Trang chính » Lịch Sử, Nghiên Cứu, Nhận Định, Phụ Nữ & Giới Tính Email bài này

RBG, người nhỏ bé vĩ đại (Phần 1)

 

clip_image002
(hình của Sebastian Kim / August 2020 –The New Yorker)

 

Nặng trên dưới 40 ký, cao chưa tới 1,6 mét, ra đời năm 1933, giữa cuộc đại suy thoái về kinh tế, là phụ nữ thuộc một gia đình bình thường, sống trong xã hội Mỹ vào giữa thế kỷ trước, Ruth Bader Ginsburg (RBG) là một người nhỏ bé, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nhưng khi nằm xuống vào ngày 18 tháng 9, 2020, di sản lịch sử của bà là của một nhân vật vĩ đại.

Đầu ngành Tư Pháp, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện Mỹ John Roberts thông báo tin buồn: “Đất nước chúng ta đã mất một thẩm phán có tầm vóc lịch sử. Chúng tôi ở Tối Cao Pháp Viện (TCPV) đã mất một đồng nghiệp trân quý. Hôm nay chúng tôi để tang, nhưng với tin tưởng rằng những thế hệ tương lai sẽ nhớ Ruth Bader Ginsburg như chúng tôi đã biết bà – một thẩm phán không mệt mỏi và cương quyết vô địch.”

RBG sinh năm 1933, thọ 87 tuổi, suốt đời tranh đấu cho công lý và bình đẳng nam nữ, từ chức vụ thư ký Sở An Ninh Xã hội, luật sư phụ tá, giáo sư, thẩm phán liên bang, và cuối cùng, phục vụ với tư cách là thẩm phán phụ nữ thứ nhì của lịch sử TCPV trong 27 năm. Một con người nhỏ bé, khiêm nhượng về hình thức, nhưng nhờ thông minh, cương trực, chịu khó, và qua những kinh nghiệm bất công từ thực tế phũ phàng, bà đã tạo được thành tích khổng lồ, không riêng cho cá nhân mình, mà ảnh hưởng tới mọi người.

Đầu ngành Hành Pháp, Tổng Thống Trump, khi biết tin bà qua đời, đã thốt lên: “She led an amazing life. What else can you say? She was an amazing woman, whether you agree or not. She was an amazing woman who led an amazing life.”(Bà đã sống một cuộc đời đáng kinh ngạc. Bạn có thể nói gì khác? Bà đã là một phụ nữ đáng kinh ngạc, dù bạn có đồng ý hay không. Bà đã là một phụ nữ đáng kinh ngạc sống một cuộc đời đáng kinh ngạc). Một người có thói quen khen mình hơn khen người, vốn liếng chữ nghĩa thóa mạ của Tổng Thống Trump coi bộ phong phú hơn là lúc ông khen người khác. Ông chỉ nhắc đi nhắc lại một tiếng “amazing” để nói về cuộc đời và sự nghiệp của bà Ginsburg. Từ này, theo nghĩa thông thường là “kinh ngạc,” nhưng muốn dịch sát nghĩa sang tiếng Việt, có hai chữ thông dụng và rất đáng yêu của đất Thần Kinh Huế, là “dể sợ.” Nói “dễ sợ” là không đúng. Phải nói dể sợ (dấu hỏi). Đẹp dể sợ, hay dể sợ, thành công dể sợ… kể cả ác dể sợ, ngu dể sợ. Với ông Trump, tuyên bố về bà Ginsburg như vậy, coi như đã là ngoại lệ. Bởi ông từng bị bà chỉ trích là faker (kẻ láo khoét) trước cuộc bầu cử năm 2016 và nói với báo New York Times rằng: “Tôi không thể tưởng tượng đất nước này sẽ ra sao nếu Donald Trump là tổng thống của chúng ta.” (I can’t imagine what the country would be with Donald Trump as our president). Thực tế bốn năm qua chứng tỏ, nhận định và băn khoăn của bà không sai, nhưng sau đó, bà đã vội vàng xin lỗi về phát biểu ngoài chuẩn mực của mình.

Các cựu tổng thống Mỹ còn sống, Obama, Clinton, Carter thuộc đảng Dân Chủ, kể cả Bush thuộc đảng Cộng Hoà – mặc dù bà chống lại phán quyết của TCPV cho ông đắc cử năm 2000–đều nhiệt liệt ca ngợi sự nghiệp của bà.

