Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định, Tư Liệu Email bài này

Ông Đại Sứ và Ông Tổng Thống: Nhìn lại cuộc đảo chánh 1-11-1963 tại Sàigòn 60 năm trước (kỳ 1)

image_thumb.png

image
Tammy Nguyen, Ngô Đình Diệm, 2023
Courtesy of Tammy Nguyen and Lehmann Maupin, New York, Hongkong, Seoul, and London
Hiện triển lãm tại
Institute of Contemporary Art (ICA), Boston, Massachusetts

Henry Cabot Lodge: … tất cả bọn họ sẽ bị ám sát: con gái bà ta, con rể Nhu, và Tổng Thống Diệm. Và bà ấy nói, tất cả bọn họ sẽ bị ám sát. Tôi không còn nghi ngờ gì về điều đó. Chỉ còn một hy vọng là họ sẽ ra đi. Và bà ấy nói, “Tôi hy vọng ông” – Lodge, sẽ khuyên họ ra đi.

Bản ký tự (transcript — từ kho lưu trữ của Bộ Quốc Phòng Hoa kỳ) ghi lại cuộc đối thoại giữa Đại Sứ Mỹ mới được chỉ định là Henry Cabot Lodge Jr. và Tổng Thống John F. Kennedy diễn ra tại Bạch Ốc vào hồi 11 giờ sáng, ngày 15 tháng 8, 1963, bắt đầu như vậy.

Người phụ nữ đã tiên đoán về cuộc thảm sát anh em ông Diệm tại Sàigòn không đầy ba tháng sau đó, vào sáng ngày 1-11, 1963, là bà Thân Thị Nam Trân, vợ ông Trần Văn Chương, Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Hoa Thịnh Đốn, và cũng là mẹ của bà Ngô Đình Nhu.

Đại Sứ Lodge và Tổng Thống Kennedy thuộc về hai gia đình là đối thủ chính trị của nhau qua nhiều thế hệ, cùng ở tiểu bang Massachusetts; một người thuộc đảng Cộng Hoà, một người là Dân Chủ. Ông của Lodge, là nghị sĩ Quốc Hội từ năm 1893, đã thắng ông ngoại cùa Kennedy là John Fitzgerald trong cuộc bầu cử Thượng Viện năm 1916. Henry Cabot Lodge Jr., sinh năm 1902, già hơn Kennedy tới 15 tuổi, khởi đầu sự nghiệp bằng nghề viết báo gần mười năm, trước khi tham gia chính trị. Đắc cử dân biểu tiểu bang năm 31 tuổi, rồi đắc cử nghị sĩ liên bang ba năm sau. Năm 1946, khi Kennedy đắc cử dân biểu lần đầu tiên, Lodge đắc cử nghị sĩ lần thứ ba.

Cuộc bầu cử năm 1952, trong khi cố gắng giúp Eisenhower đắc cử tổng thống, ông Lodge đã bị Kennedy đánh bật khỏi chiếc ghế nghị sĩ của mình. Trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 năm 1960, liên danh Nixon-Lodge đã bị bại trước liên danh Kennedy-Johnson. Rồi hai năm sau, em trai Ted của Kennedy lại đánh bại con trai Lodge trong cuộc tranh dành chiếc ghế nghị sĩ từng thuộc về cha anh mình.

Là đối thủ chính trị qua nhiều đời, tại sao Kennedy chọn Lodge làm đại diện cho mình tại Nam Việt Nam vào giữa năm 1963?

Henry Cabot Lodge and Ngô Đình Diệm
Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge Jr. và Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm (Sàigòn, 26-08-1963)

Một Tổng thống mới lên cầm quyền, thường thay đổi một loạt đại sứ cũ bằng người của mình; là cơ hội để cảm ơn những người đã làm ơn cho mình bằng cách cho họ chức Đại Sứ tại những nhiệm sở không quan trọng, hoặc cử những người có khả năng và uy tín tại những nơi quan trọng, để thực hiện đường lối của mình. Tống Thống Kennedy gửi đối thủ Lodge tới Nam VN, thuộc vào trường hợp đặc biệt. Dư luận cho rằng đó là nước cờ cao, để chia sẻ bớt trách nhiệm nặng nề về vấn đề VN. Dùng đối thủ làm việc cho mình, là cách tốt nhất để chặn chỉ trích từ phía đối lập, và nếu thất bại, trách nhiệm của mình cũng nhẹ hơn. Về phía ông Lodge, đi Sàigòn cũng là con đường hứa hẹn đưa tới Bạch Ốc sau này. Đôi bên cùng có lợi! Dù sao, đó là những lý do thầm kín, nếu đúng, cũng chẳng bên nào nói thẳng ra.

