Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định, Tư Liệu Email bài này

ông đại sứ và ông tổng thống: nhìn lại cuộc đảo chánh 1-11-1963 tại sàigòn 60 năm trước (kỳ 2)

clip_image002

Phó Tổng Thống Mỹ Lyndon B. Johnson, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Đại Sứ Frederick Nolting, tại Dinh Độc Lập, Sàigòn, năm 1961


Kennedy bối rối về vấn đề VN

Tuy chính quyền mới của Mỹ không can dự gì tới cuộc đảo chánh 11-11-60, nhưng sự việc này cùng với thái độ hung hăng của Liên X ô thời Khrushchev trở thành một trong những quan tâm đầu tiên của Kennedy về VN.

Trước khi bàn giao chức vụ, Tổng Thống Eisenhower đã dựa vào chủ thuyết Domino, khuyên người kế nhiệm rằng, vị thế của Đông Dương rất quan trọng trong việc ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản, cho nên, cần phải giữ Lào bằng mọi giá. Nếu mất Lào, sẽ mất cả VN, trước khi mất toàn thể Đông Nam Á.

Mới nhậm chức chưa đầy ba tháng, Kennedy đã phải nếm mùi cay đắng đầu tiên qua vụ đổ bộ thất bại tại Vịnh Con Heo ở Cuba, ngày 17 tháng 4, 1961. Tuy vụ này được CIA hoạch định từ thời Eisenhower, nhưng Kennedy đồng ý cho thi hành, và lãnh đủ hậu quả trước dư luận. Rồi chỉ bốn tháng sau, lại phải đương đầu với vụ lãnh tụ Cộng Sản Đông Đức Ulbricht cho xây bức tường Bá Linh theo lệnh của Khrushchev. Sang năm 1962, vào 27 tháng Hai, Dinh Độc Lập ở Sàigòn bị dội bom, đến tháng 10, Kennedy lại phải trải qua một cuộc thử thách gay go hơn, lại do Khrushchev gây ra. Đó là vụ Liên Xô bí mật chở hoả tiễn có đầu đạn nguyên tử tới bố trí tại Cuba, chỉ cách lãnh thổ Hoa Kỳ khoảng một trăm dặm. Vụ này đã khiến cả thế gới căng thẳng tới nín thở trong vài tuần, trước viễn ảnh chiến tranh nguyên tử có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Cuối cùng, mọi người cũng thở phào khi nội vụ được giải quyết: hai bên nhượng bộ lẫn nhau, Liên Xô gỡ hoả tiễn ở Cuba mang về, và Mỹ dẹp cơ sở bố trí võ khí nguyên tử tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Trong khi ấy, về mặt quốc nội, bao nhiêu lời hứa tốt đẹp mở ra tại nước Mỹ một thời đại mới, như công bằng xã hội, nâng cao mức sống của người nghèo, xoá bỏ kỳ thị …, tất cả đều chưa được thực hiện như dự tính. Và quan trọng hơn cả, chẳng còn bao lâu nữa, đã phải lo tái tranh cử vào năm 1964.

Riêng về tình hình Nam VN, nếu dưới thời Eisenhower, ngày càng có vẻ khá hơn, một phần nhờ sự nhất trí ủng hộ của anh em John Foster và Allen Dulles; một người là Ngoại Trưởng rộng quyền và một người là Giám Đốc CIA, cùng với Hội Người Mỹ Bạn của VN, gồm toàn những nhân vật đầy thế lực; thì ngược lại, ngày càng xấu đi kể từ thời đại Kennedy, một phần vì tình trạng thiếu nhất trí trong chính quyền mới của Mỹ, và phần khác do Cộng Sản gia tăng hoạt động.

