Bài viết mới nhất trên Da Màu của nhà thơ Nguyễn Tiến Đức là bài Ngôn Ngữ Đen Của Cuộc Chiến Bi Thảm, đăng ngày 30 tháng 4, 2024. Ở đầu bài, tác giả ghi chú đây là trích đoạn của tác phẩm Đau Khổ Học Việt Nam. Có lẽ bài viết này nằm trong công trình mà Nguyễn Tiến Đức đã khởi sự viết từ một thời gian trước đó. Như vậy, một bài khác của ông đăng vào ngày 13 tháng 3 cùng năm, mới thật sự là bài viết cuối cùng của tác giả. Người viết bài được hân hạnh nhận nhiệm vụ hiệu đính bài này trước khi đăng nên có dịp hoà vào từng câu, từng chữ, từng ý của tác giả, một cơ hội không phải lúc nào cũng có được.
Cùng thưởng thức một tác phẩm, mỗi người trong chúng ta có thể nhận nhìn nó từ nhiều góc cạnh khác nhau, với nhiều cảm xúc khác nhau. Đề tài tôi muốn nói đến trong bài này tập trung vào từ pháp, thể hiện qua những dòng văn xuôi của Nguyễn Tiến Đức trong bài viết nói trên. Khái niệm tương đương với từ pháp trong tiếng Anh là “word syntax”[1]. Đây cũng là chủ đề thuộc về một công trình khảo cứu của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Elisabeth Selkirk[2]. Phần tóm tắt về cuốn sách này có thể được tạm dịch như sau: “Khảo sát từ ngữ phức hợp—từ ngữ kép và những hình thái có liên quan đến tiến trình thêm phụ tố phái sinh hay biến tố—theo quan điểm cú pháp, bao gồm cả cấu trúc của từ ngữ lẫn hệ thống các định luật phát sinh ra cấu trúc đó”.[3]
Ngay từ tựa đề của bài phiếm luận, Nguyễn Tiến Đức đã chọn một cách tạo từ ngữ đầy dụng ý để làm tăng hiệu ứng của nội dung bài. Ông cho biết đã lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết của nhà văn nữ Hoa Kỳ Jacqueline Susann, có nhan đề Valley of the Dolls, mà ông dịch ra tiếng Việt là Thung Lũng Búp Bê, ngay sau phần tiếng Anh. Tuy nhiên, tựa đề mà ông dùng cho bài viết lại là Xuống Thung Lũng Búp Bê Quỷ. Tại sao là “Búp Bê Quỷ”, chúng ta sẽ hiểu khi đọc hết bài. Điều mà tôi muốn nói ở đây là cách tác giả chọn danh từ “quỷ” theo sau danh từ “búp bê”, thay vì dùng một tính từ, chẳng hạn như “quỷ quái”, “xấu xa”, “hư đốn”, v.v. Sự khác nhau giữa hai cấu trúc làm rõ sắc thái tinh tế của ngữ nghĩa dựa trên cách thành lập chữ. Dù chọn cấu trúc nào, tác giả cũng sẽ tạo ra hai danh ngữ (noun phrase): [búp bê quỷ] và [búp bê quỷ quái]. Danh ngữ thứ nhất có cấu trúc [danh từ + danh từ] (tạo thành một danh từ kép kết hợp, coordinative compound noun), còn danh ngữ thứ hai có kết cấu [danh từ + tính từ] (danh từ đơn, simple noun, có hình dung từ đi theo). Danh từ kép “búp bê quỷ” hàm ý “những con búp bê là quỷ” hay “những con quỷ có hình dạng búp bê”, vì hai danh từ có vai trò ngang nhau, khái niệm này chính là khái niệm kia, hay A=B và ngược lại. Trong trường hợp danh từ đơn có tính từ miêu tả, “búp bê quỷ quái”, ý nghĩa chỉ là “những con búp bê có thuộc tính của quỷ” (mà không nhất thiết là quỷ). Danh từ kép, vì thế, vẫn thường có ý nghĩa mạnh mẽ hơn danh từ đơn vì vừa gọn, vừa hàm súc; trong khi danh từ đơn, dù có nhiều hình dung từ theo sau cũng có thể không lột tả được bản chất của một thực thể hay khái niệm.
Khi để nhóm chữ “Búp Bê Quỷ” ngay sau danh từ “Thung Lũng” (mà không cần một giới từ như chữ “of” trong tiếng Anh để kết nối, Valley of the Dolls), Nguyễn Tiến Đức đã tạo ra một danh ngữ chặt chẽ, mạnh mẽ, súc tích hơn, gợi sự chú ý cho độc giả ngay từ tựa đề của bài viết.
Đi vào vài đoạn trong phần đầu, chúng ta bắt gặp một từ ngữ khá lạ mắt (và lạ tai!). Lần này, tác giả dùng một động từ mà ông cẩn thận bỏ vào trong ngoặc kép, rất mới, rất riêng tư, rất “Nguyễn Tiến Đức”: “Tay trái của diễn viên luôn luôn là một điếu thuốc, hoặc một vốc ma túy. Tay phải luôn luôn là một ly rượu mạnh, thậm chí cả một chai rượu mạnh để tu. Họ “tu phiêu” với Valium hoặc barbiturates”.