Phía Lập Pháp, tình trạng chia rẽ chẳng những tồn tại, còn tăng mạnh nhân cái chết của bà Ginsburg. Phía Cộng Hòa chạy nước rút cố dành thêm một ghế bảo thủ tại TCPV. Phía Dân Chủ cố gắng hết sức để ngăn lại. Thay vì “được an nghỉ trong thái bình,” dù tạm thời trong thời gian để tang, sự ra đi của bà khiến cuộc xung đột bỗng nhiên sôi nổi. Ngay cả ước nguyện cuối cùng của bà cũng gây lời qua tiếng lại ở cấp cao nhất.

Trước khi qua đời, bà đọc cho cháu gái ghi lại ước vọng cuối cùng của mình: “my most fervent wish is that I will not be replaced until a new president is installed,” (Mong ước nhiệt thành nhất của tôi là tôi sẽ không bị thay thế cho đến khi tổng thống mới nhậm chức).

Sau khi tuyên bố vào tối Thứ Sáu 18 tháng 9, rằng bà Ginsburg là một phụ nữ dể sợ, đã sống một cuộc đời dể sợ, và sau khi biết được ước vọng cuối cùng của bà, Tổng Thống Trump đã lên Fox & Friends, cho nổ một trái bom gây hoang mang dư luận vào Thứ Hai 21 tháng 9, khi tang lễ chính thức chưa bắt đầu. Ông nói: “I don’t know that she said that, or if that was written out by Adam Schiff, and Schumer and Pelosi,” và rằng, “That came out of the wind. It sounds so beautiful, but that sounds like a Schumer deal, or maybe Pelosi or Shifty Schiff,” (Tôi không biết bà ấy nói thế, biết đâu lời đó đã được Adam Schiff, Schumer, và Pelosi viết ra. Nó như trên trời rớt xuống. Nó là những lời lẽ coi bộ đẹp đẽ, nhưng chắc là chuyện thương lượng của Schumer hay có thể của Pelosi hoặc tên Schiff gian trá). Cả ba người này là các dân cử cao cấp thuộc đảng Dân Chủ ở Quốc Hội; Schumer là trưởng khối thiểu số Thượng Viện, Pelosi là Chủ Tịch Hạ Viện, Schiff là Chủ Tịch Uỷ Ban Tư Pháp Hạ Viện.

Theo bài báo của hai phóng viên Glenn Thrush và Kevin Roose trên New York Times, sau trái bom hoài nghi trên Fox, phe phò Trump đã rộn ràng tung tin vô căn cứ trên Twitter, rằng bà Ginsburg đã đọc cho cháu gái 8 tuổi viết ước nguyện cuối cùng. Thật ra, bà Nina Totenberg của Đài Phát Thanh National Public Radio (NPR) đã xác nhận với chứng cớ: Người ghi lại di ước là cháu ngoại gái Clara Spera, luật sư, đã tốt nghiệp trường Luật Harvard từ năm 2017. Khi viết có sự chứng kiến của bác sĩ và những người khác.

Dân Biểu Schiff đã đáp lễ Tổng Thống Trump trên Twitter: “Thưa Tổng Thống, đây là chuyện ‘chơi bẩn.’ Ngay cả đối với ông.” (“Mr. President, this is low. Even for you”).

Mất mát đầu đời

Ngay từ thời niên thiếu, Ruth đã trải qua những mất mát không thể bù đắp trong gia đình. Nhà có hai chị em, nhưng em gái mất khi mới 6 tuổi. Không được học trường tư danh tiếng như con nhà giầu, Ruth học trường công, rất xuất sắc trong việc học, cũng như trong các sinh hoạt học đường; cô đóng vai baton twirler, là người múa gậy dẫn đầu đội kèn nhà trường khi diễn hành. Rồi đến mẹ, Celia Bader, người được Ruth coi là thông minh nhất mà cô được biết trong đời, cũng là lực đẩy của Ruth, đã qua đời vì ung thư hôm trước ngày cô tốt nghiệp trung học, khiến cô không có mặt trong ngày lễ ra trường đầu tiên.

Nhờ học giỏi, 17 tuổi Ruth đã được học bổng toàn phần tại đại học danh tiếng Cornell. Theo nhà báo Nina Totenberg của NPR–người bạn thân suốt nửa thế kỷ–khi Ruth bị sách nhiễu tình dục tại Cornell, thay vì câm nín chịu đựng, cô sinh viên 19 tuổi đã nhìn thẳng mặt vị giáo sư sàm sỡ tấn công mình, giận dữ: “How dare you, how dare you!” (Sao dám làm vậy, sao dám làm vậy!) Tuy nhỏ bé, cô chẳng sợ ai.

