Thành dắt tay Khuê đi dưới những tán lá xanh. Mùa hạ đang về cùng vạn vật, công viên như vừa được thêm một chiếc áo mới, hoa sơn lựu, hoa trà hắt ánh hồng lên áo cả hai người, Thành hỏi:
“Khuê thực sự khỏe không?”
“Ồ, em khỏe lắm rồi.”
“Trái tim em thế nào?”
“Nó đập tốt lắm.”
Thành giữ Khuê dừng lại, anh nhặt một chiếc lá bám trên tóc Khuê.
“Như thế thì chúng ta có thể xúc tiến việc cưới, hỏi chứ em.”
Khuê ngước nhìn Thành:
“Anh cho em thời giờ, em cần yêu anh thật nhiều trước khi đi đến quyết định.”
Thành kêu lên:
“Em nói gì lạ thế, em chẳng yêu anh từ lâu rồi sao? Chúng ta chưa bàn đến việc cưới hỏi chỉ vì sức khỏe của em. Bây giờ em đã hoàn toàn khỏe mạnh không lẽ tình yêu nó lại giảm theo tỷ lệ nghịch với sức khỏe à?”
Khuê ngồi xuống chiếc băng kê dưới gốc cây olive, những chiếc lá màu xanh lục rơi đầy trên mặt đất, cô cúi xuống nhặt vài quả olive ném ra xa, chậm rãi nói:
“Anh quên là trái tim em đang mang trong lồng ngực không phải là trái tim nguyên thủy của em à? Nó đang cho em những cảm xúc mới và nhịp đập mới, em cần quen với nó, em phải tập yêu anh lại từ đầu.”
Thành nghe nhói trong lồng ngực. Như thế có nghĩa là Khuê không yêu anh. Trong cái thân thể quen thuộc đó, một trái tim lạ hoắc không còn một mảy may rung động nào cho anh sao!”
Hai người ngồi yên lặng rất lâu, Thành ngã đầu vào thành băng, ngửa mặt nhìn những đám mây trắng qua khe hở của tàn lá olive. Anh thấy một nỗi thất vọng mênh mông như bầu trời trên đầu mình. Khuê cúi xuống nhặt những trái olive còn xanh chát ném về phía trước. Công viên buổi trưa êm ả và ít tiếng động, chỉ có lòng người là nổi gió từng cơn.
Khuê sinh ra đã mang một trái tim bất thường, một cái lỗ hổng nhỏ trong trái tim nàng. Khuê sang Mỹ năm 10 tuổi và đã giải phẫu ba lần. Vì một lý do nào đó cái lỗ hổng nhỏ đó vẫn làm cho Khuê ngất đi ít nhất là mỗi tháng một lần. Khuê thông minh, học giỏi nhưng mặc cảm về sức khỏe, đến tuổi dậy thì Khuê không thích có bạn trai. Không thích, hay không dám yêu ai vì chỉ sợ làm phiền cho người khác và đôi khi Khuê còn lo sợ mình sẽ chết trẻ. Bác sĩ của Khuê tìm đủ cách để Khuê có một đời sống bình thường và tự tin vào tương lai. Ông hy vọng một ngày nào đó sẽ có người cho Khuê một trái tim lành mạnh, và ông đã ghi tên Khuê vào danh sách chờ tim, ông làm đủ các thí nghiệm cần thiết trước cho một cuộc giải phẫu. Ông theo dõi và khuyến khích Khuê như một phụ huynh. Ông dự những buổi lễ ra trường của Khuê, chính ông chọn cho Khuê làm nghề cô giáo. Và cái ngày ông chờ đợi đã đến. Một người đàn bà ở California bị tử nạn xe hơi, trong thẻ lái xe của bà có ghi “Organ Donor” (*). Và Khuê đã hội đủ điều kiện để nhận trái tim đó.
Khuê lay vai Thành lôi anh về thực tế, cô chậm rãi nói:
“Anh Thành, anh có nhớ là thời gian trước khi em được thay tim, mặc dù em rất quý mến anh nhưng em luôn luôn tránh anh, em chỉ coi anh như một người anh, một người bạn rất thân vì em biết là em sẽ mang phiền phức đến cho anh nếu em coi anh như một người tình.”
Thành nói trong buồn bã:
“Anh biết tất cả những điều đó và anh cũng biết rất rõ là anh yêu em.”
