa; những khoảng trời nho nhỏ trong vắt thấp thoáng ở trên đầu. Vài con tắc kè xanh biếc nhìn chúng tôi bằng con mắt hấp háy và với sự khéo léo của những nghệ sĩ, chúng nhảy từ nơi này sang nơi khác và thoải mái đong đưa trên cành tre như những chiếc võng.

“Anh về rồi đây, Nadja”. Sau một hồi không có động tĩnh gì, anh J. đưa cả nắm đấm lên gọi cửa. Tôi bỗng nhìn thấy một con vẹt sặc sỡ bay vụt ra từ nóc ống khói xinh xắn có hình cây bút ở hông nhà, hối hả bay đi. Tôi định giật tay áo anh J. nhưng nó đã mất hút vào mầu xanh trong trẻo của bầu trời và khi ấy cánh cửa bỗng hé mở.

“Ngoài trời có mưa đâu hả anh” – Nàng nhẹ nhàng nói và đưa mắt nhìn tôi – “Có phải anh trai anh đã đập cửa như một tên say rượu không?”

“Đừng nói vớ vẩn” – J. đẩy mạnh cửa và bước vào. Tôi thong thả đi theo. Nadja khép cửa và sau vài chuyển động mềm mại, nàng nắm lấy tay tôi. “Em sẽ cất đồ cho anh”.

“Cám ơn chị” – Tôi nói và đặt cái va li xuống. Nhưng Nadja không xách nổi nó – “Anh đựng bụi trong này hay sao thế. Trời ơi”. Nàng kêu lên. Thật ngu xuẩn.

“Không phải bụi mà là những con nhện tí hon” – J. nói – “Em cứ để mặc Q. đi, cậu ấy còn kì quái hơn tất cả chúng ta”.

“Không, em sẽ là người cất nó” – Nadja nói và cố sức lôi chiếc va li trên nền nhà được lót bởi những chiếc lá tre khô có màu nâu. Tôi quyết định hạ nhục nàng bằng cách gỡ những ngón tay nhỏ nhắn của nàng khỏi quai xách và mang va li đến nơi mà anh J. vừa hất hàm.

Tất cả vật dụng trong nhà đều được bện bằng lá tre: từ bộ bàn ghế, tủ gương, giá để giày dép cho đến bộ ấm chén, chiếc lược và cái tất. Những chiếc lá non thì được dùng để dệt nên những tấm rèm cửa sổ xanh mướt và lộng lẫy. Trên cái đôn có đặt một chậu cây ngô đồng với những quả ngô đồng xanh đang lớn màu tím biếc; mọi thứ đều đang tỏa ra một thứ mùi thơm ấm áp, dịu dàng.

Nadja đã mặc áo mới, đó là một cái áo tay rộng màu đen điệu đàng, mỏng như một cái chớp mắt. Nàng đi đi lại lại trong nhà như thể đang bát phố.

“Sống trong tổ chim là cứ phải ăn mặc như thế” – J. bĩu môi nói khi bưng ra một cái khay lớn đặt lên mặt bàn. Trong khay chứa đầy những con muỗi béo tròn đã bị vặt hết cánh. Vậy là anh J. đã bắt đầu ăn những thức ăn của cóc.

“S. nói đúng, ngay cả những thứ có thể được cứu vãn cũng không thể cứu vãn được” – Anh ngồi trên một tay ghế, soi gương bằng một cái lá tre rất mỏng và chải tóc” – Tao đã sắp sửa biến thành một con cóc lưng gù. Tao cảm thấy những cái mụn sần sùi đang độn lên dưới lớp da và mồ hôi trở thành thứ nhựa độc. Tao biết rồi đây tao sẽ là một con cóc hoàn chỉnh, một con cóc không còn gì để mà cứu vãn”.

“Sẽ không có gì xảy ra hết nếu anh cố gắng ăn xà lách mỗi ngày thay vì những con muỗi khốn kiếp kia” – Tôi nói – “Anh đang hút máu của chính mình”.

“Nếu bây giờ mày ăn đống muỗi này thế nào thì tao cũng ăn thứ xà lách của mày y như thế” – Anh nói và đưa tay vỗ mông Nadja khi nàng tình cờ bước lại gần. Nàng vẫn cứ đi lại như gà mắc đẻ.

“Bố viết thư cho em nói rằng mẹ đã treo cổ tự vẫn. Khi chị A. mang nước ấm lên cho mẹ rửa mặt vào buổi sáng thì thấy xác bà đã cứng. Chị ấy đã ngất khi biết không thể cứu mẹ được nữa, cái ngất thật kì diệu. Mẹ đã tự treo cổ bằng chuỗi hạt của mình, cái chuỗi hạt mới được thay bởi sợi dây vô cùng chắc chắn. Có lẽ mẹ đã khổ sở lắm. Tính đến hôm nay thì mẹ đã chết được 38 ngày rồi, em đến thông báo cho anh để cùng về cho kịp 49 ngày. Trong thư bố cũng nói rõ lí do vì sao lại chậm thông tin cho em, bố phải mất rất nhiều thời gian để thảo lá thư ấy; ông chưa bao giờ viết cái gì cho riêng ai cả”.

Tôi đưa tay che mắt vì nhận thấy không gian đã tối sầm một cách đột ngột. Những luồng ánh sáng rực rỡ chiếu từ bóng tối sâu thẳm trong tâm hồn lên mi mắt tô; nó dần dần cuộn lại như làn khói phân vân trước gió để định hình thành một dấu hỏi khổng lồ. Dấu hỏi ngọt ngào của số phận. Tôi nhìn thấy Caddy đang leo cầu thang, cổ em quàng một chiếc khăn màu trắng. Và mẹ, với đôi tai của người đã hoàn toàn mù lòa trước cuộc sống, ngồi lắng nghe những chuyển động đơn độc vĩnh hằng và bướng bỉnh của trẻ thơ giữa tiếng kinh chiều và mùi hương trầm lạnh lẽo.

“Bế em con xuống đi Q.” – Mẹ nói. Giọng mẹ cổ xưa như thể là tiếng vọng về từ một nơi xa xăm nào đấy trong thời gian, nơi những triều đại hoàng kim, cỏ dại hoang phế và chiến tranh đều bị gạt đi bởi vùng không gian âm u thấm đẫm tiếng chuông đồng.

“Caddy” – Tôi quát. Em vẫn bò lên.

“Caddy”

Em không thích hợp với chơi vơi.

“Con đang bị đóng đinh vào bàn, mẹ ạ” – Tôi nói và cửa bật mở, bố như bóng đêm tháng 12 giữa khung cửa chói lòa. Ông bước về phía chúng tôi những bước dài xa lạ. Sau lưng ông, nền nhà đã được rắc bởi một lớp bụi mỏng và chị Uyên, lặng lẽ bước theo bố, in những vết giày đỏ lên đấy. Tay chị vẫn nắm cổ con búp bê Nadja. Nàng đang khóc.