“Tu phiêu”! Nguyễn Tiến Đức dùng chữ kiểu gì đây, bây giờ không còn ông để hỏi, nên đành phải đoán già đoán non. Có thể là ông đã “Việt hoá” (hay đọc theo kiểu tiếng Việt) động từ tiếng Anh “to feel”, đại khái là “tìm cảm giác (mạnh)” chăng? Hay ông tạo ra (coining) một động từ kép kết hợp, với cấu trúc [động từ + động từ], trong đó động từ thứ nhất (là chữ thuần Việt?), “tu” (“uống thẳng từ một cái chai”, ở đây là rượu), và động từ thứ hai là chữ gốc Hán “phiêu”, 飄, với nghĩa “bay một cách nhẹ nhàng”, ám chỉ cảm giác lâng lâng khi dùng ma tuý. Hoặc giả ông đã tình cờ khám phá một lối chơi chữ trong đó tiếng Anh giao duyên với tiếng Việt và tiếng Hán. Dù sao đi nữa, động từ “tu phiêu” ông dùng ở đây rất “đắc”, rất tượng hình, đồng thời cho thấy sự dí dỏm của người viết khi miêu tả chuyện rượu chè thuốc sái.
Bàn về thú hút thuốc lá, Nguyễn Tiến Đức viết: “Có nhà thơ ví những sợi thuốc rê vấn tay như làn tóc rối của người yêu, nâng niu điếu thuốc, đưa hồn vào cõi mộng trời quên!”
Viết văn, làm thơ là cả một công trình sáng tạo. Sáng tạo ý tứ, sáng tạo hình ảnh, âm thanh, cảm giác, cảm xúc, và lẽ tất nhiên phải kể đến sáng tạo ngôn ngữ. So với âm nhạc, ngôn ngữ phong phú hơn nhiều. Trong âm nhạc, chỉ với bảy nốt nhạc mà chúng ta đã có biết bao nhiêu là nhạc phẩm tuyệt diệu, thiên hình vạn trạng. Huống hồ gì trong ngôn ngữ, với cơ man nào là chữ và chữ, nhà văn, nhà thơ tha hồ sử dụng, kết hợp, phân tách, tạo ra từ ngữ mới, kể cả những thành ngữ… không mới mà cũng rất mới, và “cõi mộng trời quên” của Nguyễn Tiến Đức trong trích đoạn trên đây là một ví dụ.
Nhà văn, lúc bắt đầu ngồi xuống viết, không phải lúc nào cũng có sẵn “chữ nghĩa trong túi để lấy ra dễ dàng”[4]. Chữ nghĩa hiện đến lúc đang viết, theo tình tiết, theo cảm xúc. Nguyễn Đức Tiến tạo ra nhóm chữ (mà sau này có thể trở thành một thành ngữ thông dụng) “cõi mộng trời quên”, có thể là trong giây phút xuất thần, ông tưởng tượng ra, và nắm bắt, cảm giác bềnh bồng, nồng say của khói thuốc đang đi vào từng mạch máu trong cơ thể. Tục ngữ và thành ngữ trong tiếng Việt thường ngắn gọn, có vần điệu và có cấu trúc biền ngẫu, cân đối. Để dạt được những điều kiện này, “cõi mộng trời quên” phải có cấu trúc [danh từ/danh từ + danh từ/danh từ]. “Cõi” và “trời” thì rõ là danh từ rồi. Còn “mộng” và “quên” thì sao? “Mộng” thường được xếp vào loại danh từ (nhưng nếu dùng như động từ như nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng thì còn hay bội phần “Đêm đêm mộng thấy đường đi đường về” [5]). “Quên”, mặt khác, vẫn được dùng như động từ trong hầu hết các trường hợp (“Em còn nhớ hay em đã quên?” [6] hoặc “Người ơi, khi cố quên là khi lòng nhớ thêm…” [7]); hiếm thấy ai dùng “quên” như một danh từ, ngoài Vũ Hoàng Chương (1916-1976), như thi sĩ dùng ở cuối đoạn thơ mà Nguyễn Tiến Đức đã trích dẫn (“… đưa hồn này về/cuối tận trời quên!”)[8]. Cùng lắm thì chữ “quên” cũng phải đi đôi với chữ “lãng” cho đầy đặn, nghe tròn trịa như một danh từ kép, như tựa đề bài hát được không ít người biết đến: bài Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng[9].
Nhưng… khi làm thơ cũng như lúc viết văn, thi sĩ hay văn sĩ thường được “cấp” một loại “giấy phép” (không biết do ai cấp!) mà tiếng Anh gọi là “poetic license”. “Giấy phép” này đem lại một vùng trời tự do cho những người cầm bút, lắm khi được “override” nhiều luật lệ hà khắc trong ngôn ngữ, bao hàm văn phạm và ngữ vựng và nhiều thứ khác. Cố nhiên là những lúc “xé rào ngôn ngữ”, người viết cũng phải còn… ý thức, lương tâm và trách nhiệm, chứ không phải muốn “xé” đến đâu thì “xé”!
Trong “cõi mộng trời quên”, hai vế đối nhau khá sít sao. Thứ nhất là về ý, “cõi mộng” là cõi không thực, mà “trời quên” cũng là một thế giới hư ảo; dưới bầu trời đó, người ta xua đuổi đi được những thực tế đáng buồn, đáng trốn tránh. Mặt khác, về