Trang chính » Chuyên Đề, Học Thuật, Ngôn Ngữ, Nhận Định, Sáng Tác, Tiểu luận, Tiểu thuyết Ai Email bài này

không gian đa chiều của ngôn ngữ trong Ai

1 bình luận ♦ 29.04.2024


The Lesson (1981), tranh Joan Brown
Men sứ trên vải bố
Đặng Thơ Thơ chụp từ Orange County Museum of Art (OCMA)

Bàn về vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật sân khấu, kịch tác gia người Anh Richard Eyre (1940- ) có nói “Sự sống của kịch nằm trong ngôn ngữ”[1]. Người viết đồng ý với nhận xét này, nhưng xin được phép mở rộng ra thành “Sự sống của văn chương nằm trong ngôn ngữ”, để bao gồm cả văn xuôi và thơ.

Xác định mối liên hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn chương, Nigel Fabb, giáo sư ngành Ngôn Ngữ Học Văn Chương/Literary Linguistics tại University of Strathclyde (Glasgow, Scotland), đã viết: “Văn chương là sự thể hiện ngôn ngữ một cách có nghệ thuật, còn gọi là ‘nghệ thuật ngôn từ’, để nêu rõ rằng có hai thể loại văn chương, truyền khẩu và ghi chép (ngoài văn chương dấu hiệu)[2]”.

Cũng cùng một ý ấy, nhưng được nhấn mạnh hơn nhiều, trong một bài khảo cứu về vai trò của ngôn ngữ học đối với văn chương, AL-Ahmedi (2016), giảng viên đại học Koya University (Iraq) đã khẳng định ngay trong phần mở đầu: “Sẽ không hiện hữu bất cứ một hình thức văn chương nào nếu không có một ngôn ngữ. Đó là một ngôn ngữ sáng tạo ra văn chương và, với những đặc điểm của nó, sẽ giúp văn chương trở nên thú vị[3]”.

Nói đến sự sống, chúng ta liên tưởng đến hai phần, phần xác và phần hồn. Một ngôn ngữ sống động cũng vậy, có phần vỏ bọc bên ngoài bao gồm âm thanh, ký hiệu, cấu trúc và ý nghĩa, còn phần bên trong của ngôn ngữ chính là do người sử dụng nó tạo nên.

Ngôn ngữ dùng trong Ai là tiếng Việt, ngôn ngữ dùng làm trọng tâm để mở đầu cuốn tiểu thuyết, nhưng dần dần toả rộng ra, đan kết với nhiều ngôn ngữ khác, không những với một số ngôn ngữ tự nhiên của loài người mà còn với ngôn ngữ của nhiều phạm trù khác nhau trong cuộc sống (âm nhạc, toán học, điện toán, ngôn ngữ nhân tạo, điện ảnh, sân khấu và ngữ âm học), tất cả lồng vào nhau, tương tác với nhau, ảnh hưởng đến nhau, trong một không gian đa chiều, phức tạp và sâu thẳm.

Trước hết, “Ai” là một chữ, và tuỳ theo ngôn ngữ, nó có thể là danh từ riêng hay danh từ chung, đại danh từ, động từ, tán thán từ, v.v. Nhưng vượt lên trên tất cả, “Ai” là một âm tố trong ngôn ngữ của loài người. Từ ngữ giữa các ngôn ngữ còn có biên giới, nhưng âm thanh, nhất là âm thanh của ngôn ngữ là không có biên giới. Đành rằng một số âm vị/âm tố[4] chỉ hiện diện trong một số ngôn ngữ này mà không có trong một số ngôn ngữ khác, nhưng về đại thể, tất cả các âm tố của lời nói là thuộc về hệ thống ngữ âm chung của con người, có thể dùng để phân biệt với hệ thống ngữ âm của những loài biết nói khác trong vũ trụ mà tới nay chưa được khám phá.

Đặng Thơ Thơ đã đưa người đọc vào một thế giới âm thanh như thế, bắt đầu bằng một chữ mà âm thanh và ý nghĩa của nó là không có giới hạn.

Lật ngược bức tranh The Lesson của Joan Brown lại,
trước mắt chúng ta bây giờ là Ai!