Cũng tại Cornell, Ruth đã gặp Martin (Marty) Ginsburg, cả hai cùng học giỏi. Chàng hơn nàng một tuổi. Họ thành vợ chồng sau khi tốt nghiệp năm 1954. Quan niệm chung của nhiều thanh niên ở thế kỷ trước là một phụ nữ đẹp thường kém thông minh. “Điều khiến Marty vô cùng hấp dẫn, là anh ấy chú ý tới trí óc tôi.” (“What made Marty so overwhelmingly attractive to me was that he cared that I had a brain“), theo lời kể của Ruth.

Sau khi thành hôn, Ruth theo chồng tới sống ở Fort Sill, Oklahoma, nơi Marty bị động viên và làm việc ở đó. Chồng đi lính, vợ phải kiếm việc để tăng quỹ gia đình. Mặc dù đậu cao khi ra trường, và đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển nhân viên của Sở An Sinh Xã Hội mà đáng lẽ phải được mướn ở Ngạch 5, Ruth, vì đã cho sở biết là bà có thai, đã bị đánh sụt điểm nhận việc xuống Ngạch 2, rồi chỉ được mướn qua chức thư ký đánh máy “do công việc này tránh cho nhân viên mang bầu phải đi công tác xa gia đình.”

clip_image004

Cặp uyên ương: Ruth và tân binh quân dịch Marty tại Fort Sill, Oklahoma
(Hình từ bộ sưu tập của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ)

Hai năm sau, Marty mãn hạn quân dịch, cả hai trở lại miền Đông học luật ở Harvard, ngôi trường danh tiếng nhất thế giới, nhưng vào giữa thế kỷ trước, phụ nữ vẫn bị coi thường ở đây. Trong lớp hơn 500 sinh viên, chỉ có 9 phụ nữ, kể cả Ruth. Một hôm, vị khoa trưởng họp cả chín cô lại, yêu cầu mỗi người trả lời câu hỏi: Cô chứng minh thế nào khi lấy chỗ đáng lẽ dành cho phái nam? Ruth, mặc dù xuất sắc hơn chồng, đã khiêm tốn trả lời theo đúng ngôn ngữ vợ hiền: Vì chồng tôi là luật sư, tôi học luật để giúp đỡ và có sự hiểu biết về sự nghiệp của anh ấy.

Theo tờ báo Crimson của Harvard ngày 23 tháng Bảy, 1993, trong cuộc điều trần trước Uỷ Ban Tư Pháp Thượng Viện để được chuẩn thuận làm Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện, Ruth Bader Ginsburg nói rằng cách đối xử bất bình đẳng mà trường Luật Harvard dành cho phụ nữ — như nữ sinh viên không được vào thư viện Lamont, khách phụ nữ không được mời dự tiệc của Harvard Law Review, và nữ sinh viên không được cấp nơi ở tại ký túc xá trường Luật — thời bà theo học ở đó từ 1956 đến 1958, đã khiến bà dùng sự nghiệp của mình đẩ phá vỡ rào cản trên đường tiến thân của phụ nữ trong xã hội.

Ba điều bất lợi

Tại Harvard, Marty học trước vợ một lớp. Vào năm chót của Marty, cũng là năm thứ nhì của Ruth, cả hai vợ chồng cùng bận học, thêm việc chăm con nhỏ, bỗng nhiên tai nạn ập tới. Thay vì chuẩn bị tốt nghiệp, Marty phải đương đầu với bệnh ung thư dịch hoàn (testicular cancer). Giải phẫu rồi chạy điện, Marty trở thành bệnh nhân tại nhà. Ngoài việc săn sóc và nuôi chồng bệnh hoạn, Ruth còn phải lo cho đứa con ba tuổi, tới lớp học của mình hàng ngày, và phụ trách công việc của Harvard Law Review–một tập san bình phẩm pháp lý danh tiếng của trường Luật. Điều này không do Ruth tự kể, mà do chính Marty nói với đài phát thanh NPR trong cuộc phỏng vấn năm 1993.

clip_image006

Cùng với việc học, Ruth phải săn sóc chồng bệnh Marty và nuôi con gái Jane
(Hình tử bộ sưu tập của TCPV)

Theo lời Ruth viết năm 2016 về kinh nghiệm vừa nuôi con vừa tác vụ nghề nghiệp của mình, được báo People ghi lại, và qua phỏng vấn với NPR năm 1993, người ta có thể biết được hoạt động của Ruth trong một ngày: “Tôi đến lớp và làm việc chăm chỉ cho đến 4 giờ chiều; những giờ kế tiếp là của bé Jane, ra công viên, làm trò hay hát hò vui đùa với bé, xem sách họa hình hay đọc thơ A.A. Milne dành cho trẻ em, rồi tắm và cho bé ăn.”

