Trang chính » Bàn Tròn: Chính trị, Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định, Quan Điểm Email bài này

Mặt trận tư pháp


Kiềng ba chân

Người Việt có câu nói từ xưa: “vững như kiềng ba chân.” Nền dân chủ Mỹ đứng vững trên hai thế kỷ, là nhờ ba chân: Hành pháp, Lập pháp, và Tư pháp. Ba chân đứng riêng, nhưng liên hệ mật thiết với nhau. Nếu một chân què, kiềng sụp. Hễ có liên hệ, là có dị đồng. Ai cũng muốn đồng, chẳng ai muốn dị, khiến chuyện xung đột, tranh dành ảnh hưởng diễn ra liên tục. Mặt trận hành pháp và lập pháp thường sôi nổi trong các cuộc đua chính bốn năm một lần, và cuộc đua phụ giữa kỳ. Mặt trận tư pháp thường ít sôi nổi hơn, và diễn ra bất kỳ lúc nào có chỗ trống. Đặc biệt năm 2020, cả ba mặt trận sôi động cùng thời gian, gây tình trạng gần như nghẹt thở; và trên hai trăm ngàn người đã thực sự hết thở, một phần, cũng do vạ lây từ tình trạng đặc biệt này. Bài này chỉ nói về mặt trận Tư Pháp.

clip_image002

Thẩm phán Amy Barrett, trong một buổi nói chuyện tại The Federalist Society, một trong những nguồn cung cấp dự tuyển cho Trump

Hiến Pháp Mỹ là bộ luật tối cao, quy định việc thành lập cả ba ngành Lập Pháp, Hành Pháp, và Tư Pháp. Ngành Tư Pháp được quy định bởi điều III, gồm các toà án liên bang ở ba cấp. Đứng đầu là Tối Cao Pháp Viện (TCPV) – US Supreme Court. Thấp hơn là các toà phúc thẩm vùng (Circuit Courts of Appeals). Thấp nhất là các toà xử án cấp quận (District Courts). Các thẩm phán được quy định bởi điều III Hiến Pháp đều do tổng thống đề cử, với sự chấp thuận của thượng viện, nên các thẩm phán liên bang đều được gọi chung là Thẩm Phán Điều 3 – The Article 3 Judges. Điều này chỉ nói về quyền hạn của Toà Tối Cao, còn về nhân sự và cách tổ chức, cũng như các toà cấp dưới, dành cho Quốc hội quy định bằng đạo luật. Quốc Hội Khoá 1 đã thông qua Đạo Luật Tư Pháp 1789 (Judiciary Act of 1789), có tên chính thức là “An Act to Establish the Judicial Courts of the United States” (Đạo Luật thiết lập các Toà Án Tư Pháp của Hoa Kỳ), do Tổng Thống George Washington ký ban hành. Tuy đã có nhiều thay đổi trong hơn hai thế kỷ qua, nhưng nét chính vẫn còn tồn tại đến nay.

(Bài này không đề cập tới 4 toà án liên bang chuyên biệt, như toà khiếu nại – Court of Claims; toà phúc thẩm về cư trú và bằng sáng chế – Court of Customs and Patent Appeals; toà thương mại quốc tế – Court of International Trade; và toà thuế vụ – Tax Court. Ở đây cũng không đề cập tới hệ thống tư pháp tiểu bang).

Theo đạo luật trên, TCPV có 6 Thẩm Phán Tối Cao (TPTC – Justice), gồm 1 Chủ Tịch (Chief Justice) và 5 Thẩm Phán Cộng Sự (Associate Justice). Trong 70 năm đầu, con số TPTC đã thay đổi 6 lần: 1790: 6; 1807: 7; 1837: 9, 1863: 10; 1866: 7; 1869: 9. Năm 1937, bất mãn vì nhiều dự án của mình bị TCPV phủ nhận, Tổng Thống Roosevelt đã đề nghị Quốc Hội làm luật quy định lại thành phần Thẩm Phán TCPV, nâng con số 9 lên mức tối đa là 15. Theo đó, mỗi khi có một TPTC đã tại chức 10 năm, và đạt mức 70 tuổi rưỡi, mà không về hưu, tổng thống được đề cử thêm một TPTC, cho đến mức tối đa là 15. Dự định này đã không được Quốc Hội chấp thuận. Con số 9 từ năm 1869 đã không thay đổi cho đến nay. Và đang có dư luận bàn tán, tuỳ theo kết quả cuộc bầu cử 2020, con số này có thể được thay đổi.

Trong cuộc tranh luận duy nhất giữa hai ứng cử viên phó tổng thống Mike Pence (Cộng Hoà) và Kamala Harris (Dân Chủ) vào tối 7 tháng 10, 2020, bị hỏi nếu đắc cử, phía Dân Chủ có định tăng thêm TPTC không, bà Harris đã tánh né, không trả lời câu hỏi này, nói sang chuyện khác. Trong cuộc tranh luận cuối cùng giữa hai ứng cử viên tổng thống Trump và Biden tối 22 tháng 10, khi được hỏi về chủ trương thay đổi thành phần TCPV, ông Biden đã nói rõ, nếu đắc cử, ông sẽ triệu tập một uỷ ban quốc gia, gồm các học giả về hiến pháp từ cả hai đảng, họp lại, nghiên cứu trong thời gian 180 ngày, sau đó cho đề nghị sửa đổi hệ thống tư pháp.

Từ buổi đầu lập quốc, các nhà soạn thảo Hiến Pháp đã nhìn rõ thế đứng của cái kiềng ba chân. Kiềng chỉ đứng vững, khi ba chân gắn bó với nhau, nhưng mỗi chân phải ở vị thế chống đỡ riêng. Bất cứ hai chân nào chập một, sẽ thành kiềng hai chân, vô dụng. Vì thế, Hiến Pháp đã quy định cách lựa chọn nhân sự cho ba ngành khác nhau, để có thể vừa hợp tác, vừa kiểm soát lẫn nhau. Hành Pháp và Lập Pháp do dân bầu, với nhiệm kỳ ngắn hạn; hai, bốn, hay sáu năm. Thẩm phán liên bang do tổng thống đề cử và thượng viện chuẩn thuận, có thể tại chức suốt đời, và không bao giờ bị giảm lương, nhằm mục đích bảo đảm vị thế độc lập và quyết định vô tư của các TP. Nhưng điều này không còn tồn tại, khi tổng thống và thượng viện cấu kết với nhau, coi quyền lợi đảng phái quan trọng hơn quyền lợi chung. Vì thế, phát sinh nhu cầu cải tổ ngành tư pháp.

