Trang chính » Chuyên đề Ma, Kịch, Kịch đương đại Việt Nam & thế giới, Sáng Tác Email bài này

BỜ DỐC- Kịch bốn màn năm cảnh

0 bình luận ♦ 26.11.2020

Quý tặng nhà văn Đặng Thơ Thơ

clip_image002


NHÂN VẬT

Người đàn ông Người thích viết kịch

Albert Camus Nhà văn, kịch tác gia

Hoàng Thuỷ Người yêu cũ của người đàn ông

Khởi Tâm Con trai của Hoàng Thuỷ

Ngộ Lan Em họ của người đàn ông


MÀN MỘT

Không gian: Nghĩa trang Lourmarin, nằm ở ven ngôi làng cùng tên thuộc vùng Provence, miền tây nam nước Pháp.

Thời gian: Cuối thập niên thứ nhì của tiền bán thế kỷ XXI. Một buổi chiều mùa thu đang dần tắt nắng.

CẢNH DUY NHẤT

Người đàn ông, tay xách một cái cặp da cũ, đi quanh quất, đưa mắt tìm kiếm một ngôi mộ nào đó trong khu nghĩa trang. Cuối cùng, ông dừng lại và quỳ xuống trước một ngôi mộ có dòng chữ ghi sơ sài trên tấm bia: Albert Camus, 1913-1960.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (lẩm bẩm): À, đây rồi!

Ngôi mộ nổi bật lên giữa những ngôi mộ chung quanh vì sự đơn giản đến độ xuềnh xoàng của nó. Điểm nổi bật khác là một lùm cây cao bằng một người tầm thước, như chỉ đủ để toả một ít bóng mát xuống tấm bia đá dựng chênh chếch về phía sau. Lá cây trông như lá trúc đào, nhưng tuyệt nhiên không thấy một bông hoa nào trên cây cả. Chung quanh ngôi mộ tuyền một màu xanh ngắt, lạnh lùng. Cỏ dại mọc lan tràn. Vươn lên từ đám cỏ là nhiều khóm lá hình lưỡi lê viền quanh ngôi mộ. Cũng như cái cây lớn, trong khóm lá không có một đoá hoa nào. Đan xe kẽ vào đám cỏ dại là những nhánh thảo hương màu xanh đậm, tương phản với sắc xanh nhạt của đám cỏ và các khóm lá. Vài hòn đá nhỏ màu trắng bám đầy rêu nằm rải rác quanh mộ.

Người đàn ông lấy trong cặp ra vài cây nhang, bật quẹt lửa để mồi vào nhang. Ông cắm nhang vào một kẽ đá trước ngôi mộ.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (chắp hai tay lại, nói với người nằm dưới mộ): Chào ông Camus! Chắc đây là lần đầu tiên có người thắp nhang cho ông. Người Việt chúng tôi dùng hương khói làm chất xúc tác cho mối liên lạc giữa người sống và người chết.

Người đàn ông ngồi bệt hẳn xuống đất, hai tay bó lấy gối, nhìn làn khói nhang bay lững lờ rồi theo nhau tan biến vào gió chiều hiu hiu trong khu nghĩa trang. Đâu đây có một vài tiếng chim heo hút gọi đàn. Người đàn ông ngồi yên trong tư thế đó thật lâu, thật lâu, cho đến khi nắng chiều tắt hẳn. Ông rút trong cặp ra một tấm bảng cầu cơ và một miếng gỗ nhỏ hình trái tim, đặt xuống thềm đá trước ngôi mộ. Đoạn ông lấy một cây nến đã mang theo sẵn, dùng bật lửa để thắp nến lên. Ông nhỏ một vài giọt nến lỏng xuống nền đá rồi gắn chân cây nến lên đó. Ông dựng cái cặp về phía chiều gió để che cho nến khỏi bị thổi tắt. Xong xuôi, ông trịnh trọng bắt đầu cuộc cầu cơ.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (nhắm nghiền hai mắt, miệng lẩm nhẩm): Kính lạy hương hồn ông Albert Camus, sống khôn thác thiêng. Xin kính mời ông về đây chứng giám cho lòng thành của tôi và nhập vào con cơ này để tôi xin được hầu chuyện cùng ông.

Một lúc sau, người đàn ông cảm thấy có một luồng điện chạy rần rần trong cơ thể, rồi cuối cùng chuyền xuống cánh tay phải của ông. Con cơ bắt đầu chuyển động. Tiếng côn trùng đêm bắt đầu rền rĩ khắp nghĩa trang.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (giọng kính cẩn): Thưa hồn, hồn có phải là nhà văn Albert Camus không ạ?

CAMUS (theo đường chạy của con cơ): Tôi đây. Anh tìm gặp tôi có việc gì vậy?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (mừng rỡ): Dạ, kính chào ông. Tôi tìm đến ông, trước hết, là để nói với ông một lời tạ ơn. Sau đó là để thỉnh cầu một số ý kiến của ông về phương pháp viết kịch.

CAMUS: Tạ ơn? Anh muốn tạ ơn tôi về chuyện gì?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi xin tạ ơn ông vì đã có cơ duyên được đọc vở kịch “Le Malentendu” của ông qua bản dịch “Ngộ Nhận” của thi sĩ Bùi Giáng.

CAMUS: Thế thì anh phải tạ ơn ông Bùi Giáng chứ?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Ông nói phải. Tôi sẽ tìm một dịp khác để tạ ơn ông Bùi Giáng. Nhưng không có vở kịch của ông thì sẽ không có bản dịch của Bùi Giáng.