Ông Lodge là đại sứ thứ nhì được Kennedy gửi tới Sàigòn, vào lúc tình hình ở đó trong tình trạng cực kỳ nghiêm trọng. Khi mới cầm quyền, Kennedy đã cử một nhà ngoại giao chuyên nghiệp sang VNCH vào tháng Năm 1961, là Đại Sứ Frederick Nolting, thay thế đại sứ ở đó là Elbridge Durbrow, do Tổng Thống Eisenhower – người tiền nhiệm của Kennedy — đề cử.

Trong 60 năm qua, rất nhiều người đã viết về cuộc đảo chánh 1-11-63, và hầu hết các tác giả người Việt đều nói rằng, nguyên nhân chính của cuộc đảo chánh là ông Kennedy muốn đưa quân Mỹ tới chiến đấu ở VN, trong khi ông Diệm chống lại, nên Mỹ phải lật ông Diệm để thực hiện đường lối của mình. Trong khi ấy, các tài liệu chính thức của Mỹ cho biết, sau Thế Chiến thứ Hai, các Tổng Thống Mỹ từ Roosevelt, Truman, Eisenhower cho đến Kennedy, không ai chủ trương đem quân Mỹ tới chiến đấu ở Đông Dương. Để sáng tỏ vấn đề, loạt bài này căn cứ ngay vào nhận định của các vai chính trong cuộc, như đại sứ, tổng thống, qua các cuộc phỏng vấn hay tài liệu đã được giải mật, để biết đâu là sự thật.

Đại Sứ Durbrow và cuộc đảo chánh 11-11-1960

Cặp Kennedy-Johnson thắng Nixon-Lodge trong cuộc bầu cử 8 tháng 11, 1960, chỉ vài hôm sau, chưa kịp nhậm chức, đã nổ ra cuộc đảo chánh 11 tháng 11, 1960 tại Sàigòn, do Nguyễn Chánh Thi chỉ huy lực lượng Nhảy Dù, và một số chính khách đối lập chủ động. Tuy cuộc đảo chánh thất bại, nhưng đã gây tiếng vang trong dư luận Mỹ. Một trong những người ngoại quốc có dính dáng tới vụ này, sau đó bị trục xuất khỏi VN, là một viên chức cấp thấp thuộc Sứ Quán Mỹ.

Mới ba năm trước. dưới thời Eisenhower, Tổng Thống Diệm đã được tưng bừng đón tiếp tại Hoa Kỳ, được báo chí tung hô như một kỳ nhân (miracle man) từ Á châu, được Tổng Thống Mỹ ra tận phi trường Thủ Đô Washington nghênh đón theo lễ nghi quân cách, đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc Hội, họp báo tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia, được rước dọc Đại Lộ số 5, Nữu Ước…

Đại sứ Mỹ tại Sàigòn khi nổ ra cuộc đảo chánh bất ngờ này là Elbridge Durbrow, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, được Eisenhower cử tới Sàigòn vào năm 1957. Theo một cuộc phỏng vấn của nhà báo và sử gia Stanley Karnow lưu trữ trong kho tài liệu OpenVault WGBH vào năm 1979, Durbrow cho biết khi ông tới Sàigòn, Bình Xuyên và các phe phái chống đối đều đã bị dẹp yên, và về căn bản, thành phố bắt đầu thịnh vượng. Ông cho biết cảm tưởng đầu tiên của mình về ông Diệm là một người rất nghiêm trang, rất chăm chú, rất chịu khó, là một người Việt yêu nước vĩ đại (a great Vietnamese patriot), và cũng là người rất độc đoán, không uỷ quyền cho ai hết; cái gì cũng muốn tự làm lấy, kể cả những việc nhỏ nhặt. Durbrow cho biết thêm về Diệm: “Ông ấy nắm được các vấn đề, vì ông ấy làm việc nhiều; có khi tới mười bảy hay mười tám tiếng mỗi ngày. Ông ấy là một giáo dân Công Giáo tự nguyện độc thân, không phải lo về gia đình. Ông ấy rất chống Cộng, vì một trong những người anh của ông ấy đã bị Cộng Sản giết vào thời kỳ 1945-46, và, về căn bản, ông ấy là người thân Mỹ.”