Đất của tình nhân vốn là đất cấm

clip_image004

Mildred và Richard Loving, 1965. Hai người thành hôn tại Washington DC. Nhưng bị bắt bỏ tù khi về sống tại Virginia (Hình AP)

Khi gia đình người viết tới cư ngụ ở tiểu bang Virginia vào mùa hè 1975, một trong những điều gây chú ý đầu tiên, nơi đây đã có một khẩu hiệu nổi bật, rất hấp dẫn: “VIRGINIA dành cho NGƯỜI YÊU” (VIRGINIA is for Lovers). Cũng có thể dịch là Virginia, đất của những người yêu nhau, của các tình nhân…, Nhưng chỉ tám năm trước đó, nếu những người yêu nhau khác chủng tộc; một người da trắng và một người da mầu; cả hai đều bị bắt bỏ tù.

Khẩu hiệu trên đã được chính thức xử dụng từ 1969, và đã được bầu là khẩu hiệu hấp dẫn du lịch tiêu biểu nhất trong nửa thế kỷ qua. Từ năm 1967, những người khác chủng tộc có thể yêu nhau và kết hôn ở Virginia, và từ ngày 6 tháng 10, 2014, ngay cả những người cùng phái tính (same sex) cũng có thể yêu nhau và lấy nhau ở đây.

Nhắc lại một vài sự kiện trong quá khứ rất gần, có thể kiểm chứng dễ dàng, để chứng tỏ, xã hội thay đổi không ngừng, và luật pháp quy định sinh hoạt xã hội cũng phải thay đổi. Nói cho dễ hiểu, khi cơ thể một đứa trẻ lớn lên, quần áo che thân nó đương nhiên phải thay đổi kích thước.

Những thay đổi trong xã hội diễn ra một cách tự nhiên, là một tiến trình do ảnh hưởng từ nhiều phía. Nhưng tạo ra luật pháp phù hợp với sự thay đổi của xã hội, không phải chuyện dễ. Đó là kết quả từ những cố gắng không ngừng của mọi người trong xã hội, từ người dân thường tới giới trí thức, và giới hoạt động chính trị, cả đang cầm quyền, hay đối lập. Ở một nước độc tài và đảng trị, luật trong tay kẻ cầm quyền, muốn trị dân thế nào, cứ việc làm luật theo ý mình; nếu có thăm dò ý dân, chỉ là qua hình thức lấy lệ. Nếu dân bất bình, chống đối, là phạm luật, bị trừng phạt theo luật. Vì thế, tranh đấu trên mặt trận tư pháp ở một nước độc tài, rất khó đạt kết quả; đòi thay đổi luật, bị đồng hoá với chống lại pháp luật.

Tại các xã hội dân chủ có truyền thống thượng tôn pháp luật, tranh đấu trên mặt trận pháp luật, tuy không diễn ra ồn ào và gây nhiều thiệt hại, nhưng có thể đem lại những thành quả vô cùng lớn lao. Bởi vì, dù tranh đấu bằng cách nào, trên mặt trận nào, cuối cùng, được hay thua, đều quy về một mối, do pháp luật quy định. Các nhân vật lừng danh như Mục Sư Martin Luther King Jr., Dân biểu John Lewis, hay bà Rosa Park, đã bắt đầu cuộc tranh đấu từ mặt trận đường phố, rất vất vả khó nhọc, bị đánh đập, vào tù ra khám nhiều lần, có khi bị ám sát như MS King, cuối cùng, kết qủa tranh đấu của họ được thể hiện qua các đạo luật dân quyền, Civil Rights Act 1964, thời Tổng Thống Johnson. Trong khi ấy, nhà tranh đấu nhân quyền như Luật Sư Thurgood Marshall, tranh đấu nữ quyền như Luật Sư Ruth Ginsburg, không dùng mặt trận đường phố, mà dùng mặt trận pháp luật. Họ không tranh đấu từ ngọn, mà tranh đấu từ gốc, cũng đạt được những kết quả to lớn.

Trở lại câu truyện tình yêu ở Virginia. Từ chỗ da mầu không được lấy da trắng, đến chỗ chẳng những khác chủng tộc, mà cùng phái tính có thể kết hôn, là một bước khá dài; một thay đổi đảo ngược. Thay đổi này có được, là kết quả tranh đấu trên mặt trận tư pháp.

Lovings khổ vì yêu

Tại Thủ Đô Washington D.C., người khác chủng tộc có thể kết hôn hợp pháp từ ngày 4 tháng 11, 1874. Nhưng tại Virginia, điều này vẫn bị cấm cho đến gần một thế kỷ sau, do quy định bởi luật Racial Integrity Act 1924. Đạo luật này quy định, dù chỉ mang một giọt máu của tổ tiên da mầu trong huyết thống, dù thuộc dòng dõi ba bốn đời, da mầu đã bạc mầu thành da trắng, cũng vẫn bị liệt kê thuộc thành phần da mầu. Thành phần này phải khai báo, mang giấy chứng nhận chủng tộc. Khi kết hôn, phải xuất trình giấy chứng nhận này, mới được cấp giấy giá thú hợp lệ. Cho đến năm 1967, còn tới 16 tiểu bang, hầu hết ở phía Nam, vẫn duy trì luật cấm hôn nhân dị chủng.

clip_image006

Bản tin chính thức về luật mới của Virginia “Bảo tồn Giá trị Chủng tộc” (Hình Francisco Macias)

Năm 1958, anh Richard Loving, 23 tuổi, thợ xây, và cô Mildred Jeter, 17 tuổi, cả hai cùng ở Quận Caroline, Virginia. Họ yêu nhau, nhưng không thể lấy nhau ở đây, vì anh da trắng, chị da mầu. Họ vào D.C. để kết hôn ngày 2 tháng 6, 1958, rồi trở về sống ở Virginia. Năm tuần sau, cặp vợ chồng mới đang ngủ trên giường, bị cảnh sát đột nhập phòng ngủ, lúc 2 giờ sáng, ngày 11 tháng 7, 1958, rọi đèn pin vào mặt Richard, hỏi, người phụ nữ đang ngủ với anh, là ai? Mildred đáp “tôi là vợ của anh ấy”, đồng thời, tay chỉ lên giấy giá thú treo trên tường. Cảnh sát bảo chuyện này không được công nhận, ở đây. Cả hai cùng bị bắt.