CAMUS: Trong đời của anh, chắc anh đã đọc nhiều tác phẩm khác rồi. Không lẽ cứ đối với mỗi tác phấm, anh lại phải lặn lội tìm cho ra tác giả của nó để tạ ơn sao? Tại sao anh không tìm gặp Beckett hay Ionesco chẳng hạn, mà lại tìm tôi? Tôi có viết vài vở kịch thật, nhưng tôi không chuyên về kịch như những tác giả kia.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (mỉm cười): Tôi muốn đặc biệt tạ ơn ông về vở kịch của ông vì nhờ nó mà tôi mới có cảm hứng để viết nên vở kịch đầu tiên của tôi.

CAMUS: Anh có thể nói rõ hơn không? Cảm hứng đó đến từ bản dịch hay từ nguyên tác của tôi?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Từ cả hai, ông ạ. Một phần của cảm hứng đó đến từ bản dịch tài hoa, phiêu hốt của Bùi Giáng, với những ngôn từ hoang dại, phóng túng và đầy màu sắc của ông ta trên từng trang giấy; phần khác, cố nhiên là từ nội dung độc đáo của vở kịch bi tráng của ông. (Giọng trở nên miên man) Ông biết không, tôi mê vở kịch đến nỗi đã chép tay lại hết bản dịch bằng tiếng Việt ra một cuốn vở học trò. Sau đó, tôi tìm đọc bản tiếng Pháp của ông, để rồi lại ngây ngất thêm một lần nữa vì được thưởng thức vở kịch qua vẻ đẹp thanh thoát của ngôn ngữ Pháp.

CAMUS: Đọc xong vở kịch, anh có những cảm tưởng nào?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi đọc nó không chỉ một mà đến bao nhiêu lần không đếm xuể. Đã mấy mươi năm rồi mà tôi vẫn còn nhớ nằm lòng nhiều câu nói của nhân vật Martha, nhân vật nổi loạn trong tấn bi kịch của ba mẹ con. Tôi nhớ nhất câu này của cô ta: “Một đời ta mong đợi cái giờ sóng dâng rào rạt, sẽ lôi cuốn ta bồi phong tẩy địa, đưa ta đến những bờ xanh bến lục lai láng hồng vàng…”. Suốt cuộc đời, cô chỉ mơ có được “một căn nhà để thỉnh thoảng có thể bơ thờ ngủ vùi đi một lúc”. Tuy ước mơ của cô ta không thành, dầu sao nó cũng dễ thực hiện hơn so với mơ ước của tôi, nếu cô ta biết hành động đúng đắn. Còn đối với tôi, lúc tôi nhận diện được ước mơ của mình thì cũng là lúc tôi thấu hiểu nó sẽ không bao giờ xảy đến.

CAMUS: Có hai Martha: một Martha tiền-thảm-kịch và một Martha hậu-thảm-kịch. Anh đồng cảm với nhân vật thứ hai này như thế nào?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi đã hầu như hoá thân thành nhân vật này ở cả hai giai đoạn trong cùng một lúc. Trong khi Martha thất vọng, tôi đã hoàn toàn tuyệt vọng. Lòng tôi tan nát theo những lời kêu rêu thịnh nộ và ai oán của cô sau khi mọi sự đã vỡ lỡ, thấy rằng “… mộng đời đã tàn phai dưới bụi, thoát tơi bời nách thước tay đao…”. Tôi đã thực sự hoà nhập thành một với Martha khi cô não nề than vãn: “…Ôi, ôi ta thù ghét cái cõi đời lây lất chốn này…”.

CAMUS: Nghe anh đọc lại những lời của Martha qua giọng văn của Bùi Giáng mà tôi cảm thấy ước mơ và nỗi thất vọng của cô ta còn hừng hực gấp bội so với trong nguyên tác. Khi nào anh gặp thi sĩ Bùi Giáng, anh nhớ chuyển lời cám ơn và thán phục của tôi đến ông ấy giùm nhé. Ngay cả tựa đề “Ngộ Nhận” mà ông ấy chọn cũng đã mở ra nhiều cánh cửa hơn là nhan đề bằng tiếng Pháp “Le Malentendu” của tôi. Tôi nghĩ tài chuyển ngữ của Bùi Giáng đã chứng minh được một điều mà tôi vẫn hằng tâm đắc: Dịch thuật đích thực chính là sáng tạo thêm một lần nữa! (Con cơ chợt dừng lại. Im lặng kéo dài trong một phút). À, thế còn cảm hứng mà vở kịch của tôi đã truyền qua cho vở kịch của anh thì như thế nào?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (say sưa kể lể): Lúc đó, tôi nghĩ, nếu chỉ đọc một vở kịch mà tôi đã có thể tìm thấy tôi một cách thú vị như thế, thì chắc tự viết ra một vở kịch sẽ còn hào hứng hơn nhiều. Khi đọc vở kịch của ông, tôi chỉ mới khám phá ra con người tôi một cách thụ động. Viết ra một vở kịch, tôi sẽ có thể dàn trải lòng mình ra nhiều hơn, và như thế sẽ có dịp tìm hiểu chính mình một cách chủ động hơn. Thế là, chỉ trong hai tuần lễ, tôi đã cặm cụi viết xong vở kịch đầu tay của mình. Vở kịch tất nhiên là được chép tay, chỉ một bản duy nhất, chiếm hai phần ba cuốn vở học trò mà tôi đã dùng để viết. Tôi còn nhớ mình đã tháo cái bìa vở ra để thay thế nó bằng một cái bìa trắng khác, trên đó tôi tự tay vẽ một bức tranh lập thể, nhìn vào chẳng ai hiểu mô tê gì cả.

CAMUS: Vở kịch đó có nhan đề là gì và nội dung ra sao?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tên vở kịch là “Bờ Dốc”, nói về một người đàn bà mang chứng masochisme, ngoại tình với một người đàn ông. Hai người hẹn gặp nhau trong một căn phòng khách sạn để cùng nhau đi đến một nơi khác. Qua cuộc nói chuyện trong căn phòng, bỗng dưng người đàn bà thấy ra trước một cuộc sống gần như lập lại những gì mình đã có, hay còn có phần tệ hại hơn thế. Cuối cùng, bà xé nát hai chiếc vé xe lửa sẽ mang hai người đến một nơi đã định trước. (Ngập ngừng trong giây lát) Tôi muốn viết lại vở kịch này. Ngày đó, tuổi mới mười chín, hai mươi, tôi còn non nớt quá, Nhìn lại, tôi thấy vở kịch của mình còn thiếu chất kịch.