“Không có bà già nào trên đời lại tự tử hết” – Anh J. nói – “Họ không thể kiếm nổi lí do cho việc ấy hay vốn dĩ họ không bao giờ thực sự nghĩ về việc ấy. Mẹ thì lại càng không vì với bà tự tử là một điềm xui xẻo. Bà đã chết từ rất lâu rồi”.

Và anh thản nhiên thả một con muỗi vào miệng.

“Em không hiểu” – Tôi nói.

“Giống như một kẻ tuyệt vọng trong tình yêu mà vẫn nghĩ đến những cái bát chưa rửa vậy”.

Nadja đang đứng dưới cửa sổ, nơi nắng hồng và lá tre rơi. Tôi nhận thấy bóng nàng đang lắc lư trên nền nhà, lướt qua mặt chúng tôi như vết tẩy bút chì. Điều này thật vô lí vì mặt trời đâu có lắc lư. Nhưng đâu có ai dám chắc được điều gì.

Rồi nàng bắt đầu nhảy, những điệu nhảy tôi không biết tên, kì dị và có vẻ hoàn toàn ngẫu hứng. Thoạt đầu nàng uốn mình và lắc hông ngay bên cửa sổ. Lá rơi nghiêng trên mái tóc của nàng. Những chuyển động cơ thể không phù hợp với trang phục trên người, với cái áo tay rộng và quần Jean vốn chỉ nên đi dạo rồi ngoáy mông trên hè phố cho người ta nhìn; khiến nàng hơi có vẻ kệch cỡm. Cái bóng mờ nhạt của nàng dường như di chuyển trong những động tác hoàn toàn khác, điều đó làm cho khi nàng lướt trên nền lá tre khô về phía chúng tôi trong những bưcớ dài và thoáng qua như gió, người ta có cảm tưởng rằng nàng và cái bóng của nàng là một đôi nhảy tuyệt đẹp mà thiếu đi một trong hai, ta sẽ không thể nào cảm nhận được hết vẻ đẹp trong mỗi bước nhảy nữa, như thể ngắm nhìn một người đang tập điệu Valse trước tấm gương trong nhà tắm chật hẹp vậy.

Nadja vuốt nhẹ lên gương mặt tối sầm nhưng luôn đượm vẻ giễu cợt của anh J.. Nàng nhìn tôi, cái nhìn nửa như ngạo nghễ, nửa như ngây thơ. Rồi nàng lại nhảy, tiếp tục những cái vặn mình và đổi hướng càng lúc càng quái đản. Nàng điên loạn? Nàng có những chuyện sầu thảm được giữ kín như những kì kinh nguyệt? Nàng đang hạnh phúc? Nàng cứ nhảy múa như không cưỡng lại được, như thể cuộc sống của nàng được sinh ra và ngẫu nhiên bị trói buộc trong những chuyển động. Nàng tìm lại sự thanh thản cay đắng của những con búp bê?

“Nàng vẫn mãi là một con búp bê” – Tôi thốt lên và chợt hiểu ra được sự sỗ sàng của mình, tôi cúi mặt xuống.

“Đúng thế, nàng chỉ là một con búp bê, một con búp bê tội nghiệp” – Anh nói – “Nhưng bây giờ nàng còn là cả đàn bà, nàng biết giao hợp”.

Nadja vẫn cứ nhảy. Tôi cảm nhận được nỗi đau đớn câm lặng vô hình khi nàng rướn người lên và khuôn ngực rắn chắc của nàng nhô cao đầy gợi cảm sau lần áo mỏng – nàng không mang xu chiêng. Nỗi đau đớn mà tôi đã từng cảm nhận khi còn là một sinh viên ngành Toán của trường Tổng hợp; ngày ấy, giống như biết bao kẻ khác, tôi là một kẻ lãng quên chính mình …

Nadja vẫn nhảy phải không? Nàng như ngất đi giữa cơn khoái cảm uốn éo cơ thể trong những nhịp điệu tưởng tượng. Nàng đã không còn có thể biết đến nỗi đau của chính mình được nữa. Khi cất lên thứ tiếng nói của con người, nàng đã vô tình chôn đi nỗi khổ đau của sự vật vô tri; nhưng nó không bao giờ biến mất mà luôn cố nhoi lên mỗi khi nàng phô bày cơ thể trong những dịch chuyển im lặng. Nàng như một đứa trẻ lên hai, lúc nó nói lên tiếng “cha, mẹ” đầu tiên cũng chính là lúc nó giam cầm chính mình. Trong mỗi chúng ta đều có một đứa trẻ đang gào thét về những khổ đau vô tận của nó. Nhưng chúng ta đã không còn nghe thấy nữa, không bao giờ nghe thấy nữa.

Khi không lãng quên chính mình, tôi lại lãng quên tất cả mọi người.

“Chị ấy như đang kiệt sức” – Tôi nói và để che giấu sự bối rối của mình, tôi với tay lấy một con muỗi.

“Cứ để yên đấy, mày không thấy nàng đã nhảy thật đẹp hay sao?” – Anh J. nói – “Vả lại tao cũng không thể can thiệp được, cũng giống như nàng chẳng thể làm gì để ngăn tao không biến thành một con cóc”.

“Lại cóc” – Tôi nói – “Em biết anh đâu có muốn trở thành một người như bố, suốt ngày chỉ lảm nhảm về cóc. Đôi khi em nghĩ rằng nếu anh có hóa thành cóc thật thì cũng chỉ do anh quá tin vào chuyện ấy”.

“Niềm tin chỉ được lôi ra khi người ta chẳng còn biết lí lẽ nào để chứng minh. Chẳng ai hóa thành cóc nếu chỉ đơn thuần tin vào định mệnh của mình, nếu không chắc người ta phải lập cả sở thú để nhốt lại bọn hoang tưởng và bách hại cuồng. Tao biết bên trong tao đang xảy ra những biến đổi sinh hóa phức tạp, tao thấy mình chẳng khác gì mấy cái lọ đựng dung dịch hóa chất. Cũng có thể tao nên tìm cho mình một cái kén nào đấy để chui vào cho mày có thể thoái mái gọi luôn tao là đồ con nhộng. Một con nhộng nở ra cóc.”

Nadja đứng trước mặt chúng tôi, mồ hôi đã khiến chiếc áo vải voan của nàng ướt đẫm, dính bết vào cơ thể; bầu vú nàng với núm vú nhỏ xinh đang cương lên khiêu khích. Nàng đẹp như khi bước lên từ một hồ nước lặng giữa rừng cây. Bằng giọng nói đứt quãng vì thở gấp, nàng hỏi tôi:

“Anh thích nhìn em nhảy chứ?”

Tôi không trả lời.