Thời gian chồng bị bệnh này, theo lời Ruth, công việc quá nhiều, đến nỗi giấc ngủ chỉ là niềm mơ ước. Sau khi được ăn trễ vào buổi tối, Marty đọc cho vợ viết lại bài vở năm chót từ ghi chép nhờ các bạn lấy cho ở lớp. Khoảng 2 giờ sáng, Ruth bắt đầu cầm tới sách học, sửa soạn cho bài vở của mình hôm sau.

Những cố gắng phi thường này đã được đền bù, Marty khỏi bệnh, vẫn tốt nghiệp cùng khóa, không bị trễ, và kiếm được việc ở New York. Ruth lại bồng con theo chồng, và học năm chót ở Columbia. Dù đã học hai năm đầu với điểm cao, và chuyển trường có lý do chính đáng, Ruth không được phép tốt nghiệp ở trường cũ với văn bằng Harvard. Sau đó bà tốt nghiệp thủ khoa ở Columbia. Sau này, Harvard thay đổi, cho sinh viên trong hoàn cảnh tương tự như Ruth được tốt nghiệp với văn bằng của Harvard. Dịp này, Marty viết thư cho khoa trưởng Luật Harvard, kể rằng, anh đã hỏi vợ có muốn đổi bằng của Columbia lấy bằng của Harvard không, nhưng Ruth chỉ cười. Khi đã nổi tiếng, Ruth cũng vui vẻ nhận một Tiến Sĩ Danh Dự từ Harvard.

Mặc dù ra trường hàng đầu từ một đại học danh tiếng, Ruth Ginsburg không thể kiếm được việc làm trong ngành luật tại New York. Nộp đơn mong được tuyển làm luật sư phụ tá (Supreme Court clerkship)[1] cho Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Felix Frankfurter, tuy với giấy giới thiệu rất tốt, Ruth không hề được gọi phỏng vấn. Người mẹ trẻ đủ thông minh nhận ra ba trở ngại đầu đời: phụ nữ, làm mẹ, và gốc Do Thái.

Đường tới thành công

Theo lời kể cùa Nina Totenberg, cuối cùng, giáo sư bảo trợ Gerald Gunther đã kiếm được cho Ruth Ginsburg chức luật sư phụ tá với Thẩm Phán Edmund Palmieri ở New York, với lời hứa nếu Ruth không làm được việc, ông sẽ thay thế bằng người khác. Theo Ruth Ginsburg, đây chỉ là “củ cà rốt.” Còn “cây gậy” là lời đe dọa đi kèm, nếu ông Toà Palmieri không chịu nhận Ruth, từ nay Giáo sư Gunther sẽ không bao giờ giới thiệu ai nữa. Kết quả là chức vị phụ tá thường chỉ có nhiệm kỳ là một năm, Ruth đã được giữ lại tới hai năm, từ 1959 đến 1961.

Chặng kế tiếp, Ruth Ginsburg được nhận cộng tác với Anders Bruzelius, một học giả chuyên về luật tranh tụng dân sự Thuỵ Điển (Swedish civil procedure) và cùng với ông này viết một cuốn sách, qua dự án của trường Luật Columbia về Luật Tố Tụng Quôc Tế. Ruth phải học tiếng Thuỵ Điển và sang nước này làm việc tại chỗ.

Trở về Mỹ, năm 1963, Ruth Ginsburg kiếm được chỗ dậy tại Rutgers Law School. Do kinh nghiệm quá khứ bị nhận việc xuống ngạch vì mang bầu, tại đây, cô giáo dậy luật 30 tuổi có lúc đã phải mượn áo mẹ chồng mặc để che cái bầu mới, đợi sau khi khế ước được tái tục mới cho lộ dạng. Bé trai ra đời sau chị Jane cả chục năm, trong thời gian này, bố bị ung thư dịch hoàn, rồi mẹ phải làm việc ở nước ngoài. Đứa con thứ nhì ra đời như một gói quà bất ngờ, và bác sĩ đã hỏi Ruth: Bà có thể cho biết cha đứa bé là ai? (Nhà báo Totenberg cho biết, James giống hệt bố Marty). Năm 1969, James bắt đầu học mẫu giáo, mẹ được thăng chức giáo sư chính thức tại Rudgers.