CAMUS: Theo anh, chất kịch phải như thế nào?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi thấy vở kịch đầu tay đó của tôi còn thiếu cao trào, thiếu yếu tố bất ngờ, thiếu nút thắt, nút mở.

CAMUS: Ai bảo với anh là một vở kịch phải có cao trào, phải có yếu tố bất ngờ, phải có nút thắt, nút mở?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (ấp úng): Ông là một kịch tác gia nổi tiếng, nên ông đã hỏi như thế thì tôi không biết cách nào trả lời được. Ông có thể giải thích thêm cho tôi rõ một chút không?

CAMUS: Theo tôi, kịch là cuộc sống được đóng khung lại. Nó có thể gọt dũa, thêm thắt, cắt bỏ nhiều chi tiết, nhưng tựu trung vẫn phải phản ảnh cuộc sống một cách trung thực. Anh nghĩ xem, nếu một vở kịch kể lại một cuộc đời phẳng lặng, làm sao nó có thể có một cao trào, yếu tố bất ngờ, nút thắt, nút mở? (Con cơ dừng lại một lát). Về vở kịch đầu tay của anh, anh nên tự hỏi mình những câu hỏi này: Tôi đã phó thác ít nhiều tâm tình vào vở kịch của mình chưa? Tôi muốn gởi những thông điệp nào đến người đọc? Tôi đã làm gì để nói lên một phần, dù rất nhỏ, của thân phận con người? Suy nghĩ của nhân vật trong kịch về đời sống là gì? Họ tương tác ra sao đối với những cảnh ngộ khác nhau trong cuộc sống? Trả lời được những câu hỏi trên, anh đã có một vở kịch rồi đấy. (Con cơ dừng lại trong giây lát) À, còn điều này nữa. Những ẩn dụ mà tôi sử dụng đều nằm bên trong vở kịch của tôi chứ không ở nhan đề, còn dường như anh đã dùng ẩn dụ ngay cả với cái tên “Bờ Dốc” rồi, phải không? Tại sao lại là bờ dốc?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (mỉm cười): Nghĩ lại, thời mới đôi mươi mà tôi đã bày đặt triết lý vụn! Tôi dùng nhan đề ấy để ngụ ý rằng con đường mà nhân vật người đàn bà ngoại tình đã chọn để cùng tình nhân trốn chạy một cuộc hôn nhân không tình yêu—như bà ta đã may mắn nhận nhìn ra trước—rốt cục rồi cũng chỉ là một cái bờ dốc đưa bà đến một vực thẳm kinh hoàng nào chưa lường đến được… (Ngập ngừng một lát) Câu chuyện về vở kịch của tôi, thưa ông, hãy còn nhiều rắc rối lắm.

CAMUS: Rắc rối là thế nào?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (ngập ngừng): Bản thảo của vở kịch đó đã bị mất cách đây hơn ba mươi năm rồi.

CAMUS: Mất trong trường hợp nào? Cháy nhà? Làm rớt ở đâu đó? Không lẽ ai lại đi lấy trộm một vở kịch viết tay của…

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Một kẻ vô danh tiểu tốt, phải không ông? Đúng thế. Nhưng tức lắm, ông ạ. Hồi đó, trong nhà tôi chưa hề mất một thứ gì, từ lớn tới nhỏ. Thế mà chỉ có cuốn kịch đó là biến đi một cách khó hiểu. Giống như có ai cố tình lấy nó vậy.

CAMUS: Ai là ai? Lúc đó anh có nghi người nào lấy không?

NGƯỞI ĐÀN ÔNG (đăm chiêu): Tôi nghi hai người. Một người là cô bạn gái của tôi thời đó. Còn người kia là một cô em họ rất thân với tôi.

CAMUS: Anh có bao giờ hỏi họ về chuyện đó không?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Chưa bao giờ cả.

CAMUS: Chuyện xảy ra lâu quá rồi, và anh không còn manh mối gì nữa. Vậy anh đem ra nói với tôi để làm gì?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Số là mới tuần trước thôi, tôi nhận được hai lời nhắn mà tôi nghĩ là có liên quan đến vở kịch đã mất.

CAMUS: Của hai người đàn bà đó?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Phải. Sự trùng hợp lạ kỳ là họ gởi lời nhắn đến tôi chỉ cách nhau có vài ngày, sau mấy chục năm không liên lạc với tôi.

CAMUS: Tại sao ngay lúc này?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Cả hai người đàn bà đó đều đang lâm trọng bệnh. Có lẽ họ muốn gặp tôi lần cuối. Nhưng điều này mới là điều lạ lùng nhất: Hai người đều nhắn là họ muốn trả lại cho tôi một món gì đó trước khi qua đời.

CAMUS: Vở kịch của anh? Thế thì vô lý quá. Anh đã bảo là anh chỉ viết tay có một bản thôi mà.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Vô lý thật, phải không ông? Nhưng tôi phải tìm cho ra sự thật. Ngày mai tôi sẽ đi thăm cô bạn gái cũ của tôi trước, vì cô ấy ở tận Việt Nam, tôi sợ không kịp. Cô em họ của tôi thì ở Texas, gần hơn nên tôi sẽ qua thăm cô ấy khi trở về Mỹ.

CAMUS: Câu chuyện của anh quả là rắc rối. Tôi cũng muốn biết nó sẽ đi đến đâu.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Cám ơn ông đã trò chuyện với tôi. Bây giờ tôi xin tạm biệt ông. Tôi sẽ trở lại thăm ông sau hai chuyến đi sắp tới.