“Đến một ngày nào đó cả nhân loại cũng sẽ như Nadja” – Anh J. nói, giọng anh như dài ra vì mỉa mai – “Loài người sẽ không chống đỡ nổi sức nặng của sự tiến bộ nữa, họ sẽ kiệt sức. Và thêm một lần nữa, họ tìm cách giam cầm chính mình bằng sự quên lãng trong những cơn khoái cảm ngất lên ngất xuống. Tao rất mong mày sống được đến ngày thấy cả loài người đổ tràn xuống đường nhảy nhót; nhân loại khi ấy chỉ còn biết và cần đến ma túy”.

“Anh thích chứ?” – Nadja vẫn hỏi tôi. Tôi mỉm cười, nhìn vào cái cổ trắng ngần của nàng, cố sức giữ cho đôi mắt ánh nhìn trống rỗng.

“Anh thích lắm đúng không?” – Nàng nói và bắt đầu cởi cúc quần Jean vẫn đang ôm sát lấy cặp mông và đôi chân tuyệt đẹp. Nàng tụt quần rất chậm khiến tôi có cảm giác hàng thế kỉ đã trôi qua từ khi nàng vuốt nhẹ những ngón tay từ háng lên đến cái cúc cho tới khi cặp mông mịn màng của nàng bắt đầu lộ ra và tôi nhìn thấy nàng mặc một cái xilip dây màu đen. Tôi nuốt nước bọt một cách ngu ngốc, giống như  khi nghe người ta nói đến cứt và quả chanh.

“Nàng là búp bê và nàng là trẻ con, một đứa trẻ con thích làm tình” – Anh J. nói và đứng dậy, bước đến bên Nadja. Tay anh ôm lấy mông nàng để giữ cho cái quần khỏi tiếp tục tuột xuống còn tay kia anh mơn man trên bầu vú nàng. Nadja vẫn cứ nhìn tôi đầy vẻ thản nhiên cho đến khi tôi cảm thấy nàng bắt đầu chìm xuống trong cơn khoái cảm; nàng khẽ nhắm mắt và nghiêng đầu cọ mũi vào tai anh J., chỗ thùy châu.

“Vậy vấn đề của mẹ thì thế nào?” – Tôi hỏi, giọng như nghẹn đi.

“Chúng ta sẽ nói về chuyện ấy vào tối hôm nay” – Anh J. quay lại nhìn tôi qua một bên vai khi dìu Nadja về phòng. Cả người và thú vật đều nhìn tôi theo kiểu như vậy.

Nàng đã ngất thật sự.

Tôi ngồi lại một mình trên đi văng bện bằng những cái lá tre vàng óng, cố nhìn về phía cái va li để trấn tĩnh. Nhưng không ăn thua. Dương vật tôi đang cương lên tức tối trong những lớp quần; tôi muốn thủ dâm.

 

 

 

 

 

5

 

“Theo anh, thứ gì là cần thiết nhất với một người phụ nữ?” – Tôi nghe bác trưởng thôn hỏi. Bác có mặt trăng trong mắt trái và ngôi sao trong mắt phải.

“Biết cách sử dụng một cái gậy” – Anh thợ may nói, anh đang ngồi trên một cái thước gỗ và nghển cổ lên.

“Biết cách không phải là một thứ gì” – Bác trưởng thôn nói và cứ xua tay liên tục như thể bác đã chán lắm rồi nghe mấy chuyện tào lao. Trong ánh trăng, động tác xua tay của bác phát ra âm thanh như tiếng một con bồ câu đập cánh –“Chẳng lẽ trong cái thị trấn này không tìm nổi một người biết phân biệt danh, động và tính từ à? Thật đáng thất vọng”.

“Một con lợn ba tạ chăng?” – Bác đạc điền reo lên –“Đấy là biểu tượng của sự phú quí”.

“Không” – Bác trưởng thôn nói – “Và yêu cầu các người chấm dứt ngay việc cho rằng một cái gì bao giờ cũng là biểu tượng cho một cái gì. Tôi kinh tởm ẩn dụ, các người hiểu chưa?”

“Có thể là một củ tỏi” – Cô thủ thư nói.

“Không”.

“Một cái xà tích bằng bạc để đeo trên cổ”.

  Không”.

“Một đứa trẻ thơm mùi kẹo caramen trên xoáy tóc”.

“Không”.

“Sự trả thù”.

“Không”.

“Một cái mồm thứ ba”.

“Không. Tôi không hỏi về ước muốn của họ”.

“Có thể đánh rắm bất cứ lúc nào cởi quần”.

“Không”.

“Sự bảnh bao của con trai họ”.

“Không”.

“Nữ tính”.

“Anh nói như thể đang giới thiệu một loại dầu gội đầu dành riêng cho tóc vậy”.

“Sự vờ vịt”.

“Không. Cái đó dành cho những kẻ sắp phát điên”.

“Cái gì cơ?”

“Cái vờ vịt. Nó có thể cứu người ta khỏi sa vào sự điên loạn”.

“Ồ”.

“Người ta nói nhiều mà mình cố tình hiểu ít đi”.

“Không”.

“Một bộ rễ. Vì cảm tình của họ dễ bị gió thổi bay”.

“Không”.

“Chẳng có cái gì cả. Phụ nữ không cần gì nhất mà họ cần tất”.

“Không”.

“Một củ tỏi” – Cô thủ thư cãi – “Tôi là phụ nữ”.

“Không”.

“Tại sao không?”

“Nếu cô cần củ tỏi đến thế thì cô không phải là phụ nữ, cô là một củ tỏi. Một củ tỏi đực”.

“Bàn tay có chín ngón”.

“Không”.

“Cái quần trinh tiết”.

“Không”.

Bác trưởng thôn cứ cần mẫn xua tay một cách chán nản; nó có vẻ chán đến mức tôi hơi sợ rằng tới khi bác khởi sự đưa ra ý kiến của mình thì tất cả đám đông lố nhố đang ngồi trên sân kia sẽ nhất tề đứng dậy và gào lên – “Khôôôngg”. Họ sẽ chẳng nghe làm quái gì ý kiến ấy. Chắc chắn là thế.

A. đang ngồi trong lòng bố, tay lắc một cái trống con, nhưng tôi không nghe thấy có âm thanh nào phát ra. Bác T. ngồi xoa đầu em, thỉnh thoảng ông lại gật gù cái gì đó có vẻ rất đắc ý. Tôi mới 12 tuổi nhưng tôi cũng rất khoái cái cảnh thấy người ta đắc ý. Nó thật con người. Hai bố con ngồi quay lưng lại ánh trăng. Tôi vén những lá xoài non đang rủ xuống trước mặt như râu ngô để A. có thể nhìn thấy tôi. Tôi định huýt sáo để gọi em nhưng sự căng thẳng của cuộc họp dưới sân khiến tôi lưỡng lự.