Thật vậy, Ai vượt qua các biên giới ước lệ của ngôn ngữ loài người. Nhà phê bình văn học Thuỵ Khuê đã nhận xét: Ai là một câu hỏi trong tiếng Việt, được trả lời tức khắc trong tiếng Anh: Tôi (I)”. Dựa vào đây, chúng ta thử làm một cái “test” lý thú, căn cứ vào cách phát âm [ai][5] và bỏ qua vỏ bọc chính tả của các ngôn ngữ khác nhau để xem chữ này thay đổi nghĩa ra sao qua một số ngôn ngữ: [ai] trong tiếng Anh, ngoài nghĩa là “tôi” còn có nghĩa là “con mắt” eye và “vâng” aye; trong tiếng Pháp, [ai] là một dạng của động từ aller “đi” aille, ở thì hiện tại, cách subjonctif; trong tiếng Tây Ban Nha, [ai] là dạng động từ hay, thuộc thì hiện tại chỉ định cách/indicativo của động từ haber “có”, mà cũng có thể là tán thán từ ay, có nghĩa là “chao ôi”; [ai] trong tiếng Hoà Lan ei là “quả trứng”; [ai] trong tiếng Hoa () là “nỗi buồn”; trong tiếng Nhật, như chúng ta thấy trong tiểu thuyết của Đặng Thơ Thơ, [ai] thường dùng như một danh từ riêng để đặt tên người (あい theo mẫu tự hiragana, hay アイ theo mẫu tự katakana, cũng có nghĩa là “yêu thương” hay “màu xanh chàm”), vân vân và vân vân.

Thông thường, người ta dựa vào ngôn ngữ mẹ đẻ để xác định dân tộc tính của mình. Những người Việt sống ở Nhật được nói đến trong Ai cũng có nhu cầu đó. Về mặt ngôn ngữ, Đặng Thơ Thơ mô tả âm [v] của người Việt là âm môi-răng/labiodental, và dùng chi tiết này như một biểu tượng của một phần bản sắc của người Việt. Nói cách khác, một trong những đặc điểm được dùng để phân biệt một người Việt với một người Nhật là sự hiện diện của âm [v] trong tiếng Việt và sự thiếu sót âm này trong tiếng Nhật. Về điều này, cô viết:

Họ muốn nghĩ rằng gốc gác thật chỉ lộ diện khi con người nói–điều kiện cần, và nói một ngôn ngữ khác tiếng mẹ đẻ–điều kiện đủ. (198)

Đặng Thơ Thơ quan sát cách phát âm của người Nhật và nhận thấy rằng họ thay thế âm [v] bằng một âm kế cận là âm [b] (âm môii/bilabial), hoặc dùng âm [j][6] (âm vòm miệng/palatal) như kiểu người Việt ở miền Nam phát âm âm [v][7] (Có thể nhận xét rằng sự chuyển âm này là một ví dụ của sự “bản ngữ hoá ngữ âm” đối với một âm tố ngoại quốc, một hiện tượng ngôn ngữ học mà Charles Bobert (2020)[8] đã nghiên cứu):

Họ có thể nói “Bietnamu” hay “Diệt” Nam… (198)

Đối với những người Việt tha hương này, còn nói được âm [v] tức còn là người Việt. Ngôn ngữ mẹ đẻ là căn cước của họ, là sự sống còn của họ trên xứ sở tạm dung. Cuốn phim trong Ai có nhận nhìn hiện trạng này trong nhóm người Việt trên xứ Nhật:

Hình ảnh này sẽ kết thúc đoạn phim trong ngày, cùng với câu Những người Việt thuần chủng còn nói được âm ‘vờ’ đang có nguy cơ biến mất… (244)

Nói cách khác, chừng nào còn nói được âm [v] thì không thể nào trở thành một người thuộc dân tộc không có âm đó. Muốn không thể nào còn nói được âm [v] chỉ có một cách triệt để, tàn bạo và đau đớn tận cùng như thế này:

Còn để là người Nhật, họ phải cưa răng trên và cắt môi dưới để không nói được âm môi-răng [v] nữa. Tiếng Nhật không có âm [v] của chữ V trong mẫu tự La Tinh. Vì thế họ không được quyền nói những chữ có âm “vờ”, như tiếng Việt hay Việt Nam. (198)