Cây nến cũng vừa tàn. Đêm đã thật khuya. Sương lành lạnh, phủ mịt mờ mọi vật chung quanh. Người đàn ông lặng lẽ cho tấm bảng cầu cơ vào trong cặp. Ông lững thững bước ra khỏi khu nghĩa trang chìm đắm trong tiếng côn trùng ai oán.



.

MÀN HAI

Không gian: Một vùng quê miền Trung nước Việt.

Thời gian: Hai ngày sau hôm người đàn ông đến thăm mộ của nhà văn Albert Camus bên Pháp.

CẢNH 1

Gian phòng khách rộng rãi trong ngôi nhà bề thế của Hoàng Thuỷ. Khoảng mười giờ sáng. Người đàn ông ngồi trên chiếc sofa trong phòng khách. Đối diện ông là Khởi Tâm.

KHỞI TÂM: Cám ơn bác đã về đây thăm mẹ cháu. Phiền bác ngồi nói chuyện với cháu một chút. Mẹ cháu đang ngủ, cháu không nỡ đánh thức dậy. Mẹ cháu rất khó ngủ nên bà ngủ được lúc nào là mừng lúc đó.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Ồ, tôi phải cám ơn cậu đã tiếp đón tôi tử tế như thế này chứ. Tôi rất buồn vì gặp lại mẹ cậu trong tình huống không hay này…

KHỞI TÂM: Cháu biết bác là ai rồi. Ngày xưa bác là người yêu của mẹ cháu.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (cười gượng gạo): Ba cậu mất rồi nên giờ này cậu mới có thể ngồi đây mà nói với tôi câu đó. Dẫu sao, nghe câu nói của cậu ngay trong ngôi nhà này, ngôi nhà của ba cậu xây dựng nên, cũng làm cho tôi cảm thấy áy náy.

KHỞI TÂM (giọng thản nhiên): Có gì đâu mà bác phải áy náy. Ba mẹ cháu lấy nhau sau khi bác đã đi rồi, có gì lấn cấn giữa ba cháu và bác đâu.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Chắc mẹ cậu đôi khi cũng có nhắc đến tôi…

KHỞI TÂM: Rất nhiều lần là đằng khác. Bác quên rằng ba cháu cũng biết bác và biết chuyện ngày xưa giữa bác và mẹ cháu sao? (Đổi giọng nghiêm trang) Thưa bác, cháu có thể xin bác một ân huệ được không?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (hơi giật mình): Chuyện gì mà ân với huệ nghe to tát vậy cậu?

KHỞI TÂM (nhìn thẳng vào mắt người đàn ông): Mẹ cháu vẫn còn yêu bác, yêu nhiều lắm. Bà hầu như không cần che giấu điều đó đối với ba cháu. Về phần ba cháu, cháu thấy ông vẫn hằng đau khổ trong suốt mấy mươi năm qua, từ khi cháu bắt đầu tìm hiểu về câu chuyện ngày xưa của bác và mẹ cháu. Ba cháu đã đau khổ đến ngày cuối cùng của ông, nhưng hình như giữa ông và mẹ cháu đã có một thoả hiệp nào đó lúc hai người trở thành vợ chồng.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (tỏ vẻ sốt ruột): Còn chuyện mà cậu gọi là ân huệ?

KHỞI TÂM: Mẹ cháu không còn bao nhiêu thời gian nữa đâu, bác ạ. Bệnh tình của bà đã đến giai đoạn chót rồi. Bác sĩ nói bà có thể đi bất cứ lúc nào. Trong giờ phút này, cháu thấy chẳng có chuyện gì là hệ trọng nữa, ngoài điều mong muốn của cháu là mẹ cháu được nhắm mắt một cách thanh thản và không còn buồn khổ vì mối tình không trọn vẹn đối với bác. Bác, bác có thể, bằng một cách nào đó, cho mẹ cháu biết là bác vẫn còn ít nhiều tình cảm dành cho bà không?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (thở dài, nhắm hai mắt lại): Cậu cũng biết là tôi đã có gia đình rồi chứ? Tôi chỉ muốn nói những gì thật với lòng mình… (Chợt đổi giọng quả quyết) Nhưng được rồi, tôi sẽ giúp cậu. Tôi sẽ nói với mẹ cậu tất cả những gì tôi cảm thấy trong lòng, qua bao nhiêu năm nay. A, tôi vẫn còn nghe được ít nhiều âm vang trong trong tôi về chuyện cũ. Cậu biết đó, những âm vang của ngày xưa…

KHỞI TÂM: Vậy thì cháu cám ơn bác nhiều lắm!

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi muốn hỏi cậu điều này. Cậu là người chuyển lời nhắn của mẹ cậu đến cho tôi. Trong lời nhắn đó, mẹ cậu có nói là muốn trao trả lại cho tôi một vật gì. Cậu có biết gì về chuyện này không?

KHỞI TÂM: (khẽ lắc đầu): Dạ không. Lúc mẹ cháu nói lời nhắn gởi đến bác, cháu cũng có hỏi bà muốn trả bác món gì, nhưng bà không chịu nói.

Có tiếng chuông rung lên từ phòng bên trong. Cả hai đều quay lại về hướng đó.

KHỞI TÂM (đứng dậy): Chắc mẹ cháu thức giấc rồi đó bác. Để cháu đưa bác vào trong thăm bà.

Người đàn ông đứng lên theo. Khởi Tâm đi trước dẫn lối, người đàn ông đi theo sau.


CẢNH 2

Phòng ngủ rộng rãi nhưng không đủ ánh sáng. Các cửa sổ đều đóng kín. Trên chiếc giường lớn kê giữa phòng, nằm im lìm một người đàn bà dưới lớp chăn mỏng. Hai người đàn ông tiến gần đến bên giường.