“Em xin lỗi anh, nhưng em muốn thành thật, em chưa yêu anh, anh cho em một thời gian.” Khuê trêu Thành cho vui, nói thêm:
“Bây giờ em đang mang một trái tim của một bà Mỹ 45 tuổi, anh có muốn yêu một trái tim già không?”
“Em đừng quên là trái tim đó đang ở trong lồng ngực thanh xuân của em. Thôi anh đưa em đi ăn, rồi đưa em về, chắc em đói rồi.” Thành nói với một chút giận hờn.
Khuê về đến nhà thì trời vừa chạng vạng tối. Cô lục thùng thư, để tìm lá thư cô đang đợi, hôm nay cô may mắn lá thư đó đã đến. Đó là lá thư gia đình bà Donna Zumwalt trả lời Khuê.
Ngay từ hôm đầu tiên tỉnh dậy ở bệnh viện sau cuộc giải phẫu, Khuê đã nghĩ ngay đến việc phải tìm cho được địa chỉ của ân nhân mình để ngỏ lời cám ơn đến gia đình họ, Khuê và bác sĩ của cô đã liên lạc từ bệnh viện đến DMV (*) của hai, ba tiểu bang và cuối cùng thì sau sáu tháng, họ tìm được địa chỉ của bà Donna, và biết qua về hoàn cảnh gia đình của bà. Bà không có chồng và sống với một người con trai bằng tuổi Khuê ở California, Khuê gửi thư cho con trai bà với lời cảm ơn và hy vọng mùa hè này cô có dịp ghé thăm căn nhà của bà Donna cư ngụ khi bà còn sống. Khuê mở thư ra, trong đó ngoài lá thư nhỏ của George, người con trai bà Donna còn có thêm một phong thư dán kín, Khuê đọc lá thư của George trước.
“Thân gửi cô Khuê
Đây là lá thư dán kín của mẹ tôi với lời dặn là: Lá thư này phải được chuyển đến người nhận trái tim của bà nếu bà có mất vì tai nạn. Mỗi khi làm lại bằng lái xe mẹ tôi lại viết lá thư này, đề ngày mới. Khi mẹ tôi bất thình lình vì tai nạn xe hơi và trái tim bà đã được bệnh viện ở California chuyển đi, tôi vẫn có lòng trông đợi một sự liên lạc của người nhận trái tim đó. Tôi không được phép nên không mở coi trong thư viết những gì. Chắc mẹ tôi chỉ chúc lành cho người nhận trái tim của bà. Tôi xin gửi lá thư này đến cho cô và cám ơn cô đã nhã ý muốn thăm căn nhà của mẹ con tôi. Tôi chắc còn ở lại đây vài năm nữa, vậy bất cứ mùa hè nào, có dịp xin mời cô ghé qua. Thân mến.”
Khuê gấp lá thư của George lại, cô chưa mở vội lá thư của bà Donna, cô đứng lên đi rót cho mình một ly nước lọc thật đầy. Cô uống từng ngụm nhỏ để nỗi xúc động lắng xuống. Cô cầm lá thư của bà Donna lật đi lật lại, lá thư khá đầy, hình như có cả hình trong đó. Khuê kéo ghế đến gần cửa sổ, đặt lá thư của bà Donna lên lòng, giơ tay tắt đèn, bóng tối ở bên ngoài ùa vào căn phòng nhỏ phủ chụp lấy Khuê, cô nhìn ra bên ngoài, những bóng lá lung linh trong ánh đèn đường, trong bóng tối cô nghe tiếng trái tim của bà Donna đập trong ngực mình, cô lắng nghe với nỗi xúc động riêng của cô, Khuê cố phân biệt nhịp đập của trái tim và tình cảm của tấm lòng, cô càng cố phân biệt càng thấy nó trộn lẫn vào nhau. Có khi Khuê thấy trái tim bà Donna đang làm chủ tất cả cảm xúc của tâm hồn cô, có khi cô thấy bà chẳng có một chút liên hệ gì cả, trái tim đó đã là trái tim của chính cô vì nó đang tiếp nhận lượng máu luân lưu bằng chính những đường dẫn máu của mình. Suy nghĩ liên miên làm Khuê bối rối, cô lắc đầu vài cái, đứng lên, bật đèn, xua bóng tối và những suy nghĩ ra khỏi đầu mình, cô từ tốn mở lá thư. Đúng như Khuê dự đoán trong phong bì có một tấm ảnh và một lá thư ngắn, Khuê đọc lá thư trước khi xem ảnh.