Hai vợ chồng Lovings ra toà ngày 6 tháng 1, 1959, nhận tội đã vi phạm luật cấm hôn nhân dị chủng (antimiscegenation) của VA. Họ bị xử phạt mỗi người một năm tù. Để được hưởng án treo, cả hai phải ra khỏi Virginia ngay, và không được cùng nhau, hay cùng lúc trở lại, trong thời gian 25 năm. Hai người sống tại Washington D.C., nhưng họ hàng, bạn bè vẫn sống tại Virginia. Với cặp Richard và Mildred Loving, sông Potomac, biên giới giữa Washington D.C. và Virginia, bỗng trở thành sông Bến Hải của Việt Nam cùng thời. Chỉ vì tình yêu đôi lứa mà phải xa cách họ hàng, bạn hữu.

Ngày 6-11, 1963, cặp Lovings nạp đơn tại toà tiểu bang, thỉnh cầu huỷ bản án, và bỏ qua vụ xử, vì lý do bản án xử họ phạm Tu Chính Hiến Pháp 14. Gần một năm sau vẫn không được trả lời, ngày 28-10, 1964, với sự giúp đỡ của Liên Đoàn Tự Do Dân Sự Mỹ (American Civil Liberties Union – ACLU), hai luật sư tình nguyện là Bernard Cohen, và Philip Hirschkop đã đại diện vợ chồng Lovings, nộp đơn kiện tại toà liên bang, United States District Court for the Eastern District of Virginia, yêu cầu một phiên xử gồm nhiều thẩm phán, tuyên bố rằng qua bản án xử phạt họ, Virginia đã trái hiến pháp, và ra lệnh cho các viên chức chính quyền chấm dứt buộc họ thi hành bản án.

Ngày 22 tháng 1, 1965, vị thẩm phán tại toà tiểu bang ở Caroline County là Leon M. Bazile, ra quyết định không chấp nhận yêu cầu huỷ bản án và vụ xử trước. Trong phán quyết này, sau khi liệt kê án lệ cấm hôn nhân dị chủng, và những cuộc hôn nhân như vậy tuyệt đối phải huỷ bỏ, Thẩm Phán Bazile đã lập lại quan điểm của ông trong vụ xử trước, có đoạn viết rằng:

“Thiên Chúa Toàn Năng đã tạo ra các chủng tộc trắng, đen, vàng, mã lai và đỏ, và ngài đã đặt họ tại những lục địa khác nhau. Và để khỏi can thiệp vào sự xếp đặt của ngài, sẽ không có lý do cho những cuộc hôn nhân [dị chủng] như vậy. Sự kiện ngài phân biệt các chủng tộc chứng tỏ ngài đã không có ý định pha trộn [nòi giống]”

(“Almighty God created the races white, black, yellow, malay and red, and he placed them on separate continents. And but for the interference with his arrangement there would be no cause for such marriages. The fact that he separated the races shows that he did not intend for the races to mix.” (Trích Quan điểm của thẩm Phán Leon M. Bazile – Jan. 22, 1965. Ghi chép từ bản chính, theo encyclopediavirginia.org))

Ba tuần sau, ngày 11 tháng 2, 1965, trong một phiên xử “en banc” (phiên xử quan trọng, gồm nhiều thẩm phán thay vì một người — thường là 3 người) ba thẩm phán toà liên bang (District Court) cho phép vụ án được thượng tố lên TCPV tiểu bang. Tại đây, Thẩm Phán Harry Carico, đại diện Toà, viết quan điểm, dựa vào án lệ từ 1883, giữ nguyên phán quyết của toà dưới, với lý do cả hai người trong nội vụ đều bị phạt như nhau, như vậy, không có chuyện kỳ thị, không phạm Tu Chính 14. Tuy nhiên, Toà nhận thấy phán quyết của toà dưới có phần không rõ ràng, phải huỷ bỏ, và truyền Toà Án Quận xử lại.

ACLU vẫn hỗ trợ việc thượng tố lên Tối Cao Pháp Viện Liên Bang. Cặp Lovings không có mặt vào hôm Toà nghe luận trạng (brief), nhưng luật sư đại điện đã trình bầy trước Toà nguyên văn lời nhắn của Richard Loving: “Ông Cohen, hãy trình với Toà rằng tôi yêu vợ tôi, và thật bất công về việc tôi không thể sống với nàng tại Virginia” (Mr. Cohen, tell the Court I love my wife, and it is unfair that I can’t live with her in Virginia”).

Tình yêu thắng lớn

Ngày 12 tháng 6, 1967, TCPV ra phán quyết với tỉ lệ 9-0, toàn thể đồng ý lật ngược bản án đã phạt vợ chồng Lovings vì lý do hôn nhân dị chủng. Đồng thời, cũng bỏ tất cả các luật lệ cấm hôn nhân dị chủng (anti-miscegenation), tại 16 tiểu bang, kể cả Virginia, với lý do trái với Equal Protection Clause của Tu Chính 14. Riêng tại Alabama, mãi đến năm 2000 mới chính thức bỏ luật cấm hôn nhân dị chủng trong hiến pháp tiểu bang.

Chính Chủ Tịch TCPV Liên Bang Earl Warren đã viết quan điểm, thay mặt toàn thể các Thẩm Phán Tối Cao. Trong phán quyết, ông đã nhắc lại nguyên văn đoạn Thẩm Phán Bazile nói về việc Thiên Chúa Toàn Năng tạo ra và đặt để nơi chốn cho các chủng tộc khác nhau. Sau khi nêu ra những luận cứ bác bỏ quan điểm kỳ thị, vị Chủ Tịch TCPV đi tới kết luận sau đây:

Tự do kết hôn từ lâu đã được công nhận như một trong những tự do quan trọng của cá nhân, cần thiết cho việc theo đuổi trong trật tự để mưu cầu hạnh phúc của những người tự do.