Đây là một ẩn dụ khá sâu sắc. Qua đó, chúng ta nghiệm ra rằng, ngôn ngữ là một phần rất lớn trong mỗi con người. Nó xác định bản sắc của con người đó, và nói rộng ra nữa, của chính sự tồn vong về thể lý lẫn tinh thần của họ:

Tiếng nói là một dạng vật chất và năng lượng. Tiếng nói là kết hợp của trí tuệ và thể lực. Để bật ra tiếng nói, con người phải vận dụng phổi, họng, lưỡi, răng, môi… Con người nói. Tiếng nói định nghĩa con người. Cách phát âm của họ nghe khó hiểu. Nhưng đó là điều họ muốn, và cần, đạt đến. (199)

Tuy nhiên, một khi sự sống còn vượt lên cả bản sắc dân tộc, đòi hỏi sự đồng hoá để đánh đổi với sự diệt vong, con người chỉ còn một chọn lựa cuối cùng, cũng đồng nghĩa với việc không được chọn lựa nữa:

Đây là câu chuyện về những dân tộc đang tản mác rồi dần dần mất tích. Họ không thể trở lại quê hương, họ cũng không có đất sống ngoài quê hương. Để tồn tại, họ phải huỷ hoại một phần bộ phận phát âm để đồng hoá với người bản xứ. (241)

Trong một hoàn cảnh nhất định, con người phải chịu thoả hiệp mà trong đó, họ là bên thiệt thòi hơn đối phương. Một lần nữa, Đặng Thơ Thơ đã nhấn mạnh vai trò sinh tử của ngôn ngữ trong mỗi con người qua việc đề cập đến tình trạng toàn cầu hoá, trong đó việc đồng hoá ngôn ngữ cũng là một trong những mục tiêu chính. Con người phải nói, nói bất cứ ngôn ngữ nào, để được sống, cho dù không được nói tiếng mẹ đẻ nữa[9]:

“Thì cũng như là tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha đã giết những ngôn ngữ của các dân tộc Nam Mỹ. Còn tôi thì phải suy nghĩ bằng tiếng Anh, một thứ ngôn ngữ của kẻ lạ, kẻ thù nữa, nên mọi thứ mới như thế. Đó là thứ hình phạt mà mình không cách nào chối bỏ được. Bởi vì thiếu ngôn ngữ đó thì mình cũng chỉ là cái xác rỗng, không có óc.” (138-139)

Đặng Thơ Thơ nêu ra một số vấn đề gợi lên nhiều suy nghĩ đối với ngữ âm và các mối liên quan giữa nó với nhiều lãnh vực khác. Cô trình bày ý tưởng này  qua một thí nghiệm về quan hệ nguyên nhân-hậu quả giả định giữa cách phát âm và sự thuần chủng, qua đó đưa ra một giả thuyết khá táo bạo về mối liên quan giữa ngữ âm học và âm vị học/phonetics/phonology và nhân chủng học/anthropology, một giả thuyết thú vị có thể xét đến trong ngành nhân chủng-ngôn ngữ học/linguistic anthropology:

Những người trẻ tuổi này đang thử nghiệm việc bỏ hẳn vài âm khỏi tiếng nói, xem có thể bỏ suốt đời được không. Họ muốn định nghĩa sự thuần chủng bằng âm giọng, sự thuần chủng là do ý muốn, không phải là một thứ tự nhiên mà có. (197)

Tác giả đưa ra một câu hỏi mà từ trước đến giờ vẫn là một vấn đề lớn của language acquisition, sự hấp thụ một thứ tiếng—tiếng mẹ đẻ hay một ngoại ngữ[10]—mà nhiều nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như BF Skinner, Jean Piaget, Noam Chomsky, và Jerome Brunner đã dày công nghiên cứu. Không những vậy, Đặng Thơ Thơ còn biến nó thành một câu hỏi đầy triết lý:

Cô gái khẽ nhếch môi, suy nghĩ, không biết điều nào khó hơn: làm cho thật đúng một điều sai, hay cố làm sai một điều đúng? Tập nói một âm lạ, hay tập bỏ đi một âm quen? (199)

Về mặt second language acquisition, đây là vấn đề learn unlearn, học những âm mới của một thứ tiếng khác và “bỏ đi” một số âm trong ngôn ngữ mẹ đẻ để tránh bị “accent” trong khi nói. Trong giới điện ảnh và sân khấu, đó là công việc của một language coach hay dialect coach. Trong các lý thuyết về sự hấp thụ ngôn ngữ thứ hai/second language acquisition, một trong những “thói quen ngôn ngữ” từ ngôn ngữ thứ nhất được chuyển (một cách sai lệch)/negative transfer qua ngôn ngữ thứ hai. Còn đối với những người Việt sống ở Nhật, họ phải tự giải quyết lấy vấn đề này đối với sự sống còn của mình.