“Gửi người mang trái tim tôi
“Tôi biết bạn là một phụ nữ vì tôi có lời dặn ở văn phòng DMV là trái tim của tôi chỉ dành cho phụ nữ trẻ hơn hoặc bằng tuổi tôi với điều kiện còn độc thân.
“Bây giờ bạn đã có trái tim đó, xin bạn hãy tìm đến địa chỉ của người đàn ông trong hình và yêu chàng bằng trái tim của tôi. Chàng là người đáng được yêu.
“Xin cám ơn bạn.
“Donna Zumwalt”
Khuê đọc xong lá thư ngắn đó, cô ngẩn người ra, bàng hoàng, trán cô lấm tấm mồ hôi, trái tim cô đập liên hồi trong lồng ngực. Thật là một sự yêu cầu quá sức tưởng tượng của Khuê. Cô bỗng ân hận, biết thế ta cứ mang trái tim bệnh hoạn của riêng ta thế là lại dễ sống hơn. Hóa ra bà Donna chẳng phải là người nhân đạo, bà chỉ là một người ích kỷ, khi sống vì một hoàn cảnh nào đó bà không thể lấy người mình yêu, khi chết bà vẫn muốn trái tim của bà chui vào lồng ngực người khác để tiếp tục yêu “chàng” của bà, bà đã dùng một hành động dưới danh nghĩa nhân đạo để thực hiện một ý nguyện riêng tư của mình, Khuê tấm tức như một người bị lừa. Cô cầm tấm hình lên ngắm nghía, đó là hình màu, chụp cảnh một người đàn ông đứng khoanh tay trước ngực, trên miệng ông ngậm cái tẩu thuốc, sau lưng ông là một cánh rừng phong mùa thu, lá vàng tươm như mật, hình chụp gần nên khuôn mặt khá rõ. Người đàn ông trạc 50 tuổi, hai con mắt to và sáng, trông khá điển trai với bộ ria mép và mái tóc dầy, đằng sau bức hình có ghi ngày, tháng và tên ông ta là Stuar Kenholz, địa chỉ ghi ở cuối tấm ảnh thuộc tiểu bang Montana, không có số điện thoại. Theo ngày ghi thì hình chụp cách đây hơn một năm. Khuê cho cả lá thư và tấm hình vào lại phong bì, cô không biết mình phải làm gì, cô đi rửa mặt bằng nước lạnh, cô biết đêm nay cô khó mà ngủ được nguyên giấc. Nên không hay nên làm theo lời bà Donna? Có lúc Khuê nghĩ là mình nợ bà Donna trái tim thì mình phải làm theo lời yêu cầu của bà, bà cũng đáng tội nghiệp, chắc khi còn sống bà phải yêu ông Stuar nhiều lắm nên mới nghĩ ra sau khi chết nhờ lồng ngực người khác để giữ sống trái tim mình rồi còn lại bắt người khác sống cái đời trước đây bà ao ước được sống. Có lúc Khuê lại nghĩ bà Donna là một người ích kỷ, Khuê sẽ không làm theo yêu cầu của bà, Khuê không thể yêu hộ cho bà được, Khuê cũng có tình cảm riêng của cô. Còn Thành nữa, anh sẽ nghĩ sao khi Khuê nói câu chuyện này với anh? Khuê thao thức suốt đêm…
Trong một tuần lễ lá thư của bà Donna giống như một lưỡi dao sắc treo trên đầu Khuê, nó treo bằng một sợi dây rất mảnh không biết sẽ rơi xuống lúc nào, Khuê không còn tâm trí đâu mà dạy học. Vào lớp Khuê gọi nhầm tên học trò, đi họp giáo sư Khuê nhớ nhầm ngày giờ, thậm chí Thành gọi cô bốn năm lần trong một ngày Khuê cũng quên không gọi lại, Thành đến nhà đập cửa, lo lắng hỏi:
“Em làm sao vậy, em có ốm không, sao mặt em xanh thế?”
Khuê chỉ biết trả lời:
“Vâng, em ốm.”