Từ đại học Rutgers, Ruth Ginsburg bắt đầu cuộc hành trình vận động bình đẳng nam nữ, bằng cách tình nguyện làm việc với A.C.L.U (Liên Đoàn Tự Do Dân Sự Mỹ – American Civil Liberties Union), và đồng sáng lập Dự Án Nữ Quyền (Woman’s Rights Project).

David nữ đấu Goliath nam

Trong một xã hội còn nặng đầu óc kỳ thị nam nữ, một người nữ nhỏ bé đơn độc như Ruth Ginsburg, làm thế nào để thắng đối phương là cả một tập thể nam giới khổng lồ? Nhất là trên lãnh vực pháp luật, nơi tất cả các cứ điểm quan trọng đều nằm trong tay nam giới. Văn kiện quan trọng nhất trong lãnh vực pháp luật là Hiến Pháp. Nhưng Hiến Pháp chỉ là một mớ chữ nghĩa câm nín, nhiều chỗ quá vắn tắt, khó hiểu hoặc lỗi thời. Hiến Pháp áp dụng thế nào, là do giải thích của Tối Cao Pháp Viện. Cho đến thập niên 80 của thế kỷ 20, tất cả thành viên TCPV đều là nam giới, những người hầu hết thuộc giới thượng lưu. Thành phần chọn lọc này trưởng thành trong môi trường phụ nữ là người phục vụ. Từ người mẹ chiều con vì tình thương, vợ theo chồng vì bổn phận, và đầy tớ phục vụ chủ vì đồng lương. Đối với những ông lớn đẻ bọc điều này, họ không cảm thấy phụ nữ có nhu cầu bình đẳng. Khác biệt giữa vai trò nam nữ được coi như sự phân công tự nhiên do Thượng Đế an bài.

Đó là thực tế, còn trên lý thuyết, giáo sư sử học Harvard, Jill Lepore, viết trên tuần báo New Yorker, thì theo lập luận của các bậc khai quốc–như Thomas Jefferson–phụ nữ bị loại khỏi các vấn đề quốc sự từ đầu, chính là để bảo vệ họ, “for their own protection.” Để tránh thương tổn về đạo lý và các vấn đề mơ hồ khác, không nên để họ pha trộn với các phần tử tạp nhạp trong những cuộc tụ họp của đàn ông. Dù Tu Chính Hiến Pháp 14 đã được phê chuẩn từ năm 1868, vào năm 1873, qua vụ kiện Myra Bradwell chống tiểu bang Illinois–do đã từ chối bà hành nghề luật–một Thẩm Phán Tòa Tối Cao đã giải thích rằng, “Sự rụt rè và mảnh mai tự nhiên của nữ giới chính là bằng chứng làm cho giới tính này bất khả với nhiều nghề nghiệp thuộc về cuộc sống dân sự.” (The natural and proper timidity and delicacy which belongs to the femal sex evidently unfits it for many of the occupations of civil life). Bà Ginsburg ví chuyện này như cái cũi bị nịnh hỡm là tượng thờ (a cage pretending to be a pedestal).

Hiến Pháp Mỹ nguyên thủy không hề nói tới bình đẳng nam nữ, bình đẳng hôn nhân hay giới tính. Mãi đến năm 1868, Tu Chính Án 14 mới có thêm một câu cuối điều 1: “No state may deny any person, under its government, equal protection of the law” (Không tiểu bang nào có thể phủ nhận bất cứ ai, dưới chính quyền mình, được luật pháp bảo vệ bình đẳng). Mấy chữ chót (do người viết tô đậm) quan trọng này, được gọi là “Equal Protection Clause.” Trong đó, cũng không có chữ nào nói rõ bình đẳng nam nữ. Khoản này, do ra đời sau Nội chiến Nam Bắc, nhiều người, tiêu biểu là Thẩm Phán Tối Cao liên bang Hugo Black, đã nghĩ rằng chỉ áp dụng cho bình đẳng chủng tộc. Phải đợi một trăm năm nữa, mới tới phiên Ruth tranh đấu để áp dụng cho bình đẳng nam nữ.

Một thế hệ sau Thế Chiến II, thế giới bùng lên cơn sốt vỡ da của giới trẻ vào năm 1968. Ở Mỹ, một phần do ảnh hưởng từ chiến tranh Việt Nam, ở Âu Châu, chẳng dính gì tới cuộc chiến này, cũng làm cho người hùng Charles de Gaulle phải từ chức tổng thống Pháp vào năm 1969, sau những cuộc xuống đường liên tiếp của sinh viên và công nhân vào năm 1968. Nhu cầu bình đẳng chủng tộc và bình đẳng giới tính cũng dâng lên, nhờ làn sóng phản kháng này.