Trong một hoàn cảnh khác, ngôn ngữ là một phương tiện để đạt tới mục đích nào đó. Đứa con trong Ai dùng tiếng Việt để xác định liên hệ huyết thống, đồng thời khẳng định quan hệ giữa nó và người mẹ. Trong số những đại danh từ nhân xưng phong phú của tiếng Việt, đứa con chọn đại danh từ “con” làm ngôi thứ nhất số ít, mặc dầu người mẹ đã đề nghị nó dùng đại danh từ “tôi” trong bản dịch tiếng Việt của bài thơ, để nó có thể “nói” với những người đọc một cách rộng rãi hơn.

          Nó lắc đầu lia lịa: 
          “Không! I là Con. Con muốn thế.” (28)

Qua câu trả lời này của đứa con, người mẹ nhận ra rằng tiếng Việt chỉ được thế hệ trẻ, sinh ra và lớn lên ở hải ngoại, dùng như một phương tiện để liên lạc với các “thế hệ của quá khứ” (cha mẹ hay ông bà), chứ không phải là một “sinh ngữ” dùng để giao tiếp, sinh hoạt trong hiện tại và sắp đặt cho tương lai. Bi quan hơn nữa, như thế thì đứa con dường như không thể trưởng thành, không thể vươn ra khỏi tổ ấm gia đình để trở thành một cá thể trong xã hội:  

I là con! Câu nói làm tôi đau lòng. Tại sao lại như thế? Chẳng lẽ ngôn ngữ Việt chỉ là để nói với tôi thôi sao? Chẳng lẽ khi nói nó tiếng Việt, cái tôi của nó biến mất, nó chỉ còn là một đứa con nhỏ bé của mẹ? (28)

Về phương diện bản sắc nói chung, đứa con giống những người Việt tha hương trên đất Nhật ở chỗ là nó dựa vào âm thanh của tiếng Việt để giúp nó nhận ra chính nó, giữ gìn “cái tôi” của nó. Không có tiếng Việt thì cũng không có nó:

          “Tại sao con thích nghe tiếng Việt?”
          “Vì nghe tiếng Việt thì con là con.”
          “Nghĩa là gì?”
          “Nói tiếng Anh thì con bị mất đi. Con thành ra là I. Giống như mẹ hay hỏi Ai đó?” (29)

Một cách không ý thức, tuy không trực tiếp nói ra điều này, đứa con thấy trong tiếng Việt, ngôi thứ nhất số ít được diễn tả qua rất nhiều đại danh từ (thật ra là danh từ![11]) khác nhau, thiết lập các mối liên hệ và quan hệ khác nhau về cá nhân, gia đình và xã hội. Nếu tiếng Anh chỉ có một chữ “I”, tiếng Việt có thể là “tôi”, “em”, “bố”, “mẹ”, “con”, “cháu”, v.v. Khía cạnh thực dụng/pragmatism của cách dùng đại danh từ nhân xưng trong tiếng Việt là một đề tài nghiên cứu vô tận cho nhiều nhà ngôn ngữ học trình bày qua các bài khảo cứu hay luận án tiến sĩ như Hy V. Luong (1987), Michael Farris (2012), Binh Ngo (2022) và nhiều học giả khác. Đối với đứa con, tiếng Việt đã giúp nó cảm nhận được người mẹ chính là mẹ nó chứ không phải của ai khác khi bà xưng “mẹ” với nó, một điều mà tiếng Anh (và nhiều thứ tiếng khác không diễn tả được[12]):

“Nói tiếng Anh thì mẹ cũng là I. Tất cả đều là Ai. Nhiều Ai quá.” (29)