KHỞI TÂM (đưa tay vuốt mấy sợi tóc loà xoà trên trán mẹ): Mẹ dậy rồi hở mẹ? Có bác Huy về thăm mẹ nè! (Ngó qua người đàn ông, chỉ vào một cái ghế cạnh giường) Mời bác ngồi xuống đây để nói chuyện với mẹ cháu. (Quay gót trở ra phòng ngoài).

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (xúc động mạnh, vừa ngồi xuống vừa nói): Hoàng Thuỷ! Anh đây. Anh về thăm em đây.

HOÀNG THUỶ (giọng yếu ớt, hai hàng nước mắt lăn dài trên má): Anh Huy! Cám ơn anh đã về đây thăm em. Em mệt lắm.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (cười héo hắt): Lúc này mà nói chuyện ơn nghĩa gì hở em? Về đây, được gặp lại em sau ba mươi mấy năm là anh mừng lắm rồi. (Cầm lấy tay Hoàng Thuỷ) Anh chỉ muốn nói với em điều này, là cho dù bao nhiêu năm tháng đã qua, bao nhiêu chuyện đã thay đổi, trong tim anh vẫn có riêng một ngăn dành cho em. Em biết đó, con tim người ta có nhiều ngăn lắm… Những gì đã có giữa hai chúng ta ngày xưa, tự chúng đã là một phần đời của mỗi đứa; không ai, kể cả chính chúng ta, có thể xoá nhoà đi cả.

HOÀNG THUỶ (mỉm một nụ cười mong manh): Anh đang nói thật lòng mình, phải không?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (siết chặt tay Hoàng Thuỷ) Anh nói thật. Những lời này anh nói ra từ ngăn tim dành cho em đó.

HOÀNG THUỶ (giọng xa xăm) Những lời anh nói như một chất gì lạ lùng, êm ái, đang thẩm thấu vào khắp người em. Em chỉ muốn nói với anh là em vẫn yêu anh, trong bao nhiêu năm qua, thật nhiều, thật nhiều, nhiều hơn cả ngày xưa lúc em đang còn có anh nữa. (Chợt thở dốc lên).

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (giọng nhẹ nhàng): Thôi em nằm nghỉ cho khoẻ, đừng nói nhiều mất sức. Giờ này chúng ta còn nhìn thấy nhau, còn cầm tay nhau như thế này là vui lắm rồi. (Sực nhớ ra điều gì) À, em có nói là sẽ trả lại cho anh một món gì. Có phải đó là vở kịch của anh hồi xưa không? Em là người lấy nó à?

HOÀNG THUỶ (nhắm mắt lại): Cuốn kịch “Bờ Dốc”, phải không? Không, em đâu có lấy nó! Hồi đó anh cho em mượn đọc; em đọc xong trả lại cho anh rồi mà. Sau khi anh đi vượt biên, em đến nhà xin má anh tập thơ “Vô Ngâm Khúc” của anh thì có, nhưng em có chép ra hẳn một cuốn vở gởi cho ba anh đem qua, còn bản chính của anh thì em giữ lại, anh còn nhớ không?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (vuốt ve bờ vai của Hoàng Thuỷ): Anh nhớ. Thôi, em đừng bận tâm đến cuốn kịch đó nữa làm gì. Lâu nay anh cũng quên bẵng nó đi rồi. Chỉ vì em nhắn là sẽ trả lại anh cái gì đó nên anh mới sực nhớ ra nó mà thôi. Nhưng… thế thì em định trả cái gì khác cho anh chứ?

HOÀNG THUỶ (cố mở to mắt nhìn người đàn ông): Anh Huy! Anh không đoán ra được gì sao? Khởi Tâm là con của anh đó! Em trả lại nó cho anh, để nó có một chỗ nương tựa tinh thần khi em không còn nữa, mặc dầu nó đã thành nhân rồi. (Xúc động manh, thở hào hển, khó nhọc).

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (chết lặng đi trong kinh ngạc, mãi một lúc sau mới lắp bắp): Khởi Tâm là… con của anh? Sao bao nhiêu năm nay… em không cho anh biết? (Vò đầu đau khổ) Trời ơi, tại sao… anh không nghĩ ra được nhỉ? Tuổi của nó… cũng là ngần ấy năm anh bỏ nước ra đi. Khởi Tâm… nó có biết chuyện này không?

HOÀNG THUỶ (nói như mê sảng, rời rã): Chưa… nó chưa biết gì hết. Em định… nói cho anh biết rồi.. mới cho nó biết.

Cả thân hình Hoàng Thuỷ chợt run lên từng hồi không dứt. Gương mặt cô đổi màu tái ngắt, hai môi nhợt nhạt hẳn ra.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (thảng thốt đứng bật dậy, kêu to): Khởi Tâm! Khởi Tâm!

Khởi Tâm từ bên ngoài chạy ào vào. Anh vớ lấy cái điện thoại trên bàn ngủ, bấm liên tiếp vài con số. Người đàn ông đứng sững, không biết phải làm gì. Từng phút dài dằng dặc trôi qua. Cuối cùng, tiếng còi xe cứu thương kêu inh ỏi từ bên ngoài vọng vào. Vài nhân viên mặc đồng phục hối hả bước vào với cái cáng và một số dụng cụ y khoa. Từ đó về sau, đối với người đàn ông, mọi việc chỉ còn là một mớ hỗn độn của âm thanh, hình ảnh nhoè nhoẹt, không còn nghĩa lý gì nữa.


.

MÀN BA

Không gian: Một thành phố nhỏ ven biển của tiểu bang Texas.

Thời gian: Hai ngày sau chuyến đi Việt Nam của người đàn ông.

CẢNH DUY NHẤT

Căn phòng nhỏ trong một bệnh viện. Người đàn ông đứng bên cạnh chiếc giường nhỏ, trên đó Ngộ Lan đang nằm, tóc xoã trên mặt gối màu trắng.