Trước trào lưu mới, năm 1971, Tổng Thống Nixon, một người không hề quan tâm tới nữ quyền, nếu không muốn nói là nặng đầu óc kỳ thị nữ giới, nhưng với ý định kiếm phiếu trong kỳ tái cử năm 1972, đã nghĩ đến chuyện đề cử một phụ nữ vào TCPV. Nhưng khi biết được ý định này, Chủ Tịch TCPV Warren Burger đã đe dọa, nếu Nixon đề cử một phụ nữ, ông sẽ từ chức. Khi Hugo Black quyết định về hưu vào tháng 9, 1971, sau 34 năm phục vụ, Nixon đã đề cử người thay thế thuộc phái nam: Lewis Powell, ông được chuẩn thuận ngày 7 tháng 12, 1971, và bắt đầu nhậm chức từ 7 tháng Giêng, 1972.

Trong khi ấy, Ruth Ginsburg bắt đầu cuộc vận động bình đẳng nam nữ, qua hợp tác với ACLU. Ngày 22 tháng 11, 1971, trong khi cuộc điều trần về việc chuẩn thuận Lewis Powell còn đang diễn ra tại Thượng Viên, Ruth Ginsburg đã đạt được kết quả chấn động qua vụ kiện lịch sử, Reed v. Reed. Vụ này đã giúp Ruth Bader Ginsburg nổi tiếng, qua luận trạng (brief) đầu tiên trước Tối Cao Pháp Viện.

Vụ án xét xử cuộc tranh tụng giữa một cặp vợ chồng đã ly thân, chồng Cecil Reed và vợ Sally Reed. Cả hai cùng nộp đơn tại Toà Án Di Sản Quận Ada (Probate Court of Ada County), thuộc tiểu bang Idaho, đòi quyền được quản trị tài sản (ước tính vào khoảng 1000 đô la) của con nuôi, Richard Reed 19 tuổi, khi còn nhỏ ở với mẹ, đến tuổi thiếu niên ở với bố, đã đã tự tử bằng súng của bố, không để lại di chúc. Toà Di Sản căn cứ vào luật Idaho, liệt kệ 11 hạng người được quyền quản trị tài sản người quá cố không để lại di chúc. Ưu tiên 1 là vợ hay chồng còn sống. Ưu tiên 2 là con cái. Ưu tiên 3 là cha hay mẹ. “Cha hay mẹ,” nghĩa là cha mẹ có quyền ngang nhau. Nhưng luật còn quy định: “nam giới phải được hơn nữ giới” (“males must be preferred to females”) trong việc chọn người quản trị di sản. Do đấy, toà đã cho Cecil Reed được quyền này.

Sau nhiều lần xử và kháng án, từ Toà Tối Cao Tiểu Bang, cuối cùng, lên tới Tối Cao Pháp Viện Liên Bang. Tại đây, Ruth Bader Ginsburg và các cộng sự từ Liên Đoàn Tự Do Dân Sự Mỹ (ACLU), đã lập luận rằng, Equal Protection Clause bảo vệ quyền lợi của “mọi người,” nghĩa là không phân biệt nam nữ. Luật Idaho quy định “phái nam phải được hơn phái nữ,” rõ ràng đã vi phạm Tu chính 14. Tối Cao Pháp Viện chấp nhận quan điểm này, ra phán quyết lần đầu tiên qua vụ Reed v. Reed, rằng Equal Protection Clause của Tu Chính Hiến Pháp 14 cấm không được phân biệt đối xử dựa trên phái tính. Đây là sự kiện lịch sử làm thay đổi hẳn phạm vi áp dụng Tu Chính 14. Từ chỗ chỉ bảo vệ quyền bình đẳng dựa trên chủng tộc, từ đây, bao gồm cả bình đẳng giới tính. Chính Chủ Tịch Burger đã dựa trên quan điểm trong luận trạng của Ruth Ginsburg, khi viết phán quyết chính của TCPV, đại diện cho toàn thể các thẩm phán khác. Theo Jill Lepore, vài năm sau, đối diện với Ruth Bader Ginsburg trong một vụ kiện khác, Chủ Tịch Burger đã bối rối, không biết phải xưng hô thế nào cho đúng: “Bà Bader, hay Bà Ginsburg?”