Như chúng ta đã thấy, Ai mở đầu với một số phân cảnh giữa người mẹ và đứa con, có ít nhiều liên quan đến tiếng Việt. Về phần cuối của cuốn sách, Đặng Thơ Thơ có trở lại với tiếng Việt. Tuy vậy, tiếng Việt không hẳn là một trọng tâm của cuốn tiểu thuyết. Chính tác giả đã khẳng định, Ai là một cuốn tiểu thuyết mở, một cuốn tiểu thuyết không chấm dứt, ngay cả sau chữ HẾT đã hiện ra trên trang sách cuối cùng, không khác gì chữ HẾT hiện ra trên màn ảnh trong rạp xi-nê khi một cuốn phim đã kết thúc. Người đọc có thể thấy khá rối trí trong suốt thời gian đọc cuốn sách, không kịp có thì giờ để suy nghĩ và hiểu hết được những diễn tiến hay tư tưởng dồn dập trong truyện. Đến ghi gấp sách lại mới “hoàn hồn”, thử nghĩ xem đầu đuôi câu chuyện này thực ra là về những gì. Chính vì thế mà Ai đã có một câu kết luận rất ư là… nhập đề:

Dự án bắt đầu vào mùa thu. (272)

Cũng vậy, ngôn ngữ trong Ai cũng là một thứ “ngôn ngữ mở”, và do vậy, định nghĩa của nó không giới hạn trong ngôn ngữ nói (và viết) của nhân loại. Ngôn ngữ trong Ai còn là ngôn ngữ, hay nói cho chính xác, là ký hiệu ước lệ của các hình thức nghệ thuật biểu hiện các khái niệm phức tạp mà chúng đại diện (âm nhạc, điện ảnh, sân khấu…) hay các ngành khoa học (toán học, điện toán, trí thông minh nhân tạo…). Bàng bạc khắp cuốn tiểu thuyết, còn là ngôn ngữ của triết học, của tôn giáo, của ngôn ngữ học và tất nhiên, ngôn ngữ của văn chương, thi ca[13] và hội hoạ[14].

Các loại ngôn ngữ kể trên, lúc thì đi song song với nhau (Ai và các tẩu khúc tượng trưng cho sự đối nghịch của bản thể, của hiện tượng), lúc thì lồng vào nhau như giữa giả thuyết và thực tế (Ai và những ký hiệu tượng trưng cho các phép toán trừu tượng), có khi là phản ảnh của nhau như bóng với hình (Ai và những nhân vật trong cuốn phim), và cũng có khi đan xen vào nhau như tương quan giữa nghệ thuật và nhân sinh (Ai và những động tác đầy kịch tính trên sân khấu), v.v.

Đặng Thơ Thơ muốn ngôn ngữ loài người không còn biên giới (cha đẻ của “Thế Giới Ngữ” Esperanto cũng chưa đạt được giấc mơ của mình[15]). Cô muốn mang thêm thật nhiều tiếng động trong thiên nhiên vào ngôn ngữ của loài người (hiện tượng ngôn ngữ gọi là “tượng thanh”/onomatopoeia), hẳn là một ước muốn quay lại thuở hồng hoang man sơ nhưng đẹp đẽ của nhân loại:

Cô giải thích nghe cũng có lý. Chẳng hạn những âm thanh thiên nhiên đem phổ vào ngôn ngữ sẽ phá tan các biên giới giữa nhiều ngôn ngữ. Chẳng hạn lấy tiếng chó sủa để gọi tên cho con chó, thì tên nó sẽ là “gâu” hay là “gâu gâu”, thay vì là dog, chien, hay cẩu, hay chó. Những âm thanh khác như tiếng suối reo, tiếng sấm, tiếng chim, tiếng mưa… cũng thế. (141)

Tác giả của Ai còn có một cái nhìn vượt qua giới hạn vật lý của ngữ âm khi cảm nhận âm thanh một cách phi tuyến tính, và “nghe ra” những “âm thanh vô thanh”/soundless sounds như thể âm thanh là một tổng thể chồng chất lên nhau một các độc lập, lúc thì lồng vào nhau, lúc thì quyện vào với nhau, thậm chí có lúc lại rời xa nhau, cả trong âm nhạc lẫn âm thanh lời nói và âm thanh trong thiên nhiên. Bức tranh âm thanh ấy chẳng khác gì bức tranh vẽ nhân loại, mà trong đó mỗi con người chúng ta có bao nhiêu mối quan hệ chằng chịt với thiên nhiên, xã hội, tha nhân và với ngay chính bản thân: 