Thành đưa Khuê đi bác sĩ, bác sĩ bảo Khuê gầy quá, chỉ cần ăn nhiều vào, Thành nấu đồ ăn mang đến cho Khuê mỗi ngày. Khuê bắt đầu lấy lại quân bình, nhưng cô vẫn tuyệt nhiên không kể chuyện lá thư của bà Donna cho Thành nghe. Hai tuần lễ sau, vào một buổi chiều ở sở làm ra, Thành ghé tiệm cơm Thái mua món xúp cay Khuê thích đem đến cho Khuê, anh thấy một phong bì nhỏ dán băng keo trên cánh cửa đề tên anh. Khuê đã đi khỏi cô để lại cho anh mấy chữ ngắn ngủi “Khuê có việc phải đi Montana một tuần, khi về sẽ nói chuyện nhiều với anh.” Thành lủi thủi về với lòng buồn bã. Anh thấy anh chẳng hiểu một tí gì về Khuê cả, thế mà bao nhiêu năm nay anh cứ yêu cô, cứ hy vọng, cứ chờ đợi và cứ hụt hẫng. Cô làm gì mà lại đi đến cái tiểu bang toàn núi đá đó, anh có hề nghe cô nói có họ hàng ở đó bao giờ đâu? Bây giờ anh có muốn đi theo cô cũng chẳng biết địa chỉ nào mà đến. Thành bỗng muốn bỏ cuộc, anh không thể chạy theo hoài mối tình một chiều này.
Khuê nhìn bản đồ, ngôi làng Trout Creek cách thị trấn Helena 250 dặm về phía Tây, một ngôi làng rất nhỏ không có ghi dân số, Khuê thuê xe đi từ phi trường Helena đến đó. Khi Khuê đến thì trời đã xập tối, phải khó khăn lắm Khuê mới tìm ra khách sạn, cái khách sạn duy nhất ở Trout Creek chỉ có sáu buồng và may mắn còn một buồng trống. Khuê đặt chiếc vali lên giường nhìn đồng hồ mới tám giờ tối, Khuê không định gặp Stuart tối nay, cô sẽ đi một vòng chung quanh làng, cô muốn tìm hiểu Stuar qua môi trường ông sống trước khi tiếp xúc với ông, Khuê sẽ đưa cho ông đọc lá thư của bà Donna và Khuê sẽ nói là cô không có ý định thực hiện lời yêu cầu của bà, cô có đời sống riêng cô muốn sống, cô không thể sống đời của bà Donna được. Mặc dù bà Donna đã cho cô trái tim của bà, ông có thể lấy lại tấm ảnh của ông và giữ lá thư của người đàn bà yêu ông làm kỷ vật, Khuê muốn bước hẳn ra ngoài vòng tròn của hai người.
Ngôi làng bao quanh bởi những dãy núi đá xanh biếc, cả làng chỉ có một trường tiểu học, hai siêu thị nhỏ, một tiệm ăn, bưu điện và nhà giặt công cộng thì chia nhau một ngôi nhà hai gian rộng khoảng sáu thước vuông. Khuê lái xe đi loanh quanh độ 20 phút thì hết cả ngôi làng, đã thấy trở về lại chỗ cũ. Con sông Columbia chảy qua làng như một ân huệ của Thượng Đế làm cô nhớ đến cái hồ Washington của thành phố Seattle và nhớ đến Thành. Khuê nghĩ sự ra đi bất thình lình của cô có lẽ lại là hay, nó như một dịp trắc nghiệm tình yêu cho cả hai người. Sau khi trả cái thư của bà Donna cho ông Stuar, Khuê sẽ đi California thăm mộ bà Donna để cám ơn bà và ghé thăm cả George và ngôi nhà của hai mẹ con họ nữa. Học trò đã bắt đầu nghỉ, mùa Hè còn dài cô không cần hấp tấp. Khuê muốn biết thật sự Khuê có yêu Thành không? Hay chỉ yêu anh như yêu một thói quen.
Khuê ghé vào nhà hàng ăn bữa cơm tối, tiệm ăn nhỏ và thực đơn chỉ có ba món, Khuê gọi một chén xúp rau nhỏ, cốt ăn cho đỡ đói. Trong khi đợi thức ăn, Khuê nhìn chung quanh thì thấy những người chung quanh đang chăm chú nhìn mình, cô lúng túng mỉm cười làm quen, cô nhớ ra cái làng này rất nhỏ chắc người lạ đến là bị nhận diện ngay. Quả nhiên người đàn ông trạc 60 tuổi đang ngồi cách Khuê hai bàn, đứng lên tiến về phía cô chào hỏi, giới thiệu rất tự nhiên:
“Tôi là Richmond, có phải cô là du khách mới tới không?”