Hôn nhân là một trong “những tự do căn bản của con người”, là nền tảng cho chính sự tồn tại và sống còn của chúng ta. Phủ nhận tự do căn bản này trên nền tảng không thể chống đỡ như phân loại chủng tộc dựa trên những quy định này, những phân loại trực tiếp phá bỏ nguyên tắc bình đẳng là tâm điểm của Tu Chính 14, chắc chắn loại bỏ tất cả tự do của người dân mà không theo đúng thủ tục luật định. Tu Chính Án 14 đòi hỏi rằng tự do lựa chọn để kết hôn không được hạn chế bởi sự phân biệt chủng tộc đáng ghét. Dưới Hiến Pháp của chúng ta, tự do kết hôn, hay không kết hôn với một người khác chủng tộc là quyền của cá nhân, và Tiểu Bang không thể phạm tới.

(The freedom to marry has long been recognized as one of the vital personal rights essential to the orderly pursuit of happiness by free men.

Marriage is one of the “basic civil rights of man”, fundamental to our very existence and survival. To deny this fundamental freedom on so unsupportable a basis as the racial classifications embodies in these statutes, classifications so directly subversive of the principle of equality at the heart of the Fourteen Amendment, is surely to deprive all the State’s citizens of liberty without due process of law. The Fourteenth Amendment requires that the freedom of choice to marry not be restricted by invidious racial discriminations. Under our Constitution, the freedom to marry, or not marry, a person of another race resides with the individual, and can not be infringed by the State)

Ngày 12 tháng 6, ngày vợ chồng Lovings được tự do yêu nhau và chung sống hợp pháp tại Virginia, đã trở thành Loving Day hàng năm, và được đặc biệt kỷ niệm năm 2017, vào dịp 50 năm thắng kiện. Hiện nay, cả hai vợ chồng Lovings đều đẫ yên nghỉ bên nhau tại nghĩa trang. Richard mất năm 1975 vì tai nạn xe hơi, Mildred không tái giá, qua đời năm 2008. Vụ án này chỉ có ảnh hưởng tại 16 tiểu bang, không đem lại thay đổi trên toàn quốc, như mấy thắng lợi của luật sư Ginsburg đã đạt được; vì nhiều tiểu bang đã bỏ luật cấm hôn nhân dị chủng từ trước, California bỏ đầu tiên. Tuy nhiên, hãy tưởng tượng, nếu không có vụ thắng của Lovings, biết bao nhiêu nam nữ gốc Việt sang Mỹ từ năm 1975, đã không thể kết hôn với người da trắng, và cư ngụ hợp pháp tại 16 tiểu bang.

Từ cấm kỵ đến tự do

clip_image002

Đám đông ăn mừng Tối Cao Pháp Viện ra phán quyết chấp nhận hôn nhân đồng tính (same sex marriage) tại Washington, năm 2015 (Zach Gibson/The New York Times)

Những chuyện cấm kỵ và tự do liên quan tới hôn nhân tại Virginia, từ hơn nửa thế kỷ trước, ăn nhằm gì tới những sôi nổi đang diễn ra hôm nay? Đó là những bằng chứng cụ thể, cho thấy tầm quan trọng của mặt trận tư pháp trong một xã hội dân chủ. Có tự do hay không, dân chủ còn hay mất, dễ thở hay nghẹt thở, đều bắt nguồn từ hệ thống tư pháp. Tổng thống chỉ cầm quyền bốn năm, hay tám năm. Dân biểu, nghị sĩ có nhiệm kỳ hai, hay sáu năm, mỗi lần tái ứng cử, là một lần dân có quyền tái định đoạt vai trò của họ bằng lá phiếu của mình. Thẩm phán liên bang có nhiệm kỳ suốt đời. Trump đến rồi Trump đi, nhưng các “thẩm phán điều 3”, từ toà án Quận, toà Phúc Thẩm. đến toà Tối Cao; vẫn có thể tiếp tục giải thích luật theo ý họ, nghĩa là theo ý hướng Trump và đảng Cộng Hoà, thêm vài ba chục năm nữa. Tuy họ có thể bị bãi nhiệm bởi Quốc Hội, nhưng thủ tục phiền phức, ít khi sẩy ra. Riêng TPTC, người tại chức lâu nhất, William Douglas, 36 năm 7 tháng, qua 7 đời tổng thống; từ Roosevelt đến Ford, 1939-1975. Người thế chân ông Douglas là John Stevens, cũng tại chức 35 năm, từ 1975 tới 2010. Hai TPTC qua đời gần đây nhất, Antonin Scalia, tại chức 30 năm, từ 1986 đến 2016, và bà Ruth Ginsburg, 27 năm, từ 1993, đến 2020. Và ở tuổi 48, người mới được đề cử vào TCPV, là Thẩm Phán Amy Barrett, có thể tại chức tới 40 năm.

Trong vòng ba năm rưỡi của nhiệm kỳ đầu, Tổng Thống Trump, với sự giúp sức tích cực của Nghị Sĩ trưởng khối Cộng Hoà Mitch McConnell, đã mang vào ngành tư pháp nhiều thẩm phán liên bang nhất, so với các tổng thống trong 40 năm qua, kể từ Tổng Thống Reagan.

Theo pewresearch, cho đến ngày 7 tháng 7, 2020, cả ba cấp trong hệ thống tư pháp liên bang, có tất cả 792 thẩm phán đang hoạt động trên toàn quốc, tại 1 TCPV, 13 toà Phúc Thẩm vùng, và 91 toà án Quận. Trong số này, ông Trump đã bổ nhiệm 194 người, tức 24%. Gần một phần tư tổng số thẩm phán liên bang này, cộng với thành phần thẩm phán bảo thủ vẫn còn tại chức, chẳng mấy chốc, thành phần này sẽ có đa số, tha hồ xét xử và giải thích luật theo quan điểm của xã hội vài thế kỷ trước. Nghĩa là, đẩy bánh xe lịch sử tiến theo hướng lùi. Riêng thành phần TCPV, Khi bà Amy Barrett an vị trước bầu cử, dù ông Trump thất cử, phía bảo thủ toà này vẫn có được đa số tuyệt đối 6-3, đủ khả năng thay đổi sinh hoạt xã hội trong nhiều thế hệ.