Được người phỏng vấn hỏi, nhìn lại, liệu Hoa Kỳ ủng hộ ông Diệm có phải là việc làm đúng, Đại Sứ Durbrow đã xác nhận là đúng, vì theo ông, Mỹ chẳng có lựa chọn nào khác. “Có thể [Ông Diệm] đã không ưa tất cả những gì chúng ta thích, nhưng ông ấy ở phía chúng ta.” Được hỏi Diệm đã được nhiều giới chức Mỹ ca tụng tại Mỹ như một “kỳ nhân” của Á châu, có phải vì điều này mà không ai có thể khuyên ông ta thay đổi? Durbrow nói không hẳn là vậy, vì theo ông, sau khi ổn định tình hình, ông Diệm đã không có những thay đổi ngoạn mục để mở rộng sinh hoạt dân chủ như đòi hỏi của phía đối lập và dư luận báo chí, do là hạt giống dân chủ chỉ mới được gieo rắc ở Phi và Á châu từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, không thể so sánh với nền dân chủ đã trưởng thành ở Âu Mỹ. Cần phải có thời gian để trưởng thành, để thay đổi từ từ.

Durbrow cũng nói về ông bà Nhu, nhận định rằng Nhu là một người rất thông minh, chăm chú, thành thật, nhưng thuộc loại mưu lược hơn Diệm. Durbrow cho rằng hai anh em ông Diệm tuỳ thuộc lẫn nhau; Diệm nhờ em cố vấn, và làm những việc ông ta không tự làm được, nhưng Diệm là chủ, Nhu không thể tự ý hành động, và phải nhận lệnh từ Diệm. Còn về bà Nhu, Durbrow cho rằng bà ấy ráng xía vào mọi chuyện. Ông kể, có lần trong một bữa ăn thân mật, ông đã thấy ông Diệm nhướng mắt nhìn bà Nhu, như một cách ra hiệu ”làm ơn im đi”. Bà ấy rất thông minh, hấp dẫn, hoạt bát, và có khi hơi quá trớn trong việc góp ý kiến của mình khi không thật sự cần thiết.

Người phỏng vấn đặt vấn đề: Ông Diệm đã gặt hái nhiều thành quả vào cuối thập niên 50, nhưng rồi từ 1960, uy tín của ông ấy bị suy giảm, và có báo cáo lúc ấy cho rằng ông ấy đã phải đối phó với những vấn đề nghiêm trọng, cả về quân sự lẫn chính trị nội bộ. Điều gì đã đưa đến tình trạng này?

Đại Sứ Durbrow trả lời rằng, theo ông, Việt Cộng đã để lại Miền Nam sau năm 1954 từ 3,000-5,000 cán bộ đã được huấn luyện, điều đáng lẽ họ không được làm theo quy định của Hiệp Định Genève, với hy vọng họ có thể lật Diệm và đoạt lấy chính quyền vào các năm 55, 56. Cho đến năm 1959, điều này đã không xảy ra, trong khi kinh tế miền Nam phát triển tốt đẹp, sản lượng các vườn cao su lớn hơn trước chiến tranh, mang về nhiều triệu đô la mỗi năm. Mức sản xuất gạo cũng cao hơn hồi 57, 58, mọi sự đều hoạt động tốt đẹp. Và, tôi nghĩ rằng, vào lúc đó, Hà Nội nghĩ rằng họ không thể chiếm được chính quyền miền Nam bằng số cán bộ nằm vùng. Khoảng năm 59, miền Bắc đã quyết định gửi thêm quân và đồ trang bị vào Nam.

Vẫn theo Durbrow, vào tháng Bảy 59, phía Cộng quân đã có cuộc đột kích quan trọng vào Căn Cứ Không Quân Biên Hoà, khiến hai sĩ quan Mỹ thiệt mạng, là những thiệt hại nhân mạng đầu tiên của Mỹ trong chiến tranh VN. Đến tháng Hai 1960, các đơn vị quân sự của Cộng sản đã được thành lập tới cấp tiểu đoàn, và họ đã tấn công ở Tây Ninh, để cướp súng đạn và tiếp liệu y khoa. Và đến tháng 11, 1960, họ đã có những cuộc tấn công lớn hơn tại hai ba nơi ở vùng Pleiku-Kontum trên cao nguyên, và phá hoại rất nhiều dụng cụ ông Diệm dùng làm con đường huyết mạch ở cao nguyên, song hành với đường mòn HCM. Những việc này tạo vấn đề về quân sự cho Diệm, không phải vì ông ta thiếu chuẩn bị để phòng thủ, nhưng vì phải đối phó với một áp lực lớn hơn nhiều so với năm 1954.

Ngoài ra, vẫn theo lời Durbrow, vào cuối năm 1960, trước nguồn tin có không vận tiếp liệu tại Cánh Đồng Chum bên Lào, ông đã cử tuỳ viên quân sự tới đó vào giữa tháng 12, 1960, và người này đã tận mắt chứng kiến những máy bay vận tải Sô-viết IL-16, IL-14 bay trên Cánh Đồng Chum, thả người và đồ tiếp liệu. Tùy viên của Durbrow cũng nhìn thấy cả một xe ủi đất được thả xuống. Người này đã được yêu cầu trở lại để lấy thêm tin tức và chụp hình, vào khoảng 23 hay 24 tháng 12, và đã thấy nhiều xe ủi đất trên đường bay ở Cánh Đồng Chum. Chiếc Dacota C-47 mà ông ta sử dụng đã bị bắn từ dưới đất, nhưng không ai việc gì. Như vậy, suốt thời gian từ 59, 60, Hà Nội đã quyết tâm gia tăng chiến dịch quân sự trên quy mô lớn, mở Đường Mòn HCM, và thực sự khởi đầu gia tăng áp lực quân sự.