“Tại sao hôm nay ông Đ. vẫn không có mặt” – S. nói, hắn chen ngang một cách thô lỗ vào cuộc thảo luận –“Ông ta phải biết rằng họp hành là một cái gì đó rất quan trọng chứ, đâu phải như thịt cá ngoài chợ mà không thích ăn hôm này thì để đến hôm khác. Hay là ông ta bỗng dưng quên khuấy đi rằng mình vẫn là một Đảng viên hay có khi ông ta không còn nhớ nổi mình trong cái tư cách đó?”

“Tôi nghe nói ông ta đang chuẩn bị dọn nhà” – Bác trưởng thôn nói. Bác có vẻ không thấy thú vị gì với ý kiến của S..

“Tôi thật không sao hiểu nổi” – S. cười khẩy và nói – “Nhà ông ta ở sát cạnh nhà bác kia kìa, làm gì có ai chuẩn bị chuyển nhà đến cả chục năm cơ chứ. Mà chúng tôi … Hắn nói “chúng tôi” … có đòi hỏi gì nhiều ở nghĩa vụ của ông ta đâu; ông ta chỉ cần trước mỗi cuộc họp nhô đầu qua cái hàng rào kia và la toáng lên rằng ông ta bận, thế là đủ để chúng tôi thấy được cái ý thức trách nhiệm Đảng viên của ông ta, và khi ấy chúng tôi không phải mang cái cảm giác bị xúc phạm mỗi khi tới đây dự họp chỉ vì có một kẻ coi nó chẳng ra gì”.

Bác trưởng thôn nhìn S. một lúc rồi bác hơi nhún vai. Sau đó bác quay mặt sang đám đông và khởi sự nói bằng một cái giọng cực kì chán nản. Bất cứ thằng cha có tí chức sắc nào trong tay cũng thích biểu diễn cái điệu bộ chán nản – Bố nói – Cho rằng thế là oai lắm.

“Tôi mới là người không hiểu nổi cậu. Tất cả mọi người ở đây đều không còn thắc mắc gì về việc ông Đ. luôn luôn vắng mặt trong các cuộc họp chi bộ. Chẳng một ai thắc mắc gì cả, tôi thề đấy. Chúng ta thừa biết là ông ấy đang vướng bạn chuyện của dòng họ, có tin đồn rằng một trong những người con của ông ấy sớm muộn gì cũng hóa trở lại thành cóc để chuộc lại tội lỗi tổ tông. Một chuyện cũ rích nhưng chắc chắn là chẳng cha mẹ nào đang tâm nhìn con mình biến ra loài súc sinh mà không cố sức làm một cái gì đấy. Bao năm nay ông Đ. vẫn bận rộn để mong cứu vãn được đôi chút gì đó, chúng ta phải thông cảm và thực tế đã thông cảm cho gia cảnh của ông ấy cũng như bao gia đình khác trong thị trấn này. Sắp tới ông Đ. chuyển nhà đi chỗ khác có lẽ một phần để chuyên tâm hơn cho công việc và nghiên cứu. Tất nhiên cậu sẽ nói dù ông ấy không muốn bị phân tâm cho những thứ trời ơi đất hỡi, nhưng thế thì bà vợ ông ấy đâu, sao bà ta không đi họp thay cho chồng? Cậu tuy đến định cư ở đây chưa lâu nhưng chắc không thể không biết rằng người phụ nữ tội nghiệp ấy đã bán mình cho Phật ngay sau khi sinh hạ người con gái út, bà ấy ngồi cầu nguyện nhiều quá đến mức đôi chân hiện nay đã tê cứng không thể đi lại được. Mà tôi thiết nghĩ kể cả chân cẳng bà ấy có không làm sao đi nữa, tôi cũng chẳng nỡ bắt bà ấy đến đây họp hành, dù như cậu nói từ chỗ bà ấy ngồi đến chỗ này chỉ có vài bước chân. Vì sao à? Vì thế thì được tích sự gì? Tuy không phải cứ làm cái gì cũng phải được tích sự gì, nhưng cậu phải công nhận với tôi là nguyên tắc và những cái tích sự đâu phải có quan hệ màu mủ gì, đúng, chẳng chị em gì hết. Chắc cậu còn nhớ 2, 3 năm gì đó, chúng ta đã nhất trí miễn thuế phục hưng thôn cho con mẹ khốn khổ ở tít hẻm núi Cấm vì chồng mụ bị một con dơi cắp đi còn con trai độc nhất của mụ thì nôn mửa đến chết vì ngắm trăng rằm trong đêm ba mươi. Chúng ta đã thống nhất việc ấy một cách lặng lẽ, không ai nói với ai một câu nào và cũng chẳng cần đến một tờ giấy. Một việc làm đầy tình nghĩa! Thế mà bây giờ cậu muốn gì? Lôi một ông già đang trăn trở về việc con ông ta sắp sửa hóa cóc đến để họp chi bộ thôn! Hay lôi một phụ nữ yếu đuối đến để nghe cậu và những người này nói nhăng nói cuội. Tất nhiên, chúng ta có mặt ở đây vì chúng ta thích ngồi họp, nhưng bà N. thì khác, bất cứ âm thanh nào không phải tiếng cầu kinh đều khiến bà ấy chóng mặt hết muốn sống. Mà những cuộc họp của chúng ta thì cậu biết rồi, nói cái quái gì cũng được, chỉ cấm đọc kinh, tất cả mọi thứ kinh. Còn nữa, cậu nói chỉ cần ông Đ. nghển cổ qua cái hàng rào kia và hét “tôi đang bận” là quá đủ; tôi thấy đấy đích thực là mong muốn màu mè và chẳng tích sự gì ráo. Chẳng thà chúng ta cứ lặng yên để ông ấy không biết tới ngay cả sự áy náy của mình. Vì áy náy là một bệnh rất dễ lây. Chúng ta dường như ngày nào cũng có những cuộc họp nên tôi biết ông ấy sẽ rất khó nghĩ nếu lỡ tham gia một buổi mà buổi sau lại không thể vì quá bận công việc. Cái này cũng giống như lời chào, nếu cậu đã lỡ miệng chào ai đó ngoài đường thì lần sau gặp lại, dù ai lờ đi cũng vẫn khiến cậu có đôi chút khó chịu. Tôi thì không muốn những chuyện đại loại thế tẹo nào, một phần vì nó chẳng tích sự gì, thứ nữa là do tính chất cuộc họp, thiếu ông ấy cũng chẳng sao. Tôi nói nhiều thế là để cho cậu hiểu, lãnh đạo thôn bao giờ cũng giải quyết mọi chuyện có lí có tình, và làm lơ đi trước một cái gì đó đôi khi lại là giải pháp tối ưu. Còn nếu cậu vẫn cảm thấy bị xúc phạm vì ông Đ. đã không đến dự họp thì cũng được thôi, tôi thấy chuyện ấy cũng bình thường, ai mà chẳng có lúc cảm thấy khoái trá vì thấy mình đang tủi thân. Thậm chí có người còn thích được tủi thân nữa cơ”.