Khuê lễ phép, thật thà trả lời:
“Thưa tôi đến không phải để thăm thị xã, mà để tìm một người tên Stuar Kenholz.”
Ông Richmond đứng suy nghĩ một lúc, lắc đầu:
“Tôi ở đây từ thời trai trẻ, dân số làng này chưa đến 100 người, tôi không nhớ tên ai là Stuar Kenholz cả.”
Bà chủ quán góp ý:
“Hay là cái ông nhà văn mới dọn hẳn về đây sáu tháng nay.”
“Ông ta đâu phải tên Kenholz, cô có mang theo địa chỉ không?” Richmond nói.
Khuê mở bóp lấy địa chỉ của Stuar đưa cho ông Richmond.
“Cái địa chỉ này thì đúng của ông nhà văn rồi nhưng tên thì khác, ông ấy là James Plesko một người rất có tiếng, đã xuất bản vài ba tập truyện, cô có đọc Tiếng Kêu Trong Rừng của ông ấy chưa?”
Khuê ngẩn người ra, không lẽ Stuar của Donna lại là một tác giả mà Khuê khâm phục, Khuê đọc hầu như gần hết các tác phẩm của James Plesko, ông ta không phải chỉ viết vài ba tập truyện như ông Richmond nói, mà đã ra đến tám, chín tập truyện dài, chưa kể thơ và truyện ngắn. James Plesko là một tác giả được giới trẻ ưa thích. Hiện ở nhà Khuê, dưới gối cô vẫn còn một tập thơ của ông, đang đọc. Ông ấy đang dạy học ở Berkeley mà, sao bây giờ ở trong cái làng nhỏ xíu này?
Khuê hỏi ông Richmond:
“Ông có chắc cái địa chỉ này là của nhà văn James Plesko không?”
Ông Richmond cười:
“Cô ơi! Tôi biết cái làng này còn rõ hơn là đường chỉ tay của tôi nữa.”
Khuê lục ví đưa cái hình của Stuar.
“Có đúng ông này không?”
“Đúng ông ấy chứ ai, cô đọc sách ông ấy mà không nhận ra à.”
Khuê cầm lại tấm hình, cô đưa sát ánh đèn như không tin vào đôi mắt tinh anh của mình. Trái tim cô đập rối trong lồng ngực, đúng là nhà văn James Plesko rồi, sao mà lúc ở nhà cô không nhìn ra? Có lẽ vì tức giận bị bà Donna lừa mình nên cô không nhìn rõ bức hình, hơn nữa cái tên Stuar Kenholz không nhắc cho cô một sự quen thuộc nào. Bây giờ thì cô đã nhận ra khuôn mặt quen thuộc này là của nhà văn James Plesko thường in sau bìa sách của ông, Khuê bỗng nhớ thêm một chi tiết, hình ở sách in không có bộ ria mép, có lẽ cái hình này gởi cho bà Donna lúc đó ông chưa cạo râu đi, và cái tên Stuar Kenholz là tên thật, ông ít dùng đến sau khi đã nổi tiếng. Khuê hỏi ông Richmond:
“Thưa ông, địa chỉ này chắc cũng gần đây?”
“Đằng sau quán ăn này hai chặng đường, cô có thể bước ra ngoài cũng thấy được, nếu là ban ngày, nhưng bây giờ tối rồi, nếu cần tôi có thể đưa cô đến đó.”
Khuê cám ơn ông Richmond, ngỏ ý ngày mai cô mới tới, bây giờ cô muốn về khách sạn ngủ một giấc (hy vọng là mình sẽ ngủ được tối nay). Khuê ra xe cám ơn ông Richmond một lần nữa, trước khi mở máy. Lòng tốt của người tỉnh nhỏ đã ân cần theo cô ra tận xe, ông còn dặn với:
“Nếu tìm không ra cô cứ quay lại đây, tôi thường xuyên có mặt ở quán này.”