Từ năm 1972, không riêng Idaho, các nơi khác đều đã phải sửa lại tất cả luật lệ hiển nhiên không phù hợp với Tu Chính 14.

Vụ kế tiếp mang tên Charles Moritz chống sở thuế (Charles Moritz v. Commissioner of IRS), diễn ra vào năm 1972. Moritz xin được trừ thuế về khoản chi phí dành cho việc săn sóc mẹ già 89 tuổi. IRS không chịu, vì theo luật, chỉ có phụ nữ, đàn ông goá vợ hay đã ly dị, mới được hưởng khoản khấu trừ này. Vì Moritz còn độc thân, không đủ điều kiện.

Đầu đuôi câu truyện khá dài dòng để trình bầy đầy đủ trong khuôn khổ một bài báo. Vụ này, cả hai vợ chồng Ginsburg cãi chung ở toà dưới, chồng phụ trách phần thuế vụ, vợ tranh cãi về quyền bình đẳng theo hiến pháp. Có thể tóm tắt là, bà Ginsburg đã dựa vào Equal Protection Clause đề biện luận rằng, luật thuế đã vi phạm Hiến Pháp khi trọng nữ khinh nam. Bà không tranh đấu cho quyền lợi phụ nữ đưa đến thiệt hại cho phái nam. Ngược lại, bà dựa vào Equal Protection Clause, để đòi cho phái nam được bình đẳng quyền lợi với phái nữ. Bà đã thắng kiện, kết quả vụ án trở thành tiền lệ, áp dụng Tu Chính 14 HP trong việc bảo vệ bình đẳng quyền lợi cho cả hai giới nam và nữ. Nhờ vụ này, hàng trăm luật lệ thuế vụ đã phải sửa đổi để khỏi vi hiến. Từ gần nửa thế kỷ nay, biết bao người được hưởng lợi mà không biết đến công lao của Ginsburg.

Vụ án ưng ý nhất

Trên đây mới chỉ là vài thắng lợi bước đầu. Tuy vậy cũng đã giúp Ruth Ginsburg nổi tiếng đủ để trở thành nữ giáo sư chính thức đầu tiên tại trường Luật Columbia. Theo mô tả trong cuốn sách nổi tiếng về cuộc đời của bà: Notorious R.B.G.: The Life and Times of Ruth Bader Ginsburg, của Irin Carmon Shana Knizhnik, xuất bản năm 2015, và do vai chính trong vụ kiện là Stephen Wiesenfeld, kể lại trên New York Post sau khi bà qua đời, vụ kiện bà ưng ý nhất là vụ bắt đầu từ năm 1972 ở New Jersey, đến năm 1975 kết thúc với thắng lớn ở TCPV.

Bà ưng ý nhất vụ này, vì nó diễn ra từ đầu đến cuối hoàn toàn phù hợp với kế hoạch và tính toán của bà. Nói cho dễ hiểu, đây là chiêu “gậy ông đập lưng ông.” Dùng quyền lợi của phái nam, để thuyết phục phái nam chấp nhận bình đẳng nam nữ. Trong vụ này, không phải thân chủ đi kiếm luật sư. Ngược lại, luật sư đi tìm thân chủ.

Tại New Jersey, tháng 12 năm 1972, Stephen Wiesenfeld viết cho một tờ báo địa phương, kể lể hoàn cảnh éo le của mình: Nửa năm trước, Paula, vợ anh, qua đời khi sinh con. Mẹ chết, con sống. Paula từng là cô giáo, mỗi kỳ lương đều đóng góp đầy đủ vào quỹ An Sinh Xã Hội, như mọi người đi làm, không phân biệt nam nữ. Lâm cảnh gà trống nuôi con, Stephen nạp đơn, xin hưởng khoản lợi tức An Sinh Xã Hội (Social Security benefit) của vợ, lúc ấy là 206 đô la mỗi tháng (tương đương 1000 đô la bây giờ), để có thể ở nhà nuôi bé Jason. Yêu cầu của Stephen bị bác, vì theo luật An Sinh Xã Hội thời ấy, chỉ có vợ goá được hưởng phần lợi tức của chồng. Goá vợ không được lãnh phần của vợ.

Đọc được thư ngỏ này trên báo, RBG như trúng mối, liên lạc ngay với Stephen. Tháng Hai 1973, bà thay mặt Stephen nộp đơn kiện tại toà liên bang ở Trenton, New Jersey, với dự tính, dù bên nào thua, cũng sẽ kháng cáo lên Toà Tối Cao tiểu bang, và cuối cùng, lên TCPV liên bang. Nếu thắng ở đấy, sẽ trở thành vụ án lịch sử, có ảnh hưởng đến mọi người.