Tôi nắm lấy tay Caddy và vẫy vẫy giữa những chiếc lá non. Trăng rọi lên tay em thứ ánh sáng mát lạnh, lốm đốm như vảy bạc. Tôi thì thào.

“Vẫy chị A. đi kìa Caddy. Chị ấy đang chơi trống đấy, có thích không? Caddy vẫy được chị ấy nhé và anh sẽ hỏi mượn cái trống đó cho em”.

Caddy vẫy và lá vẫy. Nhưng A. vẫn cứ nhìn đi đâu.

“Bác nói thế là không được” – S. nói và hắn huơ tay thu hút sự chú ý của mọi người –“Thứ nhất là ông Đ. không thể xử sự như thể vì có nỗi khổ tâm riêng mà được quyền coi nhẹ những thứ khác. Nỗi khổ đau không nên là thứ đem ra để lợi dụng. Hơn nữa cái thứ mà ông ta coi như chẳng có gì ấy là những cuộc họp, một phần không thể thiếu được trong cuộc sống của chúng ta. Tầm quan trọng của nó thì tôi chẳng cần phải nói ra ở đây, ai cũng biết, người ta còn nói đến cả một nền văn hóa đi họp nữa cơ mà. Đặc biệt ở các thôn dựa vào núi Cấm, họ coi sự họp hành không khác gì một thứ tâm linh. Nói như thế thì hành động và thái độ của ông Đ. không khác gì một kiểu báng bổ. Cũng giống như khi cả thiên hạ tin vào tiến bộ xã hội thì ông ta đóng khố đi giữa đường nói rằng đấy là phản tự nhiên, hỏi sao không chướng mắt? Thứ nữa lãnh đạo thôn không thể cứ phớt lờ đi là xong, coi như không có gì chỉ vì chuyện ấy đã đạt được sự đồng thuận mà chẳng có bất cứ một ai biết cả; và một điều nữa tôi muốn nói là các bác cũng không thể cứ lôi mãi những thứ đạo đức, tình nghĩa ra để biện hộ cho cái cung cách xử lý công việc ngớ ngẩn vô trách nhiệm của mình được. Tôi có ý kiến như thế không phải là có ý nghi ngờ những nỗi khổ trong gia cảnh nhà ông Đ. , thậm chí trái lại tôi còn rất háo hức muốn biết rõ câu chuyện và biết đâu lại có thể giúp ích được gì, nhưng nói chung phải chuyện nào ra chuyện nấy. Tôi biết trong thôn mình, hay cả trong thị trấn mọi người đều rất quí trọng ông ta nhưng tôi quả thực không hiểu làm sao có thể thực tâm quí trọng một ai đó khi còn chưa một lần gặp mặt y. Quả thực tôi đến thị trấn này đã nhiều năm mà chưa bao giờ thấy ông Đ., bà vợ và cả đứa con trai trưởng bước ra khỏi nhà. Chỉ có một đôi lần tôi bắt gặp đứa thứ ba dắt em nó đi chơi ngoài đồng và đứa con gái đầu lòng cứ nắm cổ con búp bê đuổi bướm vàng dưới giàn hoa giấy đằng kia. Đúng là một gia đình quái lạ”.

“Muốn vào nhà ông Đ. thì phải đi qua cái lỗ chó chui kia kìa” – Anh thợ cắt tóc nói. Anh đang ngồi trên mũi cái kéo – “Lần nào nhân viên đến thu tiền điện nước cũng phải đứng ngoài hàng rào thò tay qua lại đống dây leo quái quỉ gì ngứa như lá han để moi cho được mấy tờ giấy xanh đỏ trong tay một thằng cu con. Thằng nhỏ đầu còn dính cứt trâu mà ranh như quỉ, tôi đố ai lừa được nó cái gì đấy”.

“Thực ra sống với với bà con xóm giềng mà cứ như mặt trời mặt trăng cũng không phải là hay” – Bà bán bún nói – “Bấy lâu tôi nghe ông Đ. vướng bận chuyện gia tộc nên vứt bỏ họp hành và giao tiếp với xã hội. Rồi tôi thấy mọi người trong thôn không đả động gì tới chuyện này nữa nên trong bụng cũng cầu trời cho nhà ông ấy sớm tai qua nạn khỏi. Nhưng bây giờ có cậu này nhắc tới tôi cũng phải suy nghĩ lại. Đúng là từ rất lâu rồi gia đình ông Đ. đã hạn chế quan hệ với những người trong thôn. Cứ nhìn cỏ mọc quanh hàng rào kia là đủ hiểu. Gia đình họ và tổ tiên đã cư ngụ ở đây từ xa xưa nhưng tôi không hiểu sao đến đời ông Đ., ông ấy và gia đình lại cư xử như thể họ chỉ tình cờ có mặt ở đây vì bất đắc dĩ, họ không muốn tiếp xúc với ai để tránh phiền phức và lúc nào cũng làm ra vẻ sắp lên đường đến nơi rồi ấy. Thứ nhất điều ấy khiến cho chúng tôi có cảm giác mình là kẻ chuyên gây phiền nhiễu dù cả chục năm nay tôi không hề thấy mặt vợ chồng ông Đ., thứ hai là việc gia đình ông ấy sống quá khép kín gây cho người ta cảm giác khó chịu, giống như giữa nhà có một cái chum đậy kín mà một con nhái to tướng ngồi trên đấy cấm không cho mở ra, và cuối cùng từ khi linh cảm được lời nguyền đang giáng họa xuống đứa con của mình thì ông ấy cắt đứt toàn bộ giao tiếp với bên ngoài trong sự im lặng tuyệt đối; việc ông ấy chưa từng một lời than vãn về gia cảnh của mình khiến tôi cảm thấy xóm làng chẳng nghĩa lí gì với ông ta. Ông Đ. không cần gì đến sự giúp đỡ của chúng ta hết, kể cả việc chúng ta lờ ông ấy đi coi như không có chuyện gì. Cậu S. nói rằng chúng tôi quí ông ấy, trước đây đúng là như thế vì gia đình của ông ấy là một mẫu mực về sự hòa thuận; nhưng nhất là tôi quí trọng ông ấy chỉ như quí trọng tất cả những người không gây hại gì cho xã hội thôi”.