Xung đột từ đồi Capitol

Công tâm mà nói, cuộc chiến tư pháp hiện tại, không do Tổng Thống Trump châm ngòi. Ông và phía Cộng Hoà, đều xử dụng nhau như phương tiện. Ông dùng Cộng Hoà để mưu cầu danh lợi cá nhân. Cộng Hoà, qua lãnh tụ tại Thượng Viện Mitch McConnell, xử dụng ông để trả miếng hận Dân Chủ từ trên ba thập niên trước. Đồng thời, chặn bước tiến quá mau của xã hội vào đầu thế kỷ 21; do hậu quả của cuộc cách mạng thông tin; cố vớt vát những gì vẫn được coi là “giá trị truyền thống” của một xã hội từ vài thế kỷ trước, cùng lúc, bảo vệ quyền lợi của giới tài phiệt, là nguồn sống của khuynh hướng bảo thủ. Tại cuộc điều trần tại Uỷ Ban Tư Pháp Thượng Viện trong tiến trình chuẩn thuận bà Amy Barrett, Nghị Sĩ Dân Chủ từ tiểu bang Rhode Island, Sheldon Whitehouse, đã trưng bầy một bản liệt kê chữ lớn trên khổ lớn, lấy dữ liệu từ The Washington Post, với lời ghi “A conservative activist’s behind-the-scenes campaign to remake the nation’s courts” tiếp theo là số tiền $250 MiLLION IN DARK MONEY (Một nhà hoạt động bảo thủ ẩn danh vận động làm lại các toà án toàn quốc $250 triệu đô la trong quỹ ĐEN).

Theo tường thuật của Seung Min Kim trên Washington Post, ngày 23 tháng 10, trong cuộc họp cùng ngày tại Thượng Viện để quyết định về thủ tục cuối cùng trong việc chuẩn thuận Thẩm Phán Amy Barrett vào TCPV, đã diễn ra vụ tranh luận gắt gao giữa hai Trưởng Khối đa số Cộng Hoà McConnell, và Trưởng Khối thiểu số Dân Chủ Schumer.

Năm 1986, Thượng Viện đã chuẩn thuận Thẩm Phán Antonin Scalia vào TCPV, một người có khuynh hướng cực hữu, với tỉ lệ 98-0. Năm 1993, Thượng Viện chuẩn thuận Thẩm Phán Ruth Ginsburg, một người có khuynh hướng cấp tiến, với tỉ lệ 96-3. Điều này chứng tỏ, dù hai ứng viên có khuynh hướng đối nghịch, cả hai người đều được hầu như toàn thể Thượng Viện, thuộc cả hai đảng chấp thuận. Chuyện đẹp này không còn nữa.

Trong cuộc họp Uỷ Ban Tư Pháp Thượng Viện hôm Thứ Năm 22 – 10, bà Barrett đã được chấp thuận, với số phiếu của toàn thể thành viên Cộng Hoà của uỷ ban, trong khi toàn thể thành viên Dân Chủ tẩy chay phản đối.

Trong cuộc họp hôm Thứ Sáu, Mitch McConnell đổ lỗi cho Dân Chủ: “Đó là một sự việc – một sự việc lịch sử – đã do phía Dân Chủ Thượng Viện khởi đầu trước, gây các khó khăn hiện thời của chúng ta kể từ 1987, và là phía khởi sự mọi cuộc leo thang. Mọi leo thang đã khởi đầu từ phía bên kia”.

Nhưng chính McConnell đã dàn dựng vụ leo thang đáng kể nhất trong cuộc chiến tư pháp những năm gần đây, khi ông đã ngăn chặn vụ đề cử TPTC vào năm 2016 của Tổng Thống Obama, tám tháng trước bầu cử — một việc làm khiến phía Dân Chủ cay cú từ đó.

Theo Seung Kim, McConnell đứng quay lưng về phía Dân Chủ, nói với phía Cộng Hoà qua ngôn ngữ mỉa mai không bình thường, nhắm vào cá nhân Lãnh tụ Thiểu số thượng viện Charles Schumer (D-N.Y.): “Tôi mong đồng nghiệp từ New York của chúng ta hoan hỷ với những gì ông đã tạo ra. Tôi hy vọng ông ấy thoả mãn với điều đã tài tình làm cho Thượng Viện”.

Khi McConnell chấm dứt, Schumer đứng dậy, nói với cả hai phía, rằng phát biểu của McConnell là cách “ăn miếng tả miếng”, trình bầy một khía cạnh lịch sử bị bẻ cong. Ông nói: “Phía đa số Cộng Hoà thượng viện đang trên bờ vục thẳm tạo ra một sai lầm lịch sử khổng lồ. Những thiệt hại gây ra cho viện này sẽ không thể phục hồi”.

Schumer mô tả một đảng đạo đức giả, đã không có lý do chặn lại việc đề cử Merrick Garland vào TCPV năm 2016, rồi bây giờ hấp tấp chuẩn thuận Barrett, chỉ hơn một tuần trước ngày bầu cử mà hàng chục triệu cử tri Mỹ đã bầu rồi. Schumer nói với phía Cộng Hoà: “Quý vị không có quyền tranh luận về nhất trí khi quý vị làm những gì đang làm”.“Phía đa số đã chà đạp lên thường tình, quy định, chuẩn mực, danh dự, giá trị, bất cứ thứ gì trong số này có thể trở ngại cho tham vọng đưa một người vào toà án để người này sẽ lấy đi những quyền của biết bao người Mỹ”.

Những ấm ức cũ

Khi Amy Barrett còn là cô bé 15 tuổi, một cuộc xung đột lịch sử đã diễn ra giũa Cộng Hoà và Dân Chủ tại Thượng Viện, chung quanh một ghế trống tại TCPV.

Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, sau khi Tổng Thống Reagan loan báo vào ngày 1 tháng 7, 1987, đề cử Thẩm Phán Phúc Thẩm Robert Bork vào TCPV, Nghị Sĩ Dân Chủ Edward Kennedy đã gắt gao phê bình, rằng:

“Nước Mỹ của Robert Bork là nơi phụ nữ buộc phải tới những nơi phá thai trong ngõ hẻm, da đen phải ngồi riêng ở quầy ăn trưa, cảnh sát thô bạo có thể phá cửa vào xét nhà dân lúc nửa đêm, học sinh không được dậy về thuyết tiến hoá, nhà văn và nghệ sĩ bị nhà cầm quyền kiểm duyệt tuỳ thích, và những cánh cửa toà liên bang đóng chặt trên ngón tay của hàng triệu người dân, đối với họ, tư pháp – thường là chỗ duy nhất – bảo vệ những quyền cá nhân là tâm điểm nền dân chủ của chúng ta”.

Tại Sao?

clip_image004

Các Nghị Sĩ Dân Chủ Joseph Biden, Chủ Tịch Uỷ Ban Tư Pháp và Edward Kennedy, thảo luận trong vụ chống Robert Bork, 1987 (John Durika/AP)

Giống các thẩm phán Leon Bazile; trong vụ Lovings của thập niên 50 thế kỷ trước; Thẩm Phán Antonin Scalia sau đó, và Thẩm Phán Amy Barrett bây giờ, Thẩm Phán Robert Bork từng là người rất xuất sắc từ khi còn đi học; là luật gia và giáo sư nổi tiếng – từng là thầy của Bill và Hillary Clinton, Jerry Brown, và John Bolton tại Yale –và cùng sùng đạo Công Giáo. Là người đạo hạnh gương mẫu, không có gì đáng chê trách về phương diện cá nhân.

Trong lãnh vực công, với chức Tổng Giám Đốc Tư Pháp (Solicitor General – chức vụ thứ nhì sau Bộ Trưởng Tư Pháp – Attorney General) thời Nixon, ông Bork đã theo lệnh Nixon, sa thải Công Tố Viên Đặc Biệt Archibald Cox, vì ông này đòi Nixon nộp các cuốn băng thu thanh tại Bạch Ốc trong vụ tai tiếng Watergate. Ông Bork miễn cưỡng lầm việc này, sau khi các cấp trên của ông đã từ chức để phản đối. Vào năm 1982, khi Tổng Thống Reagan đề cử ông vào địa vị thẩm phán toà phúc thẩm – Court of Appeals for the District of Columbia –, toàn thể Thượng Viện đã chấp thuận dễ dàng. Điều này chứng tỏ, việc ông theo lệnh Nixon sa thải ông Cox, không là nguyên nhân chống đối của phe Dân Chủ.

Nhưng 5 năm sau, khi cũng Reagan đề nghị ông vào TCPV, sóng gió đã nổi dậy từ đầu. Điều này chứng tỏ, lý do ông bị chống đối, không do những gì ông làm trong phạm vi cá nhân, hoặc thuộc lãnh vục hành chính, hay chính trị, mà từ quan điểm của ông đã thể hiện qua những phán quyết toà phúc thẩm. Ví dụ, trong vụ Deonenburg v. Zech vào năm 1984, Thẩm Phán Bork đã không chấp nhận quan điểm về Quyền riêng tư – right to privacy; một quyền đã được TCPV căn cứ vào đó để chấp nhận cho phá thai, trong vụ Roe v. Wade. Ông Bork cũng không chấp nhận quyền tự do ngôn luận đối với tư nhân, mà chỉ dành cho chính quyền, và các đảng phái chính trị. Ông cũng chủ trương cho các xí nghiệp lớn không bị trói buộc bởi quá nhiều quy luật, cho rằng điều này chỉ khiến giới tiêu thụ phải trả gá. Không những chống phá thai, ông Bork còn chống cả ngừa thai, và hôn nhân đồng tính.

Tóm lại, về quan điểm giải thích luật, cũng như Scalia cùng thời và Barrett bây giờ. Ông tự mô tả thuộc phái originalism, nghĩa là giải thích luật theo nghĩa nguyên thuỷ, khi nó được làm ra, không cần để ý tới đà tiến của xã hội. Chẳng hạn, ngay trong đoạn mở đầu của Hiến Pháp Mỹ, có ba chữ “insure domestic tranquility”, là bảo đảm an bình nội bộ. Nếu giải thích theo nghĩa rộng, một cuộc biểu tình ôn hoà, không đập phá, là không phạm tới an bình nội bộ. Nhưng cũng có thể nói, dù không đập phá, nhưng cũng gây trở ngại cho những người lưu thông, cho giới làm ăn buôn bán, thế là phạm tới an bình nội bộ. Ngoài ra, chuyện nhỏ hơn, như cãi nhau trong nhà, có phạm tới an bình nội bộ, có đáng để hàng xóm hay cảnh sát can thiệp không?

Chính vì quan điểm giải thích luật một cách chặt chẽ, bảo thủ, Thẩm Phán Bork đã bị hạ quá đậm trước cửa vào toà tối cao, bằng tỉ lệ 58 chống, 42 thuận.

Trong cuộc tranh luận trước khi bỏ phiếu, Nghị Sĩ Biden (ứng viên TT bây giờ), Chủ Tịch Uỷ Ban Tư Pháp Thượng Viện bấy giờ, phát biểu: “Tôi tin rằng tôi có những quyền, bởi vì tôi hiện hữu, bất kể chính quyền, không phải do chính quyền. Thẩm phán Bork tin rằng, các quyền đến từ đa số, qua Hiến Pháp đến những cá nhân, một quan điểm tôi phủ nhận.” (”I believe I have rights because I exist, in spite of my government, not because of my government. Judge Bork believes that rights flow from the majority, through the Constitution to individuals, a notion I reject”).

Sau cuộc bỏ phiếu với đa số phủ nhận Bork, Nghị Sĩ Biden phát biều cảm tưởng: “Tôi thích thắng cuộc”, vụ thắng lợi này “kém vui hơn các vụ khác, vì chúng ta đang nói về một người phải ngồi nhà nghe chuyện này, một người tốt lành chỉ vì đã có cái nhìn về Hiến Pháp không phù hợp với thời đại 1980 và 1990” (”I enjoy winning,” this particular victory was ”less enjoyable than others, because we are talking about a man who had to sit home and listen to this, a fine man who just had a view of the Constitution that is out of touch with the 1980’s and 1990’s”).