Một tháng trước ngày Kennedy nhậm chức, Hà nội cho ra đời tổ chức bình phong tại Miền Nam, gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTGP), vào ngày 20 tháng 12, 1960, cùng với việc mở đường mòn HCM trên lãnh thổ Lào. Rồi dưới mặt nạ là tổ chức MTGP, Cộng sản VN vừa gia tăng khủng bố tại Miền Nam, vừa rêu rao trước dư luận thế giới rằng, vì chế độ Ngô Đình Diệm bóc lột đàn áp, khiến nhân dân Miền Nam phải nổi dậy tự giải phóng. Thực trạng này khiến Tổng Thống Kennedy cùng lúc phải giải quyết hai vấn đề có vẻ đối nghịch nhau, một mặt cần giúp chính quyền Ngô Đình Diệm vững mạnh để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản, mặt khác cố ép một người rất cứng đầu và bảo thủ như ông Diệm mở rộng chính phủ để gia tăng sự ủng hộ trong dân chúng.

Đại sứ Frederick Nolting

Ngay sau khi nhậm chức, Kennedy được biết tới một nhân vật khá đặc biệt, là Edward Lansdale. Ông này từng hoạt động trong tổ chức tiền thân của CIA thời Thế Chiến Hai là OSS, rồi được cử tới Phi Luật Tân giúp Tổng Trưởng Quốc Phòng Ramon Magsaysay dẹp loạn quân Huk, trước khi giúp ông này thành Tổng Thống Phi. Năm sau, Đại Tá Lansdale được cử tới Sàigòn, trở thành bạn thân và giúp ông Diệm trong vụ thắng các phe phái chống đối vào năm 1955. Sau khi tình hình Nam VN tạm ổn định, thay vì mở rộng dân chủ để có được sự ủng hộ rộng rãi hơn, Lansdale thất vọng khi thấy ông Nhu dùng đảng Cần Lao như một công cụ để tăng thêm quyền lực, ông xin trở về Mỹ, mặc dù vẫn giữ cảm tình sâu đậm với ông Diệm. Sau khi Kennedy đắc cử, Lansdale, lúc này đã lên tướng, trở lại VN nghiên cứu tình hình; thăm cả những vùng hẻo lánh gần Cà Mau, nơi có nhiều Việt Cộng hoạt động. Trở về Mỹ, ông viết một bản tường trình về cách đối phó với chiến tranh du kích. Kennedy đọc, rất ưng ý, muốn đề cử Lansdale làm đại sứ tại Sàigòn. Nhưng, vốn là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, Ngoại Trưởng Dean Rusk phản đối, không muốn có một đại sứ điệp viên.

Tổng Thống Kennedy cử Frederick Nolting, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp tới Sàigòn vào tháng Năm, 1961, sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm tái đắc cử với tỉ lệ 90% vào tháng Tư. Trong cuộc phỏng vấn vào năm 1981, trả lời câu hỏi của Stanley Karnow, Đại Sứ Nolting cho biết, trước khi lên đường tới Sàigòn, ông đã được Tổng Thống Kennedy phác hoạ một hình ảnh nhiều khó khăn, tế nhị và thiếu ổn định tại đó.[Kennedy] muốn dùng VN như một cơ hội để chứng tỏ cho Khrushchev biết rằng, cái chủ trương bành trướng qua chiêu bài giải phóng của Cộng sản không có kết quả, rằng [Hoa kỳ] có thể giúp các nước quyết tâm đẩy lui kế hoạch của Cộng Sản. Kennedy cũng rất quan tâm liệu Tổng Thống Diệm có phải là nhân vật Mỹ có thể trông cậy không.

Đại Sứ Nolting cũng cho biết Tổng Thống Kennedy đã yêu cầu ông đánh giá về một chuyện đặc biệt. Đó là, sau ngày nhậm chức, ông đã cho thành lập một uỷ ban đặc nhiệm tìm hiểu về tình hình VN, và có nên trả lời Tổng Thống Diệm về chuyện yêu cầu gia tăng viện trợ không. Uỷ ban đã có đề nghị, và Tổng Thống Kennedy đã ủng hộ ý kiến giúp đỡ qua ngoại giao, về tinh thần và viện trợ vật chất, nhưng về sức mạnh quân sự để có thể đi đến thành công hay không, là phía người Việt phải tự lo.