“Cô con gái đầu lòng sao mà đáng yêu. Cô bé thật vô tư” – Bà lao công duy nhất của thị trấn nói. Một mình bà quét sau dặm đường chính, là niềm tự hào của thôn chúng tôi –“Nhưng đôi khi tôi có cảm giác ngay cả việc chơi đùa của cô bé trước sân cũng là mệnh lệnh của ai đó. Tuy người lớn chúng ta không bao giờ hoàn toàn ép buộc được một đưa trẻ làm gì nhưng tôi vẫn thấy rất thương cảm mỗi lần lướt chổi qua đây. Ồ, các bạn không thể biết được rằng tôi luôn cảm thấy hổ thẹn ra sao khi ngắm nhìn những bé gái vô tội. Thời còn tuổi trẻ tôi đã giành từ trên tay ông chủ quán một suất cơm bé tí tẹo mà một bà mẹ trẻ có gương mặt tiều tụy đã mua cho đứa con gái nhỏ của mình. Chỉ vì quá đói. Tôi hối hận tức thì nhưng đã quá muộn. Chao ôi, cơn đói. Không có nó thì tuổi trẻ mỗi con người mới đẹp đẽ biết bao. Đứa bé tóm ngay lấy tà váy mẹ nó kéo lại như sợ tôi ăn hiếp cô ấy. Nó chỉ nhìn thoáng qua tôi, không hề sợ hãi, bằng ánh mắt sâu thẳm khôn dò. Trong giây phút ấy tôi thấy dường như mình đã đánh mất đi tất cả mọi ý nghĩa của cuộc đời. Ôi, chính vì thế mà bao lâu nay tôi đã sống cô quạnh; tôi hiểu rằng dù chỉ một lần trong đời không nhìn ra đôi mắt của trẻ thơ, tôi đã không đủ tư cách để làm mẹ. Nhưng cô bé nhà bác Đ. mới dễ thương làm sao, dáng người là thiếu nữ mà vẫn như đứa trẻ lên hai. Các bạn phải ngắm nhìn cô bé nô đùa trong những cánh hoa rơi, trong tiếng lích rích chim chuyền buổi sớm. Những lần như thế, tôi lại ngây người ôm chổi đứng trên thảm lá rụng, bất chấp rằng từ đó đến khi xẩm tối tôi phải quét hết tám thôn nữa ở phía Nam. Những ngày đường phố bẩn nhất là những ngày các bà lao công bận đứng nhìn một thiên thần nô giỡn. Nhưng tôi chỉ có can đảm đứng lại đó khi mà cô bé còn chưa nhìn thấy tôi, ôi quả thực đến tận bây giờ tôi vẫn cảm thấy mình không đủ sức để nhìn vào mắt những bé gái vô tội. Tôi nhớ có một lần cách đây tầm 3 tháng, tôi đã để cho tình yêu thương những thiên thần sai khiến, cầm chổi đứng nép bên cạnh hàng rào đằng sau những lá và dây gấc chỉ để mong được nhìn thấy ở khoảng cách gần ánh mắt trong veo trên gương mặt cô bé. Nhưng tôi đã phải giật mình chết khiếp. Tôi nhìn thấy ở ngay cạnh chân mình, bên kia hàng rào, trên đám mười giờ và lá bỏng, một thằng nhóc đang ngồi bất động nhìn trân trối sang bên kia đường. Nó có đôi mắt và kiểu cách kì lạ đến độ tôi cảm thấy rằng nó không thể nhìn được bất cứ cái gì đang hiện hữu; tức là dù đang nhòm sang bên kia đường nhưng nó không có khả năng nhìn thấy thảm lá rụng vô tận đang bày ra trước mắt. Nó có thể nhìn thấy bất cứ cái gì, trừ đống lá đó. Và nhất là tôi nhận thấy nó dường như nó cũng không hề có khả năng cảm nhận thấy sự tồn tại của ý nghĩa trong vạn vật và cuộc sống. Nó mù như một con dơi. Tôi đã sợ hãi tới mức phải nhảy lùi lại một bước và trong khi chưa kịp nhớ ra thằng bé đó là đứa con thứ của ông Đ., tôi đã có cái ước muốn đáng xấu hổ là râu ria hãy mọc lởm chởm trên đống mụn cơm dưới cằm để tôi hóa ra một mụ phù thủy và cưỡi lên cái chổi ấy mà bay mất. Rồi sau một lúc mà tôi tưởng đã cả một kiếp người, thằng bé ngẩng đầu lên. Vừa nhìn thấy tôi nó liền đứng phắt dậy và nhảy xuống đất, như thể tôi mới là kẻ gây cho nó nỗi sợ hãi không bằng. Không kịp để cho tôi có hành động gì, thằng quỉ sứ quay đầu lại và hét lên “Chị Uyên, vào nhà ngay”, khiến cô bé thiên thần ấy hoảng hốt và bóp tưởng đến đứt cổ con búp bê. Tôi bỗng cảm thấy phẫn nộ trước cảnh tượng ấy. Tại sao một thằng bé lại có thể quát mắng như vậy ở cái tuổi của nó? Tại sao lại không cho phép một bé gái đáng yêu chơi đùa trước mặt người khác? Tại sao lại để thiên tần ấy đối xử với con búp bê của mình như vậy? Tất cả chỉ có một lời giải đáp, đó là vì sự độc đoán của ông Đ.. Chính ông ấy đã khép các con mình vào cái khuôn như vậy. Ở trên tôi đã nói, tôi thấy ngay cả việc vui đùa và hành hạ búp bê của con gái cũng nằm trong mệnh lệnh của ông ấy. Rồi tôi nghĩ rằng nếu một ngày kia lời nguyền dòng họ nhà ông Đ. ứng nghiệm, đứa trẻ nào trước mắt tôi sẽ phải hứng chịu cảnh trở thành môt con súc sinh. Là cô bé vô tội hay thằng nhóc độc ác mù lòa kia? Tôi cảm thấy mình như đang thêm giận dữ; những lời nguyền sinh ra, tất nhiên trước hết là để trừng phạt tội lỗi hay sự bất tín của con người và có những lời nguyền đơn giản chỉ xuất hiện vì lòng đố kị, nhưng các bạn có thấy không, dù cho lời nguyền có khủng khiếp thế nào nó luôn mang trong mình ước vọng về sự công bằng và lối thoát. Tôi nói đến sự công bằng. Đúng vậy, tại sao lời nguyền ấy lại cần phải cứ cứng nhắc trong việc giáng họa, tại sao nó cứ phải lựa chọn đúng một trong số những đứa trẻ ấy? Nó sẽ làm gì để thực hiện ước vọng công bình? Gieo xúc xắc chăng? Nó có biết được rằng từ khi nó bị ông Đ. phát hiện ra sự tồn tại, ông ấy tiếp tục sinh ra những đứa con khác để phòng sau này mọi sự ứng nghiệm ông ấy không còn cảm thấy quá đớn đau? Nhưng rồi những hành động tàn nhẫn của ông ấy đã phải trả giá, trời cao đã bắt ông ấy thương yêu hơn hết đứa trẻ sinh ra sau cùng, là bé Caddy ấy. Cô bé giống như một đám mây. Đúng, tôi nói dẫu sao ông Đ. đã bị trừng phạt rồi; chỉ vì sự ích kỉ lo rằng mình sẽ quá đau thương, ông ấy đã sinh ra những đứa trẻ mà có thể số phận sẽ không cho phép được sống mãi kiếp con người. Chao, một người cha luôn mãi đáng thương, ông ấy không biết đến sự diệu kì của tình yêu. Tuần trước khi quét từ núi Cấm ra đây, trong không gian lặng lẽ đầy ánh trăng tôi nghĩ rằng mình đã nghe thấy tiếng ru hời của ông Đ., tôi mường tượng ra ông ấy ngồi trên ghế, ôm đứa con gái vào lòng khe khẽ hát một bài gì đấy. Người ông ấy khẽ lắc lư, những làn bụi rơi ra hơi lấp lánh trong ánh đèn thờ hồng rực. Tôi thấy trái tim mình như bị bóp nghẹt lại và phải cố gắng vô cùng tôi mới nén nổi tiếng thở dài. Một gia cảnh như nhà ông Đ., mới éo le làm sao!”