Tất cả đều có âm thanh hết!” Cô nói với vẻ xác quyết. “Những âm thanh nổi và những âm thanh chìm. Những thứ mình tưởng là vô thanh, chính thực là vì mình không nghe được, chứ không phải không có. Mà trong một âm lại chứa nhiều thanh khác nhau. Như là nhạc giao hưởng, nhiều bè, nhiều giọng, nhiều âm sắc, cao độ. Tập dần dần rồi sẽ nghe ra.” (142)

Tiểu thuyết Ai viết bằng tiếng Việt, luận bàn về tiếng Việt, nhưng cũng chứa đựng hay đề cập đến nhiều thứ tiếng khác như tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Bồ Đào Nha, cả những thứ tiếng của thổ dân như tiếng Ais và tiếng Chitimacha. Thật ra, ngôn ngữ trong Ai, và chủ đề về ngôn ngữ trong Ai, tất cả chỉ là một cái cớ để Đặng Thơ Thơ dựa vào để xây dựng những luận đề (hay những câu hỏi chưa có lời giải đáp?!) mà cô hằng nung nấu. Gia dĩ, nếu ngôn ngữ có thật là chủ đề chính của Ai đi nữa, thì như chúng ta đã biết, đây là một loại ngôn ngữ mở. Viết bằng tiếng Việt, nói về tiếng Việt, hay nói về tiếng Nhật, tiếng gì gì đi nữa, cuốn tiểu thuyết này là một “Khung Cửa Rộng” chứ không phải là La Porte étroite của André Gide, một khung cửa cho phép người đọc bước qua, rồi thấy choáng váng trước một không gian không bờ không bến, không biên giới quốc gia, không biên giới giữa các tinh cầu, không biên giới của lòng người, không biên giới giữa cái còn và cái mất, không biên giới giữa cái sống và cái chết. Cảm nhận được điều đó, người ta vừa có cảm giác vui thích tột độ được tự do tuyệt đối, vừa có nỗi sợ hãi hụt hẫng trong một không gian vô biên, bất tuyệt, vì vốn dĩ đã quen sống trong một thế giới hữu hạn chất chứa những khái niệm hữu hạn.

Ai đã đặt ra rất nhiều câu hỏi. Và mỗi người đọc phải tự tìm ra các câu trả lời cho chính mình. Lắm khi, hỏi tức là đã tự trả lời rồi.

Một cách thực tiễn, tiểu thuyết Ai đã sẵn sàng để được chuyển ngữ sang bất cứ tiếng nào trên thế giới, bởi một lẽ giản dị là tiếng Việt trong Ai là một thứ tiếng Việt “trong suốt”, tuy đậm đà chất Việt Nam, vẫn đủ trung dung để được dễ dàng chuyển dịch sang nhiều ngoại ngữ. Văn phong của Đặng Thơ Thơ nhẹ nhàng, mực thước. Cú pháp trong sáng, gãy gọn. Từ ngữ chọn lọc, hàm súc. Bố cục chặt chẽ, rõ ràng. Đối thoại tự nhiên và đong đầy cảm xúc. Các dịch giả hẳn sẽ hài lòng với Ai, như là một “template” lý tưởng để dịch sang một ngôn ngữ khác.

Ai như một cơn mưa rào, mát rượi, được đợi chờ từ lâu sau những ngày hè oi ả, trong dòng văn học tiếng Việt hải ngoại. Ai có bút pháp mới mẻ, nội dung phong phú và tân kỳ, với những tư tưởng “nằm ngoài cái hộp”, vừa táo bạo, vừa sâu xa và lôi cuốn, có thể tìm đến với các độc giả của thế hệ Z đang góp phần định hình cho những năm tháng trước mặt của thế kỷ XXI.

Trần C. Trí
Tháng Tư, 2024

[1] Nguyên văn “The life of the plays is in the language,” trích dẫn trong Kermode 2001:4

[2] Nguyên văn “Literature is the artistic use of language, also called ‘verbal art,’ to make clear that there are both oral and written literature (and signed literature)”, trích dẫn trong phần giới thiệu về Literature and Linguistics.