Theo nhận xét của Đại Sứ Nolting, Tổng Thống Kennedy đã tỏ ra lạc quan về tình hình VN hơn Ngoại Trưởng Dean Rusk. Nolting kể là khi ông hỏi Ngoại Trưởng Rusk về nhiệm kỳ của ông tại Sàigòn sẽ kéo dài bao lâu, vì các con của ông có đứa sắp vào đại học, Rusk trả lời là bạn đừng lo, “nếu phái bộ của mình tại đó còn tồn tại thêm sáu tháng nữa, kể như may mắn lắm rồi”.

Trong một cuộc phỏng vấn khác vào năm sau, ngày 11 tháng 11, 1982, dành cho chương trình Oral Histories (Tài liệu truyền khẩu)  của Thư Viện Lyndon B. Johnson, mà người đặt câu hỏi là Ted Gittinger, Đại Sứ Nolting cho biết thêm nhiều chuyện đáng chú ý, trong mối liên hệ giữa phái bộ Mỹ và chính quyền ông Diệm. Chẳng hạn, ngay từ trước khi ông tới, đã có áp lực từ Mỹ muốn loại bỏ ông Nhu. Đồng thời, có nghi ngờ trong chính quyền ông Diệm là CIA có dính lứu tới cuộc đảo chánh hụt năm 1960, gây tình trạng khá căng thẳng. Do đấy, tân đại sứ được chỉ thị phải cố hoà giải, để gây tin tưởng rằng Mỹ vẫn gắn bó với Việt Nam.

Churchill của Á châu

Cố gắng gây tin tưởng ở VN được tăng cường bằng chuyến đi vội vã của Phó Tổng Thống Johnson và phu nhân, cùng một phái đoàn hùng hậu tới Sàigòn, sau khi tân Đại Sứ vừa tới được vài ngày. Tại đây, ông Diệm được Phó TT Mỹ đề cao là “Churchill của Á châu”, và cũng được so sánh với Franklin Roosevelt, nhờ thắng lớn trong cuộc tái cử vào tháng trước, với tỉ lệ đắc cử cao ngất. Trong khi ấy, các quan sát viên của Liên Hiệp Quốc thắc mắc, và đám ký giả ngoại quốc được dịp bàn tán rằng đó là dấu hiệu thiếu dân chủ.

Trong chuyến thăm này, Phó Tổng Thống Johnson trao cho ông Diệm văn thư của TT Kennedy gợi ý về việc gia tăng các phi vụ chống lại quân Cộng sản, cũng như tăng quân lực VN thêm 20,000 người. Johnson cũng thảo luận về yêu cầu của chính quyền Kennedy là ông Diệm nên mở rộng, cho đối lập trong nước và dân chúng được hưởng thêm tự do. Johnson không đề cập tới việc gửi quân Mỹ tới chiến đấu ở Việt Nam. Ông ấy cam đoan với ông Diệm là sẽ gửi máy bay trực thăng và phương tiện cần thiết cho việc tăng quân số của VN.

Vài ngày sau, các ông Diệm và Johnson có cuộc họp thứ nhì với nhiều tranh luận hơn. Ông Diệm nhấn mạnh Nam VN cần thêm 120,000 quân trên số 150,000 đã sẵn có, và không thể cáng đáng nổi. Johnson hỏi liệu ông Diệm có chấp nhận quân Mỹ chiến đấu không. Ông Diệm nói chỉ chấp nhận nếu nước ông bị tấn công, nhưng ông yêu cầu thêm nhân viên Mỹ để huấn luyện cho quân lực Việt Nam.