Cộng Hoà thua đậm Dân Chủ qua vụ Robert Bork vào năm 1987, đên nỗi, tên ông Bork, đã biến thành động từ “to bork,” có nghĩa một người bị loại, khi được đề cử vào một chức vị nào đó. Nhưng từ 2015, sau khi chiếm được đa số qua vụ bầu cử giữa kỳ năm 2014, Cộng Hoà đã thắng liên tiếp trong việc đưa người vào các toà liên bang, do lỗi lầm của Dân Chủ. Vào 2013, tuy Dân Chủ đa số, nhưng vẫn bị khối thiểu số do McConnell lãnh đạo, dùng thủ tục “nói dai” – filibuster, ngăn không cho biểu quyết chấp thuận các thẩm phán liên bang, do Obama đề cử. Muốn vượt qua filibuster, cần ít nhất 60 phiếu. Dân Chủ chỉ có đa số quá bán, không đủ 60 phiếu. Muốn thoát bế tắc này, Trưởng Khối Dân Chủ Harry Reid đã chủ trương thay đổi, bỏ rào cản filibuster, chỉ cần đa số thường khi chấp thuận thẩm phán liên bang. Nhờ đó, Dân Chủ cử chót lọt một số người.

Nhưng lợi bất cập hại. Chỉ hơn một năm sau, từ đầu 2015, Cộng Hoà có đa số, trong hai năm cuối của nhiệm kỳ 2, bao nhiêu người do Obama đề cử, đều bị ngâm. Cũng thời gian này, Trump ra ứng cử tổng thống, hứa với Cộng Hoà, sẵn sàng làm đầy chỗ trống tại các toà liên bang. Hồi 12 giờ 38 phút chiều, ngày 26 tháng 6 năm 2015, Trump tweeted nguyên văn: “If I win the presidency, judicial appointments will do the right thing unlike Bush’s appointee John Roberts on Obamacare” (Nếu tôi thắng chức tổng thống, những chọn lựa tư pháp sẽ làm đúng, không giống như John Roberts do Bush chọn đã làm với Obamacare) (Chủ Tịch TCPV John Roberts do Bush đề cử đã bỏ lá phiếu quyết định giữ lại Obamacare).

Năm 1993, tuy cả hai vợ chồng đều hoạt động trong ngành luật, sau khi nhậm chức tổng thống, Bill Clinton phải mất gần ba tháng mới kiếm ra bà Ruth Ginsburg. Còn Trump, là người kinh doanh nhà đất và sòng bạc, ngay khi còn là ứng cử viên năm 2016, đã công bố một danh sách các dự tuyển vào TCPV. Và trước khi bà Ginsburg qua đời, Trump đã công bố một danh sách tới 40 người thay thế. Bà Barrett là người hàng đầu trong danh sách này. Bà không phải là “người của Trump”. Cũng như hai người trước đó đã được Trump đưa vào TCPV, là Neil Gorsuch và Brett Kavanaugh, đều là những người tương đối còn trẻ, để có thể tại chức ba bốn thập niên, đều là những luật gia xuất sắc, đã được tổ chức Federalist Society chú ý, kết nạp, và chuẩn bị chu đáo từ khi còn đi học.

Ngoài việc không chấp thuận các thẩm phán liên bang cấp dưới từ đầu 2015, McConnell chặn cả thẩm phán tối cao do Obama đề nghị từ đầu năm 2016. Sau khi TPTC Antonin Scalia từ trần ngày 13 tháng 2, 2016, Obama đã đề cử người thay thế, là Merrick Garland, một thẩm phán lỗi lạc tại Court of Appeals for the District of Columbia Circuit, phục vụ cùng toà với nhiều người đã từ đây vào TCPV. Nhưng bị McConnell chặn ngay từ đầu, không điều trần, không biểu quyết, không có lý do bất thường như đại dịch Covid-19, mà chỉ vì một lý do, là năm có bầu cử tổng thống, phải đợi quyền đề cử cho người thắng cuộc. Nghị Sĩ Mitch McConnell đã nói ngay trong ngày Thẩm Phán Scalia từ trần, rằng: “Dân Mỹ cần phải có tiếng nói trong việc chọn Thẩm Phán Tối Cao kế tiếp của mình. Vì thế, chỗ trống này không nên có người ngồi cho đến khi chúng ta có một Tổng Thống mới” (The American people should have voice in the selection of their next Supreme Court Justice. Therefore this vacancy should not have filled until we have a new President). Nhờ vụ ngăn chặn này, một trong những việc làm đầu tiên của Tổng Thống Trump, là cử Thẩm Phán Neil Gorsuch vào TCPV. Đồng thời, Trump cũng có cơ hội đề cử hàng loạt thẩm phán vào các toà cấp dưới, lấp đầy những chỗ trống đã bị McConnell chặn lại trong năm cuối của Obama.

Nói lời, không thèm giữ lời! Hơn bốn năm sau, trong khi loan báo tin Thẩm Phán Ginsburg từ trần, chỉ 6 tuần trước ngày bầu cử năm 2020, Nghị Sĩ Mitch McConnell cho biết, người thay thế bà Ginsburg do Tổng Thống Trump đề cử sẽ được Thượng Viện tiến hành thủ tục chuẩn thuận. Đồng thời, ông Trump, vào ngày 23 tháng 9, tweeted cho mọi người biết rằng, theo ông nghĩ, kết quả bầu cử có thể được quyết định tại TCPV. Nên ông nghĩ, điều rất quan trọng là TCPV có đủ 9 thẩm phán. (I think this will end up in the Supreme Court. I think it’s very important that we have nine justices). Nên nhớ, cuộc bầu cử năm 2000, George W. Bush, tuy được ít phiếu cử tri đại chúng hơn đối thủ Al Gore, đã được TCPV xử cho thắng cử, với tỉ lệ 5-4.