[3] Nguyên văn “There will not be any kind of literature if there is not a language. That is a language which creates literature and with its features helps it to be more interesting.” The Role of Linguistics in Literary Texts, International Journal of Research, August 23, 2018.

[4] Âm vị/phoneme là khái niệm của một âm trừu tượng. Âm tố/Allophone là cách phát âm cụ thể của một âm vị.

[5] Có thể dùng ba dạng phiên âm quốc tế (IPA) tương đương khác là [aɪ], [aɪ̯] hay [aj].

[6] Âm [j] là bán nguyên âm/semivowel, tương tự như cách phát âm chữ “d” trong các phương ngữ Trung-Nam Trung phần và miền Nam (so với cách phát âm [z] của một số phương ngữ miền Bắc và Bắc Trung phần).

[7] Âm [b] là một âm tắc/stop consonant được người Nhật dùng khi chữ bắt đầu bằng âm này xuất hiện ở đầu câu hay đầu một nhóm chữ. Khi chữ này nằm giữa câu hay nhóm chữ (và không theo sau một phụ âm mũi), âm [b] được thay thế bằng âm xát/fricative consonant [β], mềm hơn, như lúc phát âm chữ “v” trong “tiếng Việt”: tiếng [β]iệt. Hiện tượng ngữ âm này được gọi là “xát hoá”/Fricatization hay Spirantization.

[8] Trong bài khảo cứu này, Foreign (a) in North American English: Variation and Change in Loan Phonology, Journal of English Linguistics (Vol. 4, Issue 1), tuy tập trung vào một những âm tố khác, Bobert miêu tả hiện tượng bản ngữ hoá/foreign sound nativization trong tiếng Anh đối với một số âm ngoại quốc biểu hiện qua chữ <a>, tương tự như người Nhật “bản ngữ hoá” âm [v] của tiếng Việt.

[9] Để được “an ủi” phần nào nếu chẳng may bị tước đi quyền nói tiếng mẹ đẻ, chúng ta cũng nên suy gẫm một trong những câu nói bất hủ về ngôn ngữ của loài người của Noam Chomsky (1928- ), nhà ngôn ngữ học lừng danh trong hậu bán thế kỷ XX, như sau: “If a Martian linguist were to visit Earth, he would deduce that there was only one language, with a number of local variants.” (tạm dịch: “Giả như có một nhà ngôn ngữ học từ Hoả Tinh đến thăm Địa Cầu, chắc ông ta sẽ suy luận rằng (trên trái đất) chỉ có duy nhất một ngôn ngữ với nhiều biến thể địa phương mà thôi.”)  

[10] Trong ngành ngôn ngữ học ứng dụng/applied linguistics, đây là hai khái niệm native languagetarget language, thường viết tắt là L1 và L2.

[11] “tôi” là đại danh từ phái sinh/derived pronoun của danh từ tương đương với “servant”, “con” là từ danh từ tương đương với “child”, “em” là danh từ tương đương với “younger sibling”, v.v.

[12] Tất nhiên trong tiếng Anh, có lúc một người mẹ, thay vì xưng là “I”, cũng dùng danh từ “mommy” như một đại danh từ trong ngôi thứ ba để nói với con, ví dụ như Mommy loves you so much “Mẹ yêu con lắm”. Tuy nhiên, cách xưng hô này chỉ là một phần trong giới hạn của “child language acquisition”, không kéo dài qua đến tuổi trưởng thành của đứa con.

[13] Phần đầu trong thông báo điện tử chiếu trên khắp các bề mặt viện bảo tàng mà nghe ra như một bài thơ (269):

          Để ngăn ngừa
         Sự mất tích
         Đang lan tràn
         Giữa các châu lục
         Hãy gửi con
         Vào viện bảo tàng
         Bảo đảm
         Đứa bé sẽ an toàn

[14] Nhiều đoạn văn tả cảnh trong Ai như những bức tranh cô lặng, trầm mặc mà óng ả:

Ngoài xa, sóng biển quẫy mình lăn vào bờ như những con rắn bạc. Màu nước lúc nào cũng xanh dịu. Một thứ màu bất chấp thời gian trong ngày. (51)