Trong cuốn sách viết bằng Anh ngữ, nhan đề Blind Design: Why America Lost the Vietnam War (Hoạch định mù quáng: Tại sao Mỹ thua cuộc Chiến Việt Nam), xuất bản năm 1996, cùng viết với Hà Mai Việt, Thiếu Tướng Hoàng Lạc kể một chuyện vào hồi sau chuyến thăm VN của Phó Tổng Thống Johnson: “Trong một chuyến tới Vịnh Cam Ranh, có kiến trúc sư Ngô Viết Thụ và tôi đi cùng, Diệm dùng cây gậy để chống, chỉ vào hải cảng và nói rằng, ‘Mỹ muốn chỗ này để họ làm căn cứ hải quân. Nhưng nếu chúng ta để họ làm, Hà nội sẽ có chính nghĩa để vận động dân chúng và có thêm hậu thuẫn chính trị chống lại chúng ta. Bắc Việt đang rêu rao rằng họ chống đế quốc Mỹ xâm lược. Do đó, tôi đề nghị với Phó Tổng Thống Johnson rằng, điều quan trọng là gia tăng giúp đỡ kinh tế và quân sự cho Việt Nam để chúng ta trở thành mạnh hơn, và có thể tự bảo vệ. Để võ trang một quân nhân Mỹ có thể tốn mười lần so với một người Việt. Hơn nữa, vấn đề mang binh sĩ Mỹ tới Việt Nam, đe dọa tính mạng của họ, sẽ tạo bất ổn trong dân chúng Mỹ. Tại nơi quá xa nhà, Mỹ không thể đánh và thắng trận chiến kéo dài’”(trang 142).

Sau khi anh em ông Diệm bị thảm sát, mẩu truyện trên đây đã được nhiều người Việt nhắc đi nhắc lại, dựa vào đấy để khẳng định rằng, Mỹ đã làm đảo chánh lật ông Diệm, chỉ vì ông đã không cho họ đem quân chiến đấu tới VN. Thật ra, đúng là đã có những nhân vật cao cấp trong chính quyền Kennedy từng đề nghị mang quân Mỹ tới chiến đấu ở VN, như cố vấn quân sự Maxwell Taylor, cố vấn an ninh Walt Rostow…, và có cả sự đồng ý của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, nhưng điều quan trọng là Tổng Thống Kennedy đã không có chủ trương, và không bao giờ chấp thuận đề nghị này.

Taylor-Rostow và đề nghị gửi quân

Theo Edward Lansdale, the Unquiet American (Edward Lansdale, người Mỹ không trầm lặng), xuất bản năm 1988, tác giả Cecil B. Currey kể: Vào tháng 10, 1961, Kennedy gửi cố vấn quân sự là Tướng Maxwell Taylor tới Sài Gòn để trực tiếp lượng định tình hình. Phái đoàn rời Washington ngày 17, ngoài Tướng Taylor còn cố vấn an ninh Walt Rostow, Tướng Lansdale và một số chuyên viên khác. Lansdale chỉ được coi là chuyên viên trong phái đoàn, không được dự trù có mặt trong thành phần họp với ông Diệm. Nhưng khi phái đoàn vừa tới Sài Gòn, Lansdale đã được mời đi thẳng từ phi trường tới Dinh Độc Lập họp riêng với anh em ông Diệm. Lansdale được ông Diệm cho biết ông vừa ban bố tình trạng khẩn trương để đối phó với trận lụt lớn ở miền Tây, và tình hình an ninh chung. Ông Diệm cũng hỏi thẳng Lansdale, liệu ông có thể tin tưởng vào chính quyền Kennedy không?

Hôm sau, 19 tháng 10, Taylor và Rostow họp với anh em ông Diệm trong bốn giờ. Ông Diệm than phiền không hiểu tại sao chính quyền Hoa Kỳ [thời Kennedy] chưa chính thức cam kết giúp đỡ nước ông, do đó ông lo ngại Hoa Kỳ có thể bỏ rơi Việt Nam. Ông Diệm không hề đề cập việc mang quân chiến đấu Mỹ tới Việt Nam. Nhưng chính Tướng Taylor nêu vấn đề này ra hỏi ông Diệm.