Đúng như tiên liệu, ba thẩm phán Toà Tối Cao New Jersey đã xử cho Stephen thắng, và chính quyền liên bang kháng án lên TCPV.

Phiên xử của TCPV vào tháng Giêng 1975, chỉ có 8 Thẩm Phán Tối Cao hiện diện, William O. Douglas vắng mặt vì ốm. Dù không bắt buộc sự có mặt của nguyên đơn, lần duy nhất trong các vụ kiện tham dự tại TCPV, bà Ginsburg đã xếp đặt để Stephen ngồi trước mặt 8 thẩm phán nam giới, để các vị này tự mình thấy rằng, bất bình đẳng nam nữ gây thiệt hại cho cả phái nam là chuyện thật trước mắt, không phải chỉ trên lý thuyết.

Qua luận trạng (brief), RBG nhấn mạnh, đại ý: Nội dung vụ kiện chứng tỏ luật lệ trong nước từ trước tới nay phản ảnh quan niệm người phụ nữ phụ thuộc vào chồng, nên khi chồng chết, được hưởng quyền lợi từ chồng. Chồng không phụ thuộc vợ, nên khi goá vợ, không được hưởng quyền lợi từ vợ. Rồi từ đây, RBG lý luận rằng, sự bất bình đẳng nam nữ trong luật, chẳng những riêng người chồng bị thiệt, cả đứa con cũng bị đối xử bất công. Nếu bố chết, được hưởng quyền lợi từ bố qua mẹ. Nếu mẹ chết, không được bố săn sóc nhờ quyền lợi từ mẹ. Cãi xong, về nhà đợi kết quả. TCPV không có lệ ra phán quyết ngay.

clip_image008

Stephen và Jason năm 1975 (Hình của Stephen Wiesenfeld)

Ngày 19 tháng Ba, 1975, bốn ngày sau sinh nhật thứ 43, trên xa lộ New Jersey tới Columbia, RBG sửng sốt qua tin radio trên xe. Bà vội táp vào bên đường, tìm điện thoại công cộng, thời ấy chưa có cell phone, gọi báo cho Stephen biết kết quả vụ kiện, thắng lớn không ngờ, 8-0. Thời Warren Burger là Chủ Tịch, TCPV còn rất bảo thủ. Ngay cả Thẩm Phán Rehnquist, người vẫn còn dè dặt với nữ quyền, đã cho biết ông bỏ phiếu đồng thuận với đa số, để bãi bỏ luật làm thiệt hại tới trẻ em. Quá xúc động, trên đường tiếp tục tới trường, RBG đã phải cố bình tĩnh, để tránh gây tai nạn. Khi tới Columbia, Ruth chạy trên hành lang nhà trường, tìm ôm hôn báo tin mừng cho các sinh viên đã cộng tác với mình.

Vụ kiện này, mang tên Weinberger v. Wiesenfeld, đã trở thành sự kiện lịch sử. RBG nổi tiếng khắp nước, được nhiều người coi bà như tiêu biểu trong lãnh vực giải phóng phụ nữ. Ruth Bader Ginsburg không chịu, nói rằng, “Không phải là giải phóng phụ nữ, mà giải phóng cả nam và nữ.” (It is not women’s liberation; it is women’s and men’s liberation).

(Xin xem  tiếp phần 2)


[1] TS: Judicial law clerk (assistant de justice), là chức vị của một luật sư đã tối nghiệp trường luật và, trong đa số trường hợp, cũng đã đậu bằng hành nghề luật sư, được chọn làm phụ tá cho một thẩm phán tòa án liên bang hoặc tiểu bang, giữ việc tra cứu luật pháp, phác thảo hoặc biên tập các tài liệu liên hệ đến những phán quyết của vị thẩm phán đã chọn họ. Đây là một chức vị chọn lọc vì người được nhận làm phụ tá thẩm phán phải có kiến thức sâu rộng về luật pháp và khả năng lý luận sắc bén. Nên tránh lầm lẫn law clerk với legal clerk. Legal clerk là thư ký tòa án giữ công việc sắp xếp hồ sơ, thi hành các thủ tục giấy tờ, làm việc đóng dấu, niêm yết v.v., nhưng không có kiến thức hoặc kinh nghiệm huấn luyện của một luật sư.

bài đã đăng của Đinh Từ Thức


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)