Sáng hôm sau, Khuê đứng im lặng một lúc thật lâu trước hai cánh cửa khép hờ không khóa, cô ngập ngừng chưa muốn đưa tay bấm chuông, cô không biết mình sẽ mở đầu câu chuyện như thế nào để ông Stuar và cô đều tránh được ngại ngùng. Cả đêm hôm qua cô trăn trở mãi, cô ráp hình ảnh ông Stuar và nhà văn cô ngưỡng mộ vào làm một, rồi lại cố tách hai người đó ra thật xa nhau. Cô thấy mình hơi có một chút ghen tỵ với bà Donna, mặc dù cô chưa hề gặp mặt bà và còn mang ơn bà, tự nhiên cô thấy mình bị đưa vào một trạng huống khó xử. Khi ở nhà ra đi Khuê đã dứt khoát với lòng là sẽ trả lại ông Stuar lá thư của bà Donna và bức ảnh của ông, sẽ nói rõ cho ông biết là cô không thể thực hành lời dặn của bà. Nhưng bây giờ khi biết ông Stuar là nhà văn Khuê vẫn khâm phục và đem lòng quý mến, Khuê lại thấy cái ý định đó lung lay trong ngực mình. Khuê tự hỏi: “Mình đã chẳng ao ước từ bấy lâu nay là có dịp được kết thân và tìm hiểu về nhà văn James Plesko này hay sao?” Cô thấy trái tim mình đập nhanh thêm vài nhịp, Khuê giơ tay gõ cửa.
Một người đàn ông dong dỏng cao, hơi gầy có khuôn mặt giống hệt với bức hình in ở sau cuốn Tiếng Kêu Trong Rừng đứng trước mặt Khuê. Khuê cố lấy bình tĩnh vẫn thấy lúng túng, cô nói vụng về:
“Tôi là Khuê, từ Seattle đến, tôi có lá thư của bà Donna.”
Khuê thấy một thoáng gợn sóng trong mắt người đàn ông, một thoáng rất ngắn, rồi ông mở rộng cánh cửa tránh sang một bên, mời Khuê vào. Căn phòng khách nhỏ, bầy biện giản dị. Cái lò sưởi củi ở giữa phòng, chung quanh là ba chiếc ghế gỗ có dựa lưng, ở góc nhà có kê một cái bàn vuông, cô thấy sách báo đầy mặt bàn, cuốn mở, cuốn đóng. Người đàn ông kéo ghế mời Khuê ngồi, ông hỏi:
“Cô dùng một ly nước cam nghe.”
“Dạ, cám ơn ông.”
Ông bưng ra một ly nước cam, đến trước mặt Khuê, cô đưa tay đón ly nước, vụng về thế nào mà cô cầm cả vào những ngón tay của ông. Ông từ tốn kéo chiếc ghế khác đối diện với cô, hỏi:
“Cô Khuê là bạn của Donna hả?”
“Dạ, không.”
Khuê mở bóp đem lá thư của bà Donna ra. Cô nói một hơi dài (trước khi đưa thư cho ông Stuar) cô không dám ngừng, như sợ sự gián đoạn không nói được hết thì sẽ không bao giờ nói được nữa.
“Thưa, tôi là người nhận trái tim của bà Donna sau khi bà tử nạn xe hơi. Lá thư này là lời dặn của bà Donna cho người được nhận, tôi không biết tôi sẽ phải làm gì cho đúng, tôi chỉ biết việc đầu tiên tôi phải làm là đưa lại lá thư cho ông đọc.”
Thật sự thì trước khi ở nhà ra đi Khuê biết rõ mình phải làm gì, nhưng từ khi biết Stuar là nhà văn James Plesko thì Khuê mới ở giữa sự chọn lựa.
Người đàn ông đón cái phong bì ở tay Khuê, ông mở thư ra đọc, Khuê kín đáo nhìn sự thay đổi trên mặt ông. Cô thấy cặp lông mày ông hơi nhíu lại, hai con mắt sáng của ông mờ đi như phủ một lớp sương mỏng, khi ông ngửng lên thì chạm phải ánh mắt Khuê đang nhìn ông, cả hai người cùng giữ bình tĩnh chịu đựng cái nhìn của nhau một lúc. Ông hỏi một câu ngoài dự đoán của Khuê:
“Trái tim của cô bây giờ đập ra sao?”
Khuê đỏ mặt, trả lời:
“Thưa ông, khá đều đặn.”
Ông đứng lên, đặt lá thư lên kệ lò sưởi nói:
“Cô Khuê ra xem vườn một chút, ở bên ngoài nắng đang lên, ấm hơn.”