Trước khi rời Việt Nam, Taylor và Rostow có cuộc họp chót với ông Diệm. Taylor hỏi thẳng ông Diệm có muốn nhận một đạo quân của Mỹ tới như một “lực lượng cứu lụt”, gồm các nhân viên về y tế, thông tin, cơ khí, cùng với một số quân chiến đấu để bảo vệ an ninh cho họ. Ông Diệm đồng ý. Taylor đánh điện cho Tổng Thống Kennedy, đề nghị gửi một đạo quân từ sáu đến tám ngàn người. Trong khi dừng chân tại Baguio ở Philippines trên đường về Mỹ, Taylor gửi điện cho Tổng Thống Kennedy yêu cầu gửi ngay đạo quân này, coi như nỗ lực đóng góp với Nam VN để cứu lụt, đồng thời chặn đứng việc Cộng sản xâm lấn miền Nam.

Taylor cũng đề nghị Hoa Kỳ cứu xét việc ném bom Bắc Việt. Nhưng Ngoại Trưởng Dean Rusk không đồng ý. Ông nới với Tổng Thống Kennedy rằng, Hoa Kỳ không nên can dự về quân sự, cho đến khi ông Diệm chịu cải tổ về chính trị.

Ngược lại, đề nghị của Taylor được sự đồng ý của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara, Thứ Trưởng QP Gilpatrick, và Bộ Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff – JCS). Trong khi ủng hộ việc gửi quân, JCS cũng báo động rằng, lực lượng 8,000 người không có là bao, không đủ để làm thay đổi cán cân lực lượng, và khó tránh được việc gửi thêm quân.

Kennedy chống gửi quân

Trong báo cáo chính thức gửi cho Tổng Thống Kennedy ngày 03 tháng 11, 1961, Taylor đề nghị mang quân chiến đấu vào Việt Nam. Điều này khiến Tổng Thống Kennedy rất bối rối, vì từ đầu ông đã không muốn vậy. Nhưng nếu công luận biết có đề nghị này, mà ông từ chối, thì sẽ bị phe bảo thủ chỉ trích là quá mềm yếu trước Cộng sản. Vì thế, ông đã không công bố đề nghị của Taylor, liệt nó vào loại “tuyệt mật” (eyes only), trong khi nói với báo chí là Taylor không đề nghị gửi quân, và ông cũng ra quyết định ngày 11 tháng 11 là không gửi quân chiến đấu tới VN.

Theo sử gia Arthur Schlesinger Jr. viết trong Robert Kennedy and His Times, Tướng Taylor sau này nói rằng, khi nhận báo cáo của ông, “Tôi không nhớ có ai đã mạnh mẽ chống lại đề nghị gửi quân, trừ một người, và người đó là Tổng thống. Tổng Thống không muốn bị thuyết phục rằng đó là chuyện phải làm…. Đó chính là tin tưởng cá nhân của Tổng thống rằng, quân chiến đấu của Mỹ không nên vào [Việt Nam]”.

Vẫn theo ông Schlesinger Jr., ngay từ trước khi phái đoàn Taylor/Rostow đi Sài Gòn, Tổng Thống Kennedy đã kiếm được một đồng minh quan trọng, là tướng Douglas McArthur. Vị danh tướng từng đánh bại Nhật Bản và chặn đứng được làn sóng cộng quân tại Triều Tiên, ngay từ tháng Tư 1961, đã cả quyết với Tổng Thống Kennedy rằng sẽ là một sai lầm nếu chiến đấu tại Đông Nam Á. Và rằng “chúng ta sẽ điên khùng nếu đánh trên lục địa Á châu, và tương lai của Đông Nam Á nên được quyết định tại bàn hội nghị”. Quan điểm của Tướng McArthur đã hoàn toàn chinh phục Tổng Thống Kennedy, đến nỗi, sau này, nếu có ai bàn khác đi, [Kennedy] đều nói rằng: “Các anh hãy tới thuyết phục Tướng McArthur đi, rồi tôi sẽ chịu thuyết phục”.