NGỘ LAN (giọng mừng rỡ): Anh Huy! Cuối cùng rồi cũng gặp lại anh.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (ân cần đặt tay lên vai Ngộ Lan): Lâu quá rồi phải không Ngộ Lan? Đến nỗi anh không còn nhớ lần chót anh em mình gặp nhau là lúc nào hay ở đâu nữa.

NGỘ LAN (giọng trách móc): Anh thì nhớ cái gì! (Nhìn chằm chằm vào mặt người đàn ông) Nhìn anh không được khoẻ đấy nhé. Mặt anh xanh xao lắm đó. (Chợt mỉm cười) Ồ, mà thật ra người bệnh là em chứ đâu phải là anh.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (giọng cố cho thật nhẹ nhàng): Tình hình sức khoẻ của Ngộ Lan thế nào?

NGỘ LAN (giọng bình thản): Ngay bây giờ thì trong người em thấy khoẻ, thấy bình thường lắm. Lâu lâu lại có những cơn đau thống thiết, làm oằn cả người em, tưởng như không chịu nổi. Cứ lúc này lúc kia như thế. Có điều là mấy ông bác sĩ chê em hết rồi, vì căn bệnh của em thuộc loại không thể giải phẫu được. Nay mai là em sẽ về nhà, chờ… (giọng không còn bình thản nữa). không biết chính xác là bao lâu… ba tháng… sáu tháng… hay một năm… không biết chừng…

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Anh chỉ mong em có thật nhiều nghị lực trong lúc này. Còn nước còn tát, Ngộ Lan à. (Đổi giọng vui vẻ) À, Tiến và cháu Nghi vẫn thường cả chứ?

NGỘ LAN (giọng bình tĩnh trở lại): Dạ, cháu Nghi học gần ra trường rồi anh ạ. Còn anh Tiến thì mấy tháng nay cực với em ghê lắm. Tội nghiệp, anh ấy mới chạy về nhà tắm rửa và ngủ một giấc cho lại sức đó anh. Cũng may là em sắp về nhà lại rồi.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Anh có thể giúp gì cho Ngộ Lan không?

NGỘ LAN: Anh qua đây được với em là giúp cho em nhiều lắm rồi, để em được gặp lại anh lần…

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (vội vã ngắt lời): Ngộ Lan đừng có bày đặt nói lần đầu với lần cuối nghe! Đời này cũng chưa chắc ai chết trước ai nữa đó nghe.

NGỘ LAN (cười thành tiếng nhỏ): Anh ngăn cho em đừng nói gở mà anh lại là người nói tới chuyện chết chóc trước.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Xin lỗi Ngộ Lan, anh vô ý quá! Mấy hôm nay, anh đang bị ám ảnh về sự ra đi của Hoàng Thuỷ, vẫn chưa hoàn hồn lại.

NGỘ LAN (giọng mơ màng): Anh chị vừa gặp nhau lại thì chị ấy mất hở anh? Anh Huy biết không, có một điều chắc chắn là chị Hoàng Thuỷ sẽ không bao giờ chết nữa.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (cố ý đổi đề tài): Sao, Ngộ Lan nhắn anh qua để trả lại cái gì đây? Cuốn kịch “Bờ Dốc” của anh, phải không?

NGỘ LAN (hơi ngạc nhiên): Sao anh Huy biết em lấy cuốn kịch đó?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (tinh nghịch nheo mắt): À, hoá ra thủ phạm là Ngộ Lan đó há! Có gì đâu, chỉ có hai kẻ tình nghi mà một người đã chính thức phủ nhận thì hẳn nhiên phải là người còn lại mà thôi.

NGỘ LAN (nắm lấy tay người đàn ông): Em nợ anh hai lời xin lỗi về vụ này. Lời xin lỗi thứ nhất là về việc em đã trót lấy cuốn kịch của anh. Còn lời xin lỗi thứ hai là em đã không mang được nó qua đây để trả lại cho anh.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (nhìn thẳng vào mặt Ngộ Lan): Thật tình thì anh đã quên cuốn kịch đó từ lâu rồi. Chỉ thỉnh thoảng khi viết một vở kịch mới thì anh lại thoáng nghĩ đến nó, rồi thôi. Hồi đó, Ngộ Lan một thân một mình đi vượt biên mà thoát được bọn công an biên phòng trong đường tơ kẽ tóc là hay lắm rồi, còn lòng dạ nào mà mang theo những thứ vớ vẩn như cuốn kịch của anh. (Đổi giọng đùa) Nhưng anh bằng lòng tha lỗi cho Ngộ Lan đó! (Sực nhớ ra điều gì) Ủa, như vậy thì Ngộ Lan định trả lại cho anh cái gì khác đây?

NGỘ LAN (buông tay người đàn ông ra, đặt hai tay mình lên ngực, thở một hơi dài trước khi nói): Em sắp trả anh một thứ mà ý nghĩa của nó nằm ở phần trả hơn là ở phần nhận. Nói khác đi, em làm việc này là cho chính em chứ không phải cho anh.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (hồi hộp lắng nghe): Cái gì mà Ngộ Lan nói nghe quan trọng dữ vậy?