McConnell nói trong phiên họp Thượng Viện hôm Chủ Nhật 25-10: “Thượng Viện đang làm đúng. Chúng ta đang tiến tới trong cuộc tuyển chọn này, và thưa các bạn đồng viện, vào tối mai, chúng ta sẽ có một thành viên mới cho TCPV”. McConnell còn nói thêm rằng: “Rất nhiều điều chúng ta đã thực hiện trong bốn năm qua sớm hay muộn sẽ bị xoá bỏ vì cuộc bầu cử sắp tới. Những điều ấy không thể làm gì được trong thời gian lâu nữa”.

Ngay trước giờ bỏ phiếu vào Thứ Hai 26 – 10, ông Schumer còn nặng lời chỉ trích phía Cộng Hòa: “Người dân Mỹ sẽ không bao giờ quên việc làm mất tin tưởng trắng trợn này. Họ sẽ không bao giờ quên việc các ông đã bất kể tiếng nói của họ, của những người đang đứng xếp hàng để bỏ phiếu theo lựa chọn của họ, không phải lựa chọn của các ông”. Mitch McConnell đáp lại rằng: “Lý do chúng tôi có thể làm như chúng tôi đã làm năm 2016, 2018 và 2020 vì chúng tôi đã có đa số”. Lời qua tiếng lại mãi, rồi cũng đến lúc bỏ phiếu, thể hiện tình trạng chia rẽ chưa từng có trong lịch sử chuẩn thuận người vào TCPV.

clip_image006

Thượng Viện đã chấp thuận bà Amy Coney Barrett trở thành Thẩm Phán TCPV, thay thế bà Ruth Bader Ginsburg, với 52 phiếu thuận và 48 phiếu chống (Washington Post)

Đám cưới chạy tang

Sau đúng một tháng sóng gió từ khi được đề cử, và cả cuối tuần tranh cãi gắt gao giữa hai họ Dân chủ và Cộng Hòa, cuối cùng, Thượng Viện đã bỏ phiếu chấp thuận bà Amy Coney Barrett (ACB), trở thành Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện thứ 115 trong lịch sử 231 năm của toà án cao nhất này, vào lúc hơn 8 giờ tối ngày 26 tháng 10, chỉ một tuần trước cuộc bầu cử ngày 3-11, 2020. Và mọi việc đều diễn ra hối hả, làm lấy được, như trong một đám cưới chạy tang. Một lễ tuyên thệ cho tân giai nhân đã diễn ra chỉ một giờ sau, tại vườn hồng Bạch Ốc ngay trong đêm, với vị chủ trì là TPTC Clarence Thomas, khách tham dự đeo khẩu trang, thay cho khăn tang. Đây là lễ tuyên thệ trung thành với Hiến Pháp. Lễ tuyên thệ giữ lề luật TCPV sẽ diễn ra ngày hôm sau, do Chủ Tịch John Roberts chủ trì tại TCPV.

clip_image008

ACB tuyên thệ nhậm chức (The Washington Post)

Trong lời phát biểu ngắn sau khi tuyên thệ, Tân Thẩm Phán nói: “Một thẩm phán tuyên dương sự độc lập của mình không phải chỉ từ Quốc Hội và Tổng Thống, nhưng cũng từ những quan điểm riêng tư mà lúc thường có khả năng lay chuyển họ.” Phát biểu này có vẻ khác với quan điểm của vị thẩm phán trong vụ án Lovings, quan niệm rằng Chúa đã tạo ra những chủng tộc khác mầu da, cho ở tại các lục địa khác nhau, và không nên cho họ pha giống qua hôn nhân.

Sẽ không có thời kỳ trăng mật, rất nhiều công việc hệ trọng đang đợi cô dâu mới. Việc đầu tiên là ngày 10 tháng 11 tới, Barrett sẽ phải tham dự quyết định về số phận của Obamacare, còn gọi tắt là ACA (Affordable Care Act), cái thứ là bình phong che chở bệnh nhân nghèo, nhưng Tổng Thống Trump ghét cay ghét đắng, ông hứa loại bỏ từ khi còn tranh cử hơn bốn năm trước, mà đến nay vẫn chưa làm được. Trong thời gian sát hạch, cô dâu ACB đã tránh trả lời trực tiếp mọi câu hỏi hắc búa, khiến Nghị Sĩ Edward Markey (D-Mass.) đã cả quyết: “Chúng ta có thể có ACA hoạc ACB, nhưng không thể có cả hai”. Bây giờ, ACB phải quyết định về số phận của ACA, không thể tránh né thử thách này nữa. Và tất nhiên, cũng không tránh khỏi những vụ kiện rắc rối liên hệ tới cuộc bầu cử tuần tới. Ấy là chưa kể tới những chuyện quan trọng khác, như phá thai, ngừa thai, hôn nhân đồng tính, bảo vệ môi sinh, quyền bầu cử, tiền tranh cử, bảo vệ người tiêu thụ, người làm việc…

Với Amy Coney Barrett, phe bảo thủ từ địa vị thiểu số 3 hay 4 chống 5, nay đã thành đa số 6 đè 3, một tỉ lệ như chỉ có trong mơ. Muốn biết vai trò TPTC quan trọng thế nào, chỉ cần nhớ lại cuộc bầu cử hai chục năm trước. Ông George W. Bush đã đắc cử nhờ một quyết định của TCPV với tỉ lệ 5-4. Trong 5 phiếu đa số này, một phiếu là của TPTC Clarence Thomas, người duy nhất do ông Bush cha đề cử. Ông Bush cha mất một nhiệm kỳ, nhưng nhờ lá phiếu của người do ông đề cử vào TCPV, con ông có hai nhiệm kỳ. Mất một được hai!

Cựu công tố liên bang James D. Zirin có nhận xét đáng chú ý về đa số bảo thủ mới tại TCPV, ông viết trên The Hill hôm 26 tháng 10: “Chúng ta có thể trên đường tới chỗ có một tổng thống không được bầu theo ý chí của dân, nhưng bởi các thẩm phán không được dân bầu.” (We may be on the road to having a president who is not elected by the will of the people, but by unelected judges).

bài đã đăng của Đinh Từ Thức


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

2 Bình luận

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)