Chống bỏ bom Bắc Việt

Trong cuộc phỏng vấn ngày 11 tháng 11, 1982, Đại Sứ Nolting cho biết, trong các đề nghị của phái đoàn Taylor-Rostow, ngoài các biện pháp giúp VN về mặt bình định và dân sinh, có hai đề nghị đã gây tranh cãi rất nhiều, và Tổng Thống Kenndy đã không chấp thuận. Một là đem quân chiến đấu tới VN, hai là trừng phạt miền Bắc, vì họ đã giúp quân nổi dậy ở miền Nam. Trước câu hỏi ông đại sứ có được tham khảo ý kiến về các đề nghị của phái đoàn không, Nolting trả lời về các đề nghị khác thì ông có cộng tác và hoàn toàn đồng ý. Nhưng ông không được biết về đề nghị mang công binh và quân chiến đấu tới, vì đề nghị này đã được hai ông Taylor-Rostow thêm vào, sau khi rời VN. Trên đường về Mỹ, tại Baguio (Phi Luật Tân) họ thêm khoản này vào, và khi biết được, Nolting đã bày tỏ ý kiến bất đồng.

Ông không đồng ý, vì một xác tín đã từng nói với nhiều người, và đặc biệt với Tổng thống Diệm, là sự tham dự của quân chiến đấu Mỹ sẽ đưa tới chuyện quân đội Việt Nam và dân chúng VN phó thác trách nhiệm trên vai người Mỹ được coi là mạnh và trang bị đầy đủ hơn nhiều. Diệm không thích điều đó, “Nếu chúng tôi không thể thắng cuộc tranh đấu này bởi chính chúng tôi, với nhân lực của chúng tôi nhưng với sự hỗ trợ quý báu của các bạn [chỉ] về vật liệu và cố vấn, nó sẽ không còn là một chiến thắng có thể đạt được”. Đó là một lý do mà ông Diệm không chấp nhận quân chiến đấu Mỹ.

Theo Nolting thì đề nghị của Taylor-Rostow gửi quân giúp lụt cũng là kiểu nguỵ trang mong manh. Lụt ở lưu vực sông Cửu Long năm nào chả có, đâu phải chuyện bất thường. Mang quân chiến đấu Mỹ tới, trái với Hiệp Định Genève 1954, sẽ gây tranh cãi quốc tế về chuyện phía nào vi phạm. Cho đến lúc ấy, rõ ràng miền Bắc là kẻ vi phạm nhiều nhất, nếu không phải là duy nhất.

Đại sứ Nolting cũng không chấp nhận việc trả đũa miền Bắc. Ông cho biết đang có những chiến dịch phá hoại miền Bắc, hầu hết do CIA bảo trợ, như bỏ bom hay thả biệt kích người Việt tới phá hoại những cơ sở của miền Bắc dùng để chống lại miền Nam. Hầu hết không có kết quả và phần lớn phản tác dụng. Thiệt hại thực sự đáng kể là về phía những người Nam Việt Nam can trường; họ được thả xuống, bị bắt ngay trước khi có thể làm gì.

Nolting và vụ Phật Giáo

Được hỏi về vụ khủng hoảng Phật Giáo tháng Năm 1963, Nolting than: Thật đáng tiếc, đó là một trong những lỗi lầm lớn của tôi, bất hạnh lớn. Ông nói, khi nội vụ nổ ra ở Huế, gia đình ông đã có sẵn dự tính một chuyến nghỉ hè từ trước mà cứ phải hoãn mãi. Đợi hai tuần, thấy mọi chuyện tương đối yên tĩnh, ông bà cùng hai con nhỏ đã lên đường vào ngày 23 tháng Năm để gặp hai con lớn ở Hy Lạp, ngừng tham khảo thường xuyên với Washington. Chính trong thời gian này, chuyện lớn bùng nổ ở Việt Nam. Lớn nhất là vụ tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức ở Sàigòn, cùng với những xáo trộn ở nhiều nơi. Quá trễ cho ông có thể làm gì, khi sự việc đã vượt khỏi tầm tay. Ông sẽ không bao giờ ngừng oán trách Bộ Ngoại Giao và người phụ tá ông ở Sàigòn, bởi cả hai nơi đều biết rõ ông ở đâu từng ngày và có thể báo cho ông biết, nếu họ muốn ông trở về đóng vai trò người trung gian hoà giải, điều ông nghĩ mình có thể làm được.