NGỘ LAN (nhìn thẳng lên trần nhà, tiếp tục nói, như thể người đàn ông không còn đứng ở đó nữa): Anh Huy, điều em sắp nói ra đây, em nghĩ là anh cũng đã rõ từ lâu. Tình cảm của em dành cho anh, từ lúc chúng ta mới mười mấy tuổi, đã vượt quá giới hạn của tình anh em họ hàng. Nhưng chưa bao giờ em làm gì sai trái đối với tình cảm bất bình thường đó, anh cũng biết vậy, phải không? Nhưng cái tình cảm đó đã giày vò em trong bao nhiêu năm trời. Nó đã chiếm mất chỗ của tình cảm mà đáng lẽ ra em phải có để dành cho anh Tiến. (Ngừng lại một lát. Người đàn ông vẫn đứng nghe, ngây người như một pho tượng). Trong mấy tháng vừa qua, em nằm đây, nghiền ngẫm về rất nhiều điều về mình: căn bệnh quái ác này, tình cảm của em đối với anh, những thiếu sót của em đối với anh Tiến, và về những ngày ngắn ngủi còn lại của mình… Em đã quyết định rồi đó. Em đã thú thật hết với anh. Anh Huy, em trả lại cho anh cái tình cảm tội nghiệp đó, để em có thể thanh thản sống bên anh Tiến, từ giờ đến những giây phút cuối, để được nhìn thẳng vào mắt anh ấy mà không thấy ngại ngùng, để nếu không thể nào yêu anh ấy thì ít nhất em cũng không còn tơ tưởng đến ai khác nữa.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (giọng xa vắng): Cám ơn Ngộ Lan đã nói hết cho anh nghe. Anh nghĩ em vẫn có quyền hy vọng, có quyền tin tưởng vào phép lạ, để can đảm sống những ngày sắp tới. Anh nói những lời này không những dành cho Ngộ Lan mà còn dành cho chính anh. Một khi không còn hy vọng, không còn niềm tin vào bất cứ điều gì thì người ta cũng chẳng còn lý do gì để sinh tồn nữa…

Buổi chiều đang xuống dần bên ngoài những khung cửa sổ bệnh viện. Ngộ Lan nhắm mắt, không nói gì nữa. Người đàn ông đứng lóng ngóng một hồi, cuối cùng nhẹ nhàng đặt tay lên bờ vai của Ngộ Lan như để thay cho một lời từ biệt. Ông quay bước trở ra, bước chầm chậm từng bước chân vô định.


.

MÀN BỐN

Không gian: Nghĩa trang Lourmarin, làng Lourmarin, Provence, miền tây nam nước Pháp. Buổi tối, khoảng chín giờ.

Thời gian: Hai ngày sau hôm người đàn ông đi thăm Ngộ Lan ở Texas.

CẢNH DUY NHẤT

Người đàn ông ngồi trước mộ của nhà văn Albert Camus, sửa soạn buổi cầu cơ. Ông thắp nhang, khấn vái hồi lâu. Đoạn ông thắp nến rồi đặt tay vào con cơ đang nằm trên mặt bàn gỗ, miệng lâm râm đọc lời mời gọi. Con cơ bắt đầu chuyển động.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Xin chào nhà văn Camus. Tôi trở lại đây để xin hầu chuyện với ông một lần nữa.

CAMUS: Chào anh. Sau hai chuyến đi vừa qua, anh trở lại đây với tâm trạng như thế nào?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi cảm thấy như mình vừa tuột xuống một bờ dốc, không thoai thoải, mà gần như thẳng đứng! Tôi vừa ngoi trở lên được đây, nhưng đầu óc vẫn còn bàng hoàng, hoang mang, chếnh choáng…

CAMUS: Mọi sự diễn ra không đúng như anh dự kiến, phải không?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (lắc đầu ngao ngán): Hoàn toàn bất ngờ. Tôi ra đi với hình ảnh của vở kịch “Bờ Dốc” lởn vởn mãi trong tâm trí, thế mà cuối cùng nó lại trở thành điều vô nghĩa nhất sau hai chuyến đi đó.

CAMUS: Ở độ tuổi nào người ta cũng vẫn có thể gặp nhiều chuyện đáng ngạc nhiên như vậy.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Nếu cảm giác của tôi sau mỗi chuyến đi là một lần tuột dốc thẳm, thì cảm giác sau cùng lúc trở về là sự ngộ nhận về những thực tế quanh tôi.

CAMUS: (có lẽ đang cười thích thú): Về điều anh vừa thố lộ, tôi phải dùng tiếng Tây để nói: “Ça vous pouvez le dire!”.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Vở kịch của ông ám ảnh tôi trên đường trở về nhà, sau khi gặp lại Ngộ Lan. Ngày xưa, tôi thấy mình là cô Martha nổi loạn, muốn đạt đến mộng ước của mình bằng bạo lực, bằng những suy nghĩ xốc nổi của tuổi trẻ. Còn bây giờ, tôi lại thấy mình như nhân vật người đàn ông, quay về nhà với mẹ và em gái, những tưởng sẽ đem lại hạnh phúc vật chất cho hai người đàn bà mà anh ta thương yêu.

CAMUS: Anh và anh ta giống nhau ở chỗ nào?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Ở chỗ chúng tôi vừa khờ khạo, vừa ích kỷ. Anh Jan trong vở kịch của ông nghĩ rằng anh ta đang toan tính một việc hết sức vị tha, mà kỳ thực chỉ là một việc vô cùng vị kỷ. Như để thoả mãn một ước muốn tinh nghịch, tiềm tàng nào đó, thay vì nhận nhìn mẹ và em gái ngay từ ban đầu, anh ta lại vờ vịt bày ra trò chơi cút bắt, để phải đóng kịch, phải nói bóng nói gió, rồi cuối cùng tự đưa mình vào cái chết.

CAMUS: Còn anh thì sao?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi à? Tôi đã tìm đến với hai người đàn bà đó không phải vì thực lòng muốn ở bên họ trong những giờ phút cuối của họ, mà đáng hổ thẹn thay là vì lòng hiếu kỳ muốn tìm lại một điều gì đã mất của riêng mình. Chẳng khác gì anh Jan, tôi thấy mình đang trả một cái giá đắt đốm cho sự khờ khạo và ích kỷ của mình. Mỉa mai thay, bây giờ Hoàng Thuỷ mất rồi, Ngộ Lan đã quay lưng lại với tôi, và bỗng dưng tôi có một đứa con trai… giống như đâu từ trên trời rơi xuống!