Tôi nghe thấy sự lặng im và tiếng lộp cộp đơn điệu trên tay A.. Ánh trăng như đang rơi. Tôi cố gắng thì thào nhỏ hơn nữa bên trong mái tóc Caddy.

“Bà L. vừa nhắc đến Caddy đấy. Bà ấy nói em là một đám mây, có hiểu không? Mình lại vẫy chị A. nào. Ồ không, không gọi được đâu, khi chơi trống chị ấy sẽ điếc như một con gà gô”.

“Được rồi, được rồi” – Bác trưởng thôn nói. Bác không xua tay nữa mà vung cả cánh tay lên; rồi sau đó bác khởi sự nghiêng ngả cái đầu, diễn vẻ mặt chán chường uể oải như thể bác chỉ cầu được lăn quay ra đất – “Tôi có hỏi ý kiến ai đâu mà các vị thi nhau nói thế? Các vị biết rõ là mình phải tôn trọng nội qui họp hành chứ. Ngày hôm nay chúng ta không được nói về ông nào cả, chúng ta chỉ bàn về phụ nữ. Vấn đề của ông Đ. coi như tôi chưa nói gì hết; nếu cậu S. vẫn còn cảm thấy mình không được tôn trọng vì có người không nói cái gì thì mời cậu ngày mai qua chỗ tôi, lúc nào cũng được, chúng ta sẽ xem xét tổ chức một buổi họp khác; khi ấy tôi sẽ dựa trên ý kiến của đông đảo mọi người để quyết định xem có nên đánh cho ông Đ. một tờ giấy yêu cầu ông ta đi họp cho đúng với lương tâm ông ấy và sướng bụng xóm riềng không. Quả thực tôi đã chán lắm cái thị trấn này, các người chưa bao giờ ngồi yên ở chỗ của mình quá chục năm cả. Những chuyện dù nghĩa thế nào, chôn sâu thế nào các người cũng có cách moi lên được. Ồ, đôi lúc tôi cũng biết ơn những tình huống quái gở mà các người bắt tôi phải làm; ví dụ như huy động bọn trẻ đi nạo vét đường ống dẫn nước thải vào trong núi đã bỏ đấy ngót nửa thế kỉ. Các người nói đó là niềm tự hào của thị trấn chúng ta, một cái cống rãnh bẩn thỉu to đùng. Các người tự hào cái cống ấy vì nó to, cứ to là phải tự hào cái đã. Tôi chết mệt với các người. Ờ, đúng, đôi lúc tôi thấy mình cũng có nghĩa vụ phải biết ơn dân làng, vì là trưởng thôn tôi không được phép lãng quên bất cứ cái gì hay việc gì ở trong thôn của mình. Nhưng tôi có quên đâu? Không hề quên. Tôi tổ chức những cuộc họp thường nhật đã mấy chục năm nay: chính vì tin vào trí nhớ của mình mà tôi cũng không cần ghi lại vào trong biên bản. Ấy đấy, với một người trưởng thôn như thế mà các người nói thẳng tuột ý kiến của mình cứ như thể vả vào mặt tôi. Làm như tôi chỉ vì không theo sát góp ý với Đảng viên trong chi bộ mà đã khiến ông ta xa rời quần chúng, sống tách biệt với xóm làng. Các người có bao giờ chịu hiểu cho nỗi khổ của người lãnh đạo đâu cơ chứ. Các người muốn vẹn toàn? Vẹn toàn thế nào được? Không bao giờ có sự vẹn toàn cả”.

“Chân lý là sự tiệm cận đến chân lý” – Bố nói – “Đấy là lời của một kẻ thủ đoạn, y trục lợi trên con đường tiến đến lý tưởng và sự hoàn hảo”. Tôi nghe thấy mùi ẩm mốc và tiếng bước chân anh J. bước ngang qua cửa phòng làm việc của bố. Anh trèo qua miệng hầm rồi trượt xuống bãi cỏ. Con đường dẫn lên đồi vắng hoe.

Tôi bám lấy một rễ cây, tóc em quấn quanh người tôi. Giữa những cành dương xỉ và rêu xám, tôi nghe thấy hơi thở đều đều bí mật.

“Cứ nhìn thế anh sẽ bị mọc lẹo ở mắt đấy” – Tôi nói trong khi anh J. đang nhìn vào một cái hang cóc. Anh không nhìn tôi, cố giữ vẻ thản nhiên.

“Dù sao thì cũng không nên”

“Cái gì không nên?” – Anh nói.

“Việc anh định lên đồi bây giờ” – Tôi nói – “Đang trưa cơ mà”

“Không sao hết” – Anh nói – “Nhưng tại sao mày không chịu thả nó vào trong nôi? Trăng lên bây giờ đấy. Nhìn nó ngủ kìa”.

Anh chỉ vào Caddy. Em đang ngủ thật, mắt nhắm nghiền trên vai tôi.

“Caddy bám rất chắc” – Tôi nói. Anh bước lại gần và cúi xuống.

“Này, bé con, sao lúc nào cũng lẵng nhẵng theo nó thế?” – Anh cười nhạt – “Có biết nó kì lạ lắm hay không? Có biết anh luôn cảm thấy không thể hiểu được nó một chút gì hay không?”

“Đợi trăng mọc em với anh sẽ cùng lên đồi” – Tôi nói – “Em cũng muốn thăm ông”

“Ồ” – Anh nói, không hề chú ý đến tôi mà cứ nhìn mãi Caddy và cười – “Ồ, bé con, tại sao cứ bám lấy nó thế?”