Khuê như một con thỏ ngoan ngoãn đứng lên theo con sơn dương vào rừng.
Người đàn ông dẫn cô đi khắp vườn, chỉ cho cô tên những loài hoa, phân tách từng loại dâu (berry), chỉ cho cô những rặng núi chung quanh làng, đọc tên núi một cách thân mật như đọc tên những người bạn. Hai người đi hết cả khu vườn, người đàn ông mở cái cổng ở cuối vườn ra, dẫn Khuê bước hẳn ra bên ngoài. Phía trước hai người là một con đường làng dẫn thẳng ra bờ sông Columbia, người đàn ông nói chuyện về con sông như nói về một người tình, mà ông biết rất rõ tính nết bất thường của nàng. Ông nói:
“Hàng năm cứ vào dịp ngày lễ, nghỉ hè nhà trường đóng cửa thì tôi về đây để viết, nhưng bây giờ thì tôi thôi không đi dạy nữa, dọn hẳn về đây. Dòng sông này, con nước này và những cỏ hoa chung quanh nó thay đổi tùy theo mùa mưa, nắng, thời tiết, tôi đều thuộc như chính những thay đổi trên thân thể của tôi, theo tuổi tác. Dãy núi trên cao kia lúc nào thì nó lên tiếng gọi, lúc nào thì nó tham thiền nhập định tôi đều biết rất rõ.”
Khuê tò mò hỏi:
“Làm thế nào mà ông biết được lúc núi réo gọi?”
Người đàn ông dừng lại, nhìn vào mắt Khuê:
“Đó là lúc chính lòng mình réo gọi.”
Khuê thấy lồng ngực mình rung lên, cô hạ mắt nhìn xuống bụi cỏ dưới chân mình, trái tim cô rạo rực, cô kêu trong cuống họng:
“James Plesko! James Plesko!”
Những truyện dài, truyện ngắn, những bài thơ cô đọc của ông bỗng hiện ra như những khúc phim quay nhanh trong đầu của cô. Bên cạnh cô người đàn ông này không phải là Stuar của Donna nữa, ông chỉ còn là nhà văn James Plesko mà cô vẫn thầm ngưỡng mộ.
James chỉ tay vào cánh rừng ở bên kia sông:
“Ngày mai tôi sẽ đưa cô sang bên kia xem rừng, nếu cô còn ở lại đây ít lâu.”
Khuê trả lời như những người đang ở trong cơn đồng thiếp:
“Tôi còn ở đây nguyên tuần.”
Suốt một tuần lễ sau đó, ngày nào James cũng đến đón Khuê, ông đem xe Khuê mướn đi trả, dùng xe của mình đưa Khuê đi chơi. James đưa Khuê vào rừng nghe thông nói chuyện, ông đọc tên mỗi loại thông rồi cắt nghĩa cho Khuê hiểu từng đời sống khác nhau của chúng, ông đem theo thực phẩm để Khuê cho sóc, cho thỏ và những con sơn dương ăn, họ đi câu ở hồ Clark Folk, đi kayak dọc theo sông Columbia. Họ đi ra ngoài ngôi làng từ sáng sớm tinh mơ sao mai chưa mọc và chỉ trở về khi mặt trời đã chìm tận đáy lòng sông. James lúc nào cũng bình tĩnh, điềm đạm, ông nhẹ nhàng trong vai trò hướng dẫn, có lúc ông tỏ ra thật nồng nàn thân mật, đôi khi ông xa vắng như không có mặt trong cuộc chơi, ông đối xử với Khuê vừa như một người tình, vừa như một người lạ. Khuê thì như người lạc vào mê hồn trận, hôm nào cô cũng ra đi với một trái tim khiêu vũ và trở về với một trái tim thổn thức, cô quên bẵng mất cái cảm giác bị lừa hôm đầu tiên sau khi đọc thư bà Donna để lại, cô quên cả Thành, cả thành phố có Thành. Cô không nhớ cái tên Stuar Kenholz và Donna Zumwalt, cô quên họ là người yêu của nhau, Khuê chỉ còn biết James Plesko, một nhà văn cô đem lòng ngưỡng mộ từ lâu, là người đàn ông đầy ma lực quyến rũ đang ở bên cô. Đêm đêm trước khi ngủ Khuê nằm yên lặng, lắng nghe tiếng tim đập trong lồng ngực, cô nói thầm một mình, “Trái tim này là trái tim của chính ta, nó đang đập vì nó biết yêu và nó được