Được hỏi tại sao họ không báo cho ông? Không cần giấu diếm, Nolting nói thẳng là, theo ông, nhân vật chính đảm trách vụ này ở Bộ Ngoại Giao là Averell Harriman đã không muốn cho ông quay về, chỉ vì Nolting đã tin rằng Tổng Thống Diệm là người tốt nhất để bảo toàn lợi ích của Mỹ. “Tôi nghĩ [Harriman] muốn tôi ở ngoài VN để Diệm có đủ giây thừng mà tự treo cổ”. Ông nói, ông Diệm đã làm nhiều sai lầm mà [nếu có mặt ở Sàigòn] ông đã có thể giúp để tránh được.

Gittinger hỏi: – Liệu ông đã có thể cố vấn cho Diệm hoà giải với Phật Giáo không?

Nolting đáp: – Được, được. Chắc chắn, bởi vì lúc đầu, lãnh đạo Phật Giáo chưa nằm trong tay Thích Trí Quang, người mà theo tôi là Cộng sản, và sau này Tổng Thống Thiệu cũng cho là như vậy. Ở cao điểm của cuộc nổi loạn vào cuối năm 1963, ông ta đã được vinh danh tại đất nước này (Mỹ) như là người nêu cao quyền của Phật Giáo, được [Henry Cabot] Lodge cho tị nạn tại Toà Đại Sứ Mỹ.

Đại Sứ Nolting đã nhắc tới một uỷ ban hỗn hợp, gồm Uỷ Ban Liên Bộ bên Chính Phủ và Uỷ Ban Liên Phái đại diện Phật Giáo đã gặp nhau thảo luận, đi đến một Thông Cáo Chung. Tưởng mọi chuyện đã được giải quyết êm đẹp. Rồi bỗng nhiên, tranh đấu bùng nổ trở lại, theo ông, khi phong trào tranh đấu lọt vào tay những phần tử mà mục tiêu duy nhất của họ là lật đổ chính quyền.

Được hỏi cuộc tấn công Chùa có vai trò gì trong vụ này, Nolting trả lời là nó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với chính quyền Hoa Kỳ. Ông cho biết ông Lodge và ông đã biết tin này khoảng 20 tháng 8, khi gặp nhau để trao đổi ý kiến tại Honolulu; một người trên đường tới Sài gòn, một người về Mỹ.

Trước yêu cầu cho biết cảm tưởng về tin này, ông trả lời; Tôi bị sốc như những người khác, vì hành động chót của tôi đã làm ở Sàigòn, theo yêu cầu của Bộ Ngoại Giao, là nói với ông Diệm ra tuyên bố rằng ông ấy sẽ cố gắng hoà giải với Phật Giáo. Và ông ấy đã đồng ý. Nhưng kiểu phát biểu của ông ấy thì có vẻ bí hiểm, không như sự mong mỏi của người Mỹ. Ông Diệm nói: “Chính sách của tôi trong việc hoà giải với Phật Giáo là không thể đảo ngược”. Điều ông ấy muốn nói, chỉ là, tôi vẫn chủ trương hoà giải, chẳng bao giờ đàn áp tôn giáo, và điều đó không thể lật ngược.

Đại Sứ Nolting cho biết, sau vụ tấn công Chùa, từ Honolulu, ông đã gửi cho ông Diệm một điện tín cá nhân, nguyên văn: “This is the first time that you’ve ever gone back on your word to me” (Đây là lần đầu tiên ông đã không giữ lời hứa của ông dành cho tôi). Nolting cho biết ông vô cùng ân hận đã gửi điện tín đó. Sau này, ông đã gặp lại Nguyễn Đình Thuần (từng là Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống) ở Paris. Ông này nhớ có nhận được điện tín, đưa cho Tổng Thống, và Tổng Thống đã đọc, lắc đầu, và nói: “Ông ấy không biết được sự khiêu khích”.