Cùng với việc Cộng Sản sử dụng lãnh thổ Lào ở miền Bắc, họ còn sử dụng lãnh thổ Căm Bốt ở miền Nam, cho mục tiêu xâm chiến Nam VN. Đại Sứ Durbrow kể rằng, nhờ bạn ông là Đại Sứ Mỹ ở Căm Bốt, ông đã dễ dàng gặp và nói truyện với Shihanouk. Một hôm, ông hỏi Quốc Trưởng Căm Bốt: “Hai nước các ông muốn xích lại gần nhau, sao ông không đuổi bọn Việt Minh khỏi các sào huyệt chúng đang sử dụng ở phía Nam trên lãnh thổ nước ông?” Và Shihanouk đã trả lời: “Tôi không thể làm gì về điều đó. Quân lực của tôi chỉ có 25 ngàn quân, chỉ có một con đường để tới đó. Giữa chúng ta và và đám quân Việt Minh đang quấy rối Việt Nam từ lãnh thổ chúng tôi, có cả một vùng lầy và tôi không thích điều này, nhưng tôi có thể làm gì được?”

Cũng trong lãnh vực quân sự, Durbrow cho biết một chuyện quan trọng khác, không phải về phía đối phương, mà về phía Mỹ. Đó là chiều hướng thiết lập quân đội Nam Việt Nam lúc đầu. Ông cho biết, từ đầu, thay vì gây dựng một đạo quân chống du kích, Mỹ đã giúp thiết lập một đạo binh lớn theo quy ước, kiểu quân đội chiến đấu thời Thế Chiến thứ Hai, đề phòng đối phó với cuộc xâm lăng lớn từ miền Bắc. Mãi đến năm 1958, chính ông là người đã vận động để thực hiện thay đổi cách tổ chức và huấn luyện cho quân đội Nam VN. Và ông đã gặp nhiều khó khăn vì sự chống đối của một số tướng lãnh Mỹ, ngay trong hàng ngũ phái bộ Mỹ do ông đứng đầu tại Sàigòn.

Trước câu hỏi ông nghĩ sao về tình hình nội bộ tại Sàigòn sau cuộc đảo chánh thất bại, nhiều người bắt đầu hoài nghi về ông Diệm, coi biến cố này như một sự báo động, và muốn có thay đổi, cởi mở hơn, Đại Sứ Durbrow trả lời rằng do ông là người giỏi tiếng Pháp, thường nói chuyện thân tình và thẳng thắn với ông Diệm mà không cần qua thông ngôn. Ông từng nói với ông Diệm nên cởi mở hơn, nên chia sẻ với người khác nhiều việc tốt ông đã làm, hoặc những dự tính ông muốn làm, nhưng ông Diệm không muốn, hoặc chỉ thay đổi rất ít.

Về cuộc đảo chánh năm 1960, Durbrow nói ông không biết gì cả, cho đến khi nghe tiếng súng nổ vào sáng sớm 11-11, rồi sau đó mới được Bill Colby, trưởng cơ quan CIA ở Sàigòn báo cáo tình hình. Cuộc đảo chánh kéo dài qua đêm, cho đến sáng hôm sau thì nhóm chủ động bỏ chạy. Durbrow kể, vào hai giờ sáng hôm 12 tháng 11, có điện thoại gọi ông. Người đầu giây bên kia xưng là phụ tá tổng thống muốn nói chuyện với ông. Ộng nhận ra giọng người gọi, và người đó cho biết: “Tôi gọi từ phi trường Tân Sơn Nhất, ở đây có năm khẩu đại bác 105 ly chĩa vào dinh. Nếu ông không gọi Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bảo ông ấy đầu hàng ngay, chúng tôi sẽ phải nã đại pháo”. Đại sứ Durbrow đã từ chối làm theo, và sau được biết là người gọi đã bị phe đảo chánh bắt, và buộc phải gọi.

Đại Sứ Durbrow rời nhiệm sở vào tháng Năm 1961, liên hệ tốt đẹp giữa chính quyền Eisenhower với chính quyền Ngô Đình Diệm chấm dứt, chính sách Mỹ đối với Việt Nam sang tay chính quyền Kennedy.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Đinh Từ Thức

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)