Những hàng cây đã xao xác vật vã suốt đêm. Chúng lắc lư và toả ra ánh sáng màu xanh dịu êm. Màu lá cây lay động đã toả sáng lên những ngọn đèn đường bên dưới. (56)

Ngay lúc này, biển đen thẳm, màu đen thật trong, tinh tuyền. Không hề có một phản chiếu nào của những dãy đèn bao quanh vịnh. Đèn từ những con thuyền ngay sát cảng cũng không sao rọi được vào lòng nước. Biển đêm Lisboa như một bức vẽ sai nguyên tắc. (176)

[15] Bác sĩ người Ba Lan Ludwig L. Zamenhof (1859-1917) đã sáng chế ra ngôn ngữ nhân tạo Esperanto (“Người Hy Vọng”) với niềm tin rằng, nếu loài người không còn dị biệt về ngôn ngữ nữa, thế giới cũng sẽ không còn chiến tranh. Tiếng Esperanto phần lớn dựa vào các ngôn ngữ chính của phương Tây như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Hy Lạp và các thứ tiếng gốc La Tinh (Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha). Văn phạm Esperanto tương đối giản dị: tất cả các danh từ (không phân biệt giống cái hay giống đực) đều chấm dứt bằng -o, tất cả các tính từ chấm dứt bằng -a, các trạng từ chấm dứt bằng -e; động từ chia một kiểu cho tất cả các ngôi (như tiếng Việt). Ví dụ như câu Người đàn ông cao lớn đang nói chuyện vui vẻ với một cậu bé trong tiếng Esperanto là La alta viro gaje parolas al juna knabo.

bài đã đăng của Trần C. Trí

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

1 Bình luận

  • Long Nguyen says:

    Tiếng Việt, yếu tố tình cảm

    Tiếng Việt ngoài các yếu tố thành lập phổ quát như tượng thanh (ầm ỳ, lốc cốc, rổn rảng, vi vu, sầm sập, lốp bôp) và tượng hình (lấp lóa, mảnh mai, sùm sụp, te tua, toát hoát, nhanh nhẩu, bảnh chọe), tiếng Việt còn một yếu tố căn cơ và khá đặc thù cho VN, ấy là yếu tố tình cảm. Quý vị sẽ dễ dàng thấy ra ngay trong cách xưng hô với nhau trong xã hội gần như được gia đình tình cảm hóa, như: con, cháu, chú, bác, cô, dì, anh, em. Thưa bà con cô bác. Kính thưa quý bác cao niên.

    Cố GS Kim Định viết bộ sách triết lý An Vi đã phân tích và nhận xét rằng rốt ráo của giao tế VN là “tình thâm nhi văn minh”. Có tình, có lòng là điều mà người Việt rất chú trọng khi kết giao hay làm việc. Kể cả khi sáng tạo hay vui chơi giải trí. Theo Kim Định, cây đàn bầu một dây, một trong các biểu tượng âm nhạc của VN, bó buộc người chơi phải chú tâm khi diễn tả từng chữ đàn với tình cảm. Vì thế rất khó có hiện tượng “thần đồng” đối với cây đàn bầu độc huyền. Bởi vì tiếng đàn cần chiều sâu của kinh nghiệm sống và tình cảm của người chơi. Nhiều loại đàn khác của VN cũng vậy, đàn ghi ta phím lõm, đàn cò, đàn kìm.

    Câu hỏi đặt ra là, vậy thì đâu là “mặt mạnh mặt yếu” của yếu tố tình cảm trong tiếng nói? Theo tôi, có cái nên sửa đổi. Và, dĩ nhiên, có điều không thể từ bỏ. Thí dụ, cách xưng em cháu với người có nhiệm vụ trong chính quyền đang làm việc thì nên sửa đổi. Thưa ông/bà (thêm chức danh) và xưng lại tôi là đủ phép lịch sự. Nhưng mà, rất khó, gần như bất khả khi người thân ruột thịt xưng đại danh từ “tôi” với nhau. Rất khó khi nói: “Tôi thương bạn” thay vì “Mẹ thương con” “Anh thương mình”. Những người lớn tuổi có thể xưng tôi nhưng vẫn chú ý tình cảm bày tỏ: ” Ông rót dùm tôi ly nước”.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)