Được yêu cầu giải thích về chuyện khiêu khích, Nolting nói: Khiêu khích là tiếp tục tích trữ võ khí tại chùa Xá Lợi và các chùa khác, tiếp tục nổi loạn đòi lật đổ chính quyền–không phải là một thay đổi trong chính quyền, mà là lật đổ chính quyền—và phía Thích Trí Quang cùng phe phái hiếu động hoàn toàn không chịu thoả hiệp về bất cứ điều gì.

Ngoại giao chuyên nghiệp

Được hỏi: Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, báo chí đã nói về một niềm vui mừng rộng lớn, biểu lộ qua những cuộc biểu tình tự phát trên đường phố Sàigòn, làm thế nào để chuyện này phù hợp với điều ông tin rằng, nói chung, đa số dân Việt chấp nhận ông Diệm?

Nolting trả lời: Điều này khó thật. Tôi không tin rằng đa số dân Việt, ngay cả đa số dân Sàigòn đã vui mừng trước sự kiện này. Ngược lại, tôi nghĩ đa số đã bị sốc, và chỉ có những người nóng nảy đã khuấy động mà tôi không biết rõ thành phần nào, nhưng chắc chắn một số là Việt Cộng hay có cảm tình với Việt Cộng, đã có hành động này.

Nolting cho biết, trong thời gian ở VN, ngoài ông bà Nhu, là những người không được lòng dân và thường hay bị lời ra tiếng vào, ông chưa hề nghe thấy lời chống đối nào nhắm vào Tổng Thống Diệm. Chưa từng nghe ai tố cáo ông Diệm bất công hay độc ác. Ông đã từng nghe có người nói một số chính sách của ông Diệm không tốt lắm, nhưng về mặt uy tín và tiếng tốt qua sự thành tâm cũng như cố gắng lo cho dân, tôi chưa bao giờ nghe một tiếng phàn nàn về ông ấy, trừ hai ngoại lệ. Chuyện này liên hệ tới hai tướng Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim, xảy ra tại nhà ông.

Nolting kể: Họ là anh em vợ. Ngồi trên ghế bành sau bữa ăn tối, họ đề cập tới ông Diệm, và nói ông ấy không đáng làm nguyên thủ của quốc gia. Họ nói ông ấy thiếu khả năng, và điều này bắt nguồn từ cảm tưởng của họ là ông ấy can thiệp quá nhiều vào lãnh vực quân sự. Họ không thoả mãn với cách đối phó với chiến tranh. Nhưng họ còn đi xa hơn khi nói rằng ông Diệm thực sự không phải là người tốt, rằng ông ấy có nhân cách tồi. Một người thiếu khả năng, không tốt, một lãnh tụ chính trị xấu, đại loại là như thế.

Nolting nói, nghe những điều đó khiến ông bị sốc. Ông đã nói với họ rằng: “Thưa quý vị, các ông là khách của tôi, và tôi là một nhà ngoại giao được chính thức gửi tới chính quyền một nước mà người đứng đầu là Tổng thống của các ông, một người đã được chọn qua bầu cử. Các ông có thể ứng cử Tổng thống kỳ tới. Đừng nói với chúng tôi về chuyện nổi loạn hay hỗ trợ nổi loạn. Tại sao các ông không làm phận sự của những quân nhân? Nước Mỹ sẽ không can dự vào vấn đề đảo chánh”.

Đại Sứ Nolting cho biết, chính Tổng Thống Kennedy đã hai lần hứa với Tổng Thống Diệm vào hai dịp khác nhau, là không can thiệp vào chuyện nội bộ của Nam Việt Nam.

Frederick Nolting đã biểu lộ khí phách của một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Cuối cùng, Kennedy đã thay thế ông bằng một nhà ngoại giao chính trị.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Đinh Từ Thức

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)