yêu. Trái tim của Donna đã chết theo Donna.” Và cũng trong suốt tuần lễ ở bên nhau, không bao giờ James nói đến chuyện tình của ông và Donna cho Khuê nghe, không bao giờ ông kể tại sao yêu ông khi đến chết, vẫn còn yêu mà khi sống bà Donna lại không dọn về ở với ông, lý do nào hai người yêu nhau mà lại ở xa nhau cả mấy trăm dặm, những nơi chốn ông đang đưa Khuê đến có phải là những địa điểm hò hẹn đón đưa cũ của hai người không? Tại sao với Donna ông lại có tên là Stuar Kenholz, cậu thanh niên ở California con của Donna có phải là trở ngại chính cho hai người, và bao lâu thì Stuar và Donna mới được gặp nhau một lần? Điều Khuê muốn biết nhất là: cái điều kiện khi bà Donna cho tim ghi trên giấy bắt người phụ nữ nhận tim của mình phải thay mình đến với ông, ông có được biết trước không? James không nói và Khuê không dám hỏi. Cô không muốn nhắc đến lá thư đó, vì trước đây cô đã tức giận cho rằng cô bị bà Donna lừa mình dưới hình thức một hành động nhân đạo thì bây giờ cô lại thấy cô may mắn được là nạn nhân của bà. Vì nếu không nhận trái tim của bà thì làm sao cô có cơ hội biết đến James Plesko. Tất cả những câu hỏi trên trong những ngày đầu nó cứ xoay tròn trong óc Khuê khi hai người đi chơi với nhau, dần dần nó mờ nhạt và biến mất, Khuê không muốn nghĩ đến gì cả, trước mắt cô chỉ còn lại hai người: Nhà văn James Plesko và Khuê. Ngôi làng Trouk Creek, dòng sông Columbia, cái hồ mang tên Clark Folk, sao mai, sao hôm đang nghe cùng một lúc hai nhịp đập yêu đương của hai người đàn bà trong một trái tim nhỏ. Donna mượn lồng ngực của Khuê để mang trái tim của mình đến với Stuar, hay Khuê mượn trái tim của Donna để rung động với James, làm sao phân biệt được. Có lẽ chỉ có người mang hai cái tên một lúc là biết ông ta đang làm gì. Ông còn yêu trái tim ở trong lồng ngực đó hay ông bắt đầu yêu cái lồng ngực thanh xuân đang mang trái tim đó?
James tiễn Khuê ra phi trường, suốt dọc đường cả hai cùng yên lặng. James nhìn thẳng đằng trước, Khuê không biết ông nghĩ gì, chỉ thấy gương mặt ông xa vắng, ánh mắt ông lạnh lẽo, còn Khuê thì trái tim quặn thắt, cô giơ tay áo lên để giấu một giọt lệ vừa ứa ra ở khóe mắt, James quay sang cô hỏi, câu hỏi giống như câu đầu tiên sau khi ông đọc lá thư của bà Donna.
“Trái tim của cô bây giờ đập ra sao?”
Khuê không trả lời, cô bật khóc thành tiếng, James rút chiếc khăn tay trong túi ra đưa cho cô, nói dịu dàng:
“Em lau nước mắt đi.”
Cả hai im lặng cho đến phi trường, James gửi hành lý, ghi vé cho Khuê, trước khi Khuê bước vào máy bay, James ôm lấy vai Khuê nói vào tai cô:
“Anh mong em trở lại, sống với anh.”
Khuê rung lên vì xúc động, cô gục đầu vào vai James như con thỏ nhỏ ngã vào con sơn dương, cô nói trong nước mắt:
“Em sẽ trở lại với anh, vĩnh viễn.”
James ngửa mặt nhìn chiếc máy bay mang Khuê mất hút trên cao, ông nói với đám mây:
“Donna, em là người đàn bà rất thông minh, cuối cùng em cũng thu xếp được trái tim em đập cạnh anh. Cám ơn em! Cám ơn em!”
tmt
Issaquah, tháng 12/96
(*) Organ Donnor: người hiến những bộ phận cơ thể mình sau khi chết.
(*) DMV: văn phòng cấp bằng lái xe, thẻ căn cước.
Tranh: Weaving của Shin Jooeun, South Korea
Acrylic on Fabric- 24 W x 28.3 H in