Một niềm vui ngây thơ lạ lẫm lan nhẹ trong tôi khi anh nói. À, Caddy. Một cậu bé 10 tuổi có thể hiểu nối mình đang hạnh phúc hay không?

“Bác có biết vì cung cách làm việc của bác mà dân làng mất dần lòng tin vào các cuộc họp không?” – S. nói – “Tôi thấy bác đã già thật rồi, bác cứ phức tạp hóa nhưng cái cũ kĩ mà đáng lẽ ra cần phải hiểu nó đơn giản đi; còn những vấn đề thời sự thì bác lại nhìn nhận nó trong một cái ngáp và xử lí quá ư cẩu thả. Chính vì bác không bao giờ nhìn nhận đúng được tầm mức quan trọng của các vấn đề khác nhau nên cách giải quyết công việc của bác bao giờ cũng kệch cỡm so với tình huống. Nếu tôi không nhầm thì trong vòng chục năm trở lại đây, đâu phải chỉ có ông Đ. là bỏ ngang họp hành không có lí do. Tất nhiên những người bỏ hẳn thị trấn này thì tôi không nói, họ chẳng còn có tư cách gì để mà nhắc đến. Thế nhưng trường hợp của ông N. thì sao? Bác trưởng thôn của chúng ta kể rằng (hắn quay đầu nhìn ngó mọi người), ông ta đi chợ bị lạc trong đó 2 năm, đến khi trở ra thì mất hết trí khôn không hiểu đi dự họp có nghĩa là gì nữa. Vô lí hết sức. Trong số chúng ta ngồi đây, ai hiểu được đi họp có nghĩa  là gì? Chúng ta thích đi họp và đấy là nghĩa vụ của chúng ta, cần gì phải hiểu. Nhưng bác trưởng thôn thì lại đòi hỏi người ta phải hiểu được ý nghĩa của mọi sự cơ. Để làm gì? Tôi hỏi, để làm gì? Bây giờ là thời đại của đại ngôn, người ta chỉ cần nói cho sướng miệng, còn thích nghĩ gì thì nghĩ. Xét cho cùng điều ấy không phải mang nhiều niềm vui đến cho cuộc sống của chúng ta sao? Bác trưởng thôn ạ, tôi nghĩ bác lạc hậu thật rồi”.

Tôi nghe thấy tiếng ì ầm ở chân trời nhưng ánh trăng vẫn trong vắt và đàn dơi liệng tròn trong không gian lạnh lẽo. Tiếng xì xào nổi lên trầm đục; S. bước qua bước lại và giả vờ lầm bầm “bác lạc hậu thật rồi” cho tới khi bác trưởng thôn cảm thấy dường như mình đã lạc hậu thật và bác bối rối xoắc tay vào nhau. Nhiều lần bác định khởi sự nói một câu gì đó nhưng tiếng rì rầm bất lịch sự trong sân cứ to dần lên khiến bác có cảm giác dù có nói ra những lời chân thành nhất bác cũng chỉ như đang thanh minh cho một cái gì. Thốt nhiên bác cảm thấy thật bơ vơ.

Nếu như Thượng Đế vẫn còn sống sau khi Nietzsche đã chết; ông ta cũng không muốn mình bị bỏ rơi. Ông ta trở thành người kể chuyện. Thượng đế chính là người kể chuyện. Và ngược lại.

“Một cái bô đái đêm” – Ông T. đột nhiên la lên, to đến mức khiến tất cả đều giật mình. Mặt ông hớn hở đến tội nghiệp. A. ngừng lắc trống, em ngơ ngác nhìn ra xung quanh; tôi lại nắm tay Caddy và kêu lên khe khẽ.

“A. ơi, ở đây, ở đây. Vẫy chị ấy nào, Caddy. Mình phải cố gắng lên, Caddy nghe thấy tiếng nói của họ đều thật nặng nề không. Ừ. Cơn bão sắp đến rồi đấy”.

“Cái gì cơ?” – Bác trưởng thôn cuống quít, nửa như sừng sộ hỏi –“Anh đang nói cái gì đấy?”

“Một cái bô đái đêm” – Ông T. nói và xoa đầu A.. Ông có vẻ đắc ý tợn – “Đấy chính là thứ quan trọng nhất đối với đàn bà. Vợ tôi có một chiếc, màu cờ đỏ, bà ấy có thể tự vẫn được nếu tôi đem nó ra khỏi phòng”.

“Một cái bô? Một cái bô à?” – Bác trưởng thôn lẩm bẩm và bác khởi sự đi tới đi lui trên mấy bậc cấp. Nhưng ai cũng thấy ngay được là bác chẳng ấn tượng gì với ý kiến của ông T.. Có điều cái bô ấy cũng khá là quan trọng, với bác nó chính là một cái phao – “Một cái bô à. Một cái bô. Một cái bô”.

“Có lí đấy. Vợ tôi cũng có một chiếc, màu lá na” – Bác bán tạp hóa nói.

“Màu mè thì quan trọng gì” – Bác đạc điền nói – “Chỉ cần nó không phải là một cái ống”

“Cũng có khi” – Anh thợ cắt tóc nói.

“Một cái bô, một cái bô” – Bác trưởng thôn đã dừng lại ở trên bậc cấp cao nhất – “Một cái bô đái đêm à” – Bác lẩm bẩm rồi đột nhiên quay phắt lại, hét tướng lên – “Khôôgg”. Sau đó với vẻ mặt hết sức hể hả, bác xua tay nói từ tốn:

“Không. Một cái bô đái đêm à. Không”.

“Tôi đã bảo rồi mà” – Chị thủ thư nói – “Dù gì thì vẫn cứ là một củ tỏi”.

A. đã quay trở lại với cái trống của mình, em lắc nó thờ ơ đến nỗi tôi có cảm giác em đang thả mình cho những suy nghĩ mông lung nào đó. Nhưng sao có thể như thế được, em mới chỉ là một cô bé! Em giống như một bông hoa trắng tinh khôi.

Trong bóng tối loang lổ ánh trăng, mọi người vấn tiếp tục nói, và bác trưởng thôn vẫn hài lòng với kiểu cách phủ định của mình. Trên khuôn mặt nhẵn nhụi của bác đã bớt đi vẻ chán chường. “Mọi tranh luận về phụ nữ rốt cuộc cũng chỉ là những trò tán gẫu” – Bố nói. Bỗng dưng tôi thấy tim mình đập rộn lên một cách khó hiểu. Tôi thấy có cái gì đấy đang rơi khỏi cơ thể, tôi cố gắng giữ nó lại nhưng không được. Cơn gió đầu tiên đã thổi đến, tôi nhắm mắt lại và trong khi rùng mình vì lạnh tôi nắm chặt lấy bàn tay bé nhỏ của Caddy.

Tôi sợ mình bay đi.

bài đã đăng của Nguyễn Nhật Minh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)