CAMUS: Anh đã nói sự thật đó cho cậu ấy biết chưa?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi chưa nói, vì nghĩ con tôi không thể nào kham nổi hai cú sốc xảy ra cùng một lúc. Nó cần một thời gian để khóc thương mẹ nó trước đã. Vả chăng, ngồi trước mặt nhau để nói ra một điều như thế cũng không phải dễ dàng gì. Tôi định chờ một thời gian nữa rồi mới viết thư cho nó để nói về chuyện này.

CAMUS: Anh nghĩ là anh còn nhiều thời gian lắm à?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi không hiểu tại sao ông lại hỏi tôi câu đó. Cho dù tôi không còn nhiều thời gian, tôi nghĩ là mình vẫn có thể làm ít nhất là hai việc. Việc đầu tiên là liên lạc với con tôi, báo cho nó biết sự việc, để cha con chúng tôi tìm lại nhau.

CAMUS: Còn việc thứ hai?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tôi sẽ viết lại vở kịch “Bờ Dốc”. Tôi không cần bản thảo cũ nữa. Tôi vẫn còn nhớ rõ cốt truyện và những tình tiết của nó. Tôi sẽ làm nó trở thành một vở kịch hoàn chỉnh, lôi cuốn, dày dặn, sâu sắc…

CAMUS: Anh chỉ còn hai việc đó để làm thôi à? Còn nghề nghiệp, gia đình của anh thì sao?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (ra chiều nghĩ ngợi): Công việc của tôi ư? Ông nhắc tôi mới giật mình. Dạo sau này tôi bị cuốn hút vào những cuộc phiêu lưu kỳ lạ đến nỗi quên bẵng mất công việc của mình, không còn nhớ việc cuối cùng của mình là làm gì nữa. (Thở dài) Còn gia đình ư? Tôi có một cuộc hôn nhân không con cái. Bức tranh chưa trọn vẹn nên tôi không dám đặt tên nó là gia đình.

CAMUS: Anh chưa bao giờ nhắc đến vợ anh, người đàn bà thứ ba trong đời anh. Hiện giờ cô ấy ở đâu?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Ông làm tôi rối trí quá. Vợ tôi đang ở đâu nhỉ? Tôi không rõ nữa. Cô ấy không còn bên tôi hay tôi không còn bên cô ấy?

CAMUS: Một điều đơn giản như vậy anh cũng không biết được à? (Con cơ thình lình chạy càng lúc càng nhanh) Còn những ngày vừa qua của anh thì sao? Mấy chuyến đi xa của anh, anh còn nhớ được chi tiết nào về chúng không? Ví dụ như chuyến bay về Việt Nam của anh là của hãng nào? Hay từ chỗ anh ở đi qua Texas, anh đã đi bằng phương tiện gì? Rồi từ đó anh đi thẳng qua Pháp hay trở về nhà trước?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG (hai tay ôm lấy đầu): Tôi không biết! Tôi không nhớ gì hết. (Rên rỉ) Mọi thứ đều mờ mờ ảo ảo trong đầu tôi. Tâm trí tôi bây giờ vô cùng bấn loạn.

CAMUS (con cơ vẫn chạy vun vút): Ai đã chỉ đường cho anh đến ngôi làng Lourmarin này? Tới làng này, anh ngụ tại đâu? Mấy ngày nay anh đi lại, ăn uống, ngủ nghỉ ra sao? Anh có nói chuyện với người nào trong đám dân làng ở đây ngoài tôi ra chưa?

NGƯỜI ĐÀN ÔNG: Tại sao ông lại hỏi tôi về những điều đó? Tôi có cần làm những việc đó đâu cơ chứ? (Giọng thảng thốt) Ông đặt câu hỏi cho tôi dồn dập như thế để làm gì? Ông muốn ám chỉ điều gì đây? (Càng lúc càng hoảng loạn) Tại sao?… Tại sao?…

Người đàn ông buông thõng hai tay, toàn thân tê cứng lên, đồng thời bàng hoàng với ý thức đột ngột về một điều gì to tát lắm đang xảy ra với ông. Con cơ nằm sững trên cái bàn gỗ. Cây nến đã tắt ngúm tự bao giờ. Sương khuya dường như dày đặc, lạnh lẽo hơn. Tiếng côn trùng dường như da diết hơn. Khu nghĩa trang đột nhiên như bừng tỉnh dậy. Thình lình, chẳng biết người đàn ông có bị ảo giác hay không, nhưng rõ ràng là từ nhiều ngôi mộ chung quanh thoát ra những hình dạng mờ ảo, huyễn hoặc, bắt đầu di chuyển nhẹ nhàng, thanh thoát trong màn sương đêm. Những hình dạng đó nổi bật trên nền sương trắng, lướt vật vờ, im lặng, gần như theo nhịp điệu của tiếng côn trùng vẫn không ngưng rả rích.

Trời bỗng dưng trở gió mạnh. Từng luồng gió lốc xoáy khiến các hình dạng trong sương mù cũng xoay tròn thành một vòng lớn. Dần dần, vòng tròn của những hình nhân mờ ảo thu nhỏ lại, vây quanh người đàn ông. Mỗi bóng hình thay nhau tung ra về phía ông đang ngồi những trang giấy rời bay bay trong gió. Người đàn ông đứng bật dậy, đuổi bắt các tờ giấy. Ông chụp được tờ này, tờ khác lại vuột khỏi tay ông. Cứ thế, ông chạy loanh quanh, chụp bắt mãi những tờ giấy trắng. Gió thổi càng lúc càng mạnh. Các hình nhân quay tít trong sương mù, trong cơn gió lốc, trong tiếng côn trùng như cũng đang hối hả hòa theo điệu luân vũ trong bãi tha ma. Người đàn ông vẫn mải miết chạy vòng vòng đuổi bắt từng tờ giấy trắng bay chập chờn trong cơn gió xoáy.

MÀN TỪ TỪ HẠ


Trần C. Trí

bài đã đăng của Trần C. Trí

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)