Trang chính » Dịch Thuật, Dịch Thuật, Nhận Định, Sang Việt ngữ, Thơ Email bài này

Vài cảm nghĩ về bài thơ Travel của Nguyễn Tiến Hoàng (Thường Quán)

travel image Có một lần, trong một email về một chuyện nào đó, Thường Quán viết, đôi khi có cảm nghĩ rằng những biến chuyển trong một đời người xảy ra như những chuyện ngẫu nhiên; ngẫu nhiên như khi bào thai được tạo thành chỉ bởi một tinh trùng nhanh chân hơn hàng triệu triệu tinh trùng khác. Cái mầm ý tưởng đưa đến việc tôi dịch bài thơ “Travel” của Nguyễn Tiến Hoàng (NTH) có lẽ cũng khởi nguồn từ một sự ngẫu nhiên. damau đi bài này đầu năm 2007. Sau đó mấy tháng, một hôm tôi có hứng muốn dịch một bài thơ, nhớ đến NTH vì chưa dịch bài thơ nào của NTH cả. Tôi xem lại trên damau, thấy chỉ có “Travel” chưa được chuyển ngữ. Trong khi đó hầu hết những bài thơ nguyên bản Anh ngữ của NTH đăng trên damau đều đã được tác giả chuyển ngữ. Một sự ngẫu nhiên chăng?

Cái tin là bài “Travel” được Peter Rose biên tập và chọn để đăng trong tuyển tập Những Bài Thơ Úc Châu Hay Nhất (NBTUCHN) 2008 (Best Australian Poems 2008 – Black Inc) đối với tôi là một tin vui. Vì tôi rất thích bài “Travel.” Đây cũng không phải là lần đầu tiên thơ của NTH được đi trong các tuyển tập NBTUCHN. Bài “They” (Họ) cũng đã được đi trong tuyển tập NBTUCHN 2006, do nhà thơ Dorothy Porter biên tập.

Nhưng thế nào là một bài thơ hay để được bình chọn và đăng trong các tuyển tập NBTUCHN? Trong lời bạt cho tuyển tập 2008, Peter Rose viết là ông đã đọc khoảng hai ngàn bài thơ đăng tải trên các tạp chí in thơ văn Úc, và một số trang báo thơ văn Úc trên mạng, để chọn đăng 71 bài thơ. Về tiêu chuẩn chọn lựa ông viết trong lời bạt tuyển tập NBTUCHN 2008 như sau:

Bất kỳ ai đồng ý biên tập một tuyển tập những ‘sáng tác hay nhất trong năm’ đều biết rằng phương pháp lựa chọn rất đáng nực cười. Ngay cả cái ý nghĩ về việc hoàn thành một cuốn sách về những sáng tác hay nhất cũng đáng nghi ngờ: những giả dụ và dự tính đều đưa người có ý nghĩ này trở lại lớp học vỡ lòng đầu tiên đầy những trang trí màu mè nhem nhúa. Tôi là ai – chỉ là một nhà thơ đang hành nghề, với những thiên hướng riêng, những liên tưởng riêng, những ác cảm riêng – mà có quyền định phẩm sáng tác nào được coi là hay nhất? Tự mang vào người những cái đai thẩm quyền không thiên vị và toàn trí toàn thức thì thật là phi lý. (1)

Gần cuối bài bạt ông viết,

Tôi chú ý đến thi ca nào, nếu không phải là loại thi ca cá nhân thu gọn, thì chúng cần có lượng chuyển đạt cao, có tiếng vang cao và cởi mở khoáng tâm; loại thi ca từ chối không xử dụng ngôn ngữ viết tiểu thuyết, viết về đời sống hàng ngày, viết phóng sự hay viết phường tuồng (2)

Dựa trên những tiêu chuẩn này, bài thơ “Travel”, không phải là một tiểu thuyết, một phường tuồng, hay một phóng sự du ngoạn. Và lần đọc lại “Travel” lúc đó, đã đưa đến tôi nhiều ấn tượng…

Bất kỳ một cuộc hành trình nào, đều phải bắt đầu từ một khởi điểm, một nơi chốn, một thời điểm cố định. Khởi điểm của “Travel” thì bắt đầu từ một phương hướng, nửa cố định, nửa mơ hồ. East of the sea. Phía đông của biển. Vị trí của biển trên trái đất thì không ai chối cãi – đa số diện tích trái đất là nước là biển. East. Phía Đông. Rõ. Cố định. of the sea. của biển. Mơ hồ không rõ. Biển nào, ở đâu, Đông Hải, Địa Trung Hải, Hồng Hải? Đứng trên đất Việt, từ Huế, Saigon, Hà Nội hay Đà Nẵng, nơi cắt rún của NTH, nhìn về hướng đông của biển, qua biển Đông, và nếu ta có thiên lý nhãn thì ta sẽ thấy, nếu không phải là một phần đất trên đảo Hải Nam, thì là một hòn đảo Phi nào đó, chứ không phải là thành phố Istanbul, thủ đô xứ Thổ. Thế mà

East of the sea/Istanbul/three troupes of dogs/go hunting

Phía đông của biển từ Istanbul/ba bầy chó/đi săn

Istanbul, xứ Thổ Nhĩ Kỳ, xứ của Oman Parmuk, của “Tên Tôi Là Đỏ” (My Name Is Red), xứ của “Chuyến Tốc Hành Nửa Đêm” (Midnight Express), ở đó, khởi đầu, đột nhiên đã có ba bầy chó, ba đám khuyển cẩu, đi săn. Chúng đi săn thứ gì, tại sao lại đi săn ngay trong thành phố, nếu không phải là săn người. Kẻ nào đang bị săn đuổi? Những giòng chữ đầu này đã quyến rũ người đọc theo dõi như xem những đoạn phim gay cấn mở đầu những phim hành động 007 hay OSS117.

three troupes of dogs/go hunting/outside/a colonnade upended/with bust/

of a commissar/

ba bầy chó/đi săn/bên ngoài/những hàng cột, tận cùng/là nửa bức tượng/

một ủy viên chính trị/

Lại nữa cuộc hành trình mới mở đầu mà đã bế tắc, một ngõ cụt chận đứng đường chạy, tận cùng đường, là một ủy viên chính trị, dù đó chỉ là nửa bức tượng. Chưa hết, bên kia, đối mặt, hung hãn không kém là những ayatollas. Đằng sau, đương nhiên là ba bầy chó săn. Qua những câu thơ này, người đọc đã có thể bắt được một cái cảm giác căng thẳng…

Louise Bogan trong “Hoan Lạc của Thơ Hình Thức (The Pleasures of Formal Poetry)” viết,

“Chúng ta cứ nghĩ tới một số công việc nào đó, thì sẽ thấy chúng có nhịp điệu gắn bó. Gieo mạ, gặt lúa, đập lúa, giặt quần áo, chèo thuyền, và ngay cả việc vắt sữa bò đều theo nhịp điệu.”

“We think of certain tasks, the rhythm of which has become set. Sowing, reaping, threshing, washing clothes, rowing, and even milking cows go to rhythm.”

Nhịp điệu gắn bó căng thẳng ở đây có lẽ thuộc về môt hành động chạy trốn – chạy trốn cái gì, người đọc không cần biết rõ lý do, chỉ cần biết rằng cái lý do đó đủ nặng tội – để kẻ trốn chạy phải băng qua biển, từ Istanbul đất Thổ lạ lẫm trở về đến những phần đất quen thuộc hơn – closed corridor, Chinese quarter, a new year in/Cholon (những hành lang kín, khu người Minh Hương/ Chợ Lớn/chào năm mới). Cấu trúc bài thơ, phần lớn, là những câu thơ ngắn, đứt đoạn, để diễn tả cái nhịp điệu căng thẳng hồi hộp này.

“that is the trick”/you say/among columns of mouths,/red tongued/barking/keep

(“đấy là cái mẹo”/anh nói/giữa các cột giao hàng mở khẩu/lưỡi đánh bóng đỏ/rao to/chỉ để giữ chỗ)

Theo đuổi kẻ chạy trốn thì vẫn là bầy chó leave the money/leave/the dog will bark (để lại vài đồng bạc/để lại/chó chúng sẽ sủa). Ngay cả đến đoạn cuối bài thơ, bầy chó cũng còn có mặt ở câu đầu trong đoạn the darkest scent the dogs can’t trace (chó chúng không đánh được hơi mùi đậm thẫm). Trong khi đó, những câu thơ khác ở trong đoạn cuối bài lại diễn tả một nhịp điệu thanh thản, chậm rãi hơn, như thể cuối cùng kẻ trốn chạy đã thoát được nanh vuốt của bầy khuyển cẩu, có thời gian thung dung, ngắm sao đêm lóng lánh, ngắm trăng cuối mùa, thưởng thức thư họa, qua tiếng nhạc trầm bổng của những tiếng láy hợp âm.

Điều này có đúng không, ta không biết, vì cuối cùng, kẻ chạy trốn lại thấy east once again (lại chợt thấy mình đứng tại phương đông), biết đâu trở lại ngay cái vị trí khởi đầu của cuộc du chơi, ở Istanbulba bầy chó …

Đó chỉ là một cái hay của “Travel”, theo tôi.

Paul Auster có lần viết khi được hỏi là ông ta coi sáng tác nào của ông là hay nhất. Ông viết,

Mỗi sáng tác tự nó có tiếng nói của nó. Nếu không nó sẽ mất tiếng. Hãy để cho người đọc tự tìm đến những kết luận của họ. Đối với tôi, tôi ngồi trong bóng tối và lắng nghe tiếng chữ trong tôi. Tôi không biết chúng từ đâu tới. Tôi chưa từng biết, và cho đến ngày hôm nay, tôi tin là tôi sẽ không bao giờ biết. (3)

Người đọc, do đó, hãy đốt một ngọn đèn cầy, ngồi đọc và lắng nghe tiếng chữ của bài thơ và tự khám phá những điểm hay khác của “Travel” qua cái đọc bài thơ của riêng mình.

NDN

15/12/2008

(1) Anyone who agrees to edit an anthology of the year’s ‘best writing’ knows that there is something risible about the process. The thought of begetting a book of the best is dubious; the assumptions and expectations seem to take one back to one’s first gaudily decorated classroom. Who am I – a current practitioner at that, with my penchants, my associations, my aversions – to determine what is the best? How absurd to don these feudal chains of impartiality and omniscience. – Peter Rose – Introduction – The Best Australian Poems 2007 – Black Inc Books.

(2) I looked for poetry that is, if not reductively personal, then highly expressive and resonant and open-hearted; a poetry that refuses the language of fiction or life-writing or journalism or soap-operas. – Peter Rose – sđd.

(3) The work speaks for itself. Or else it doesn’t. Let the reader draw his own conclusions. As for me, I sit in the dark and listen to the words inside me. I don’t know where they come from. I never have, and by now I’m convinced I never will. – Paul Auster – This is My Best – Great Writers Share Their Favorite Work – edited by Retha Powers and Kathy Kiernan, Chronicle Book, 2005.

bài đã đăng của Nguyễn Đức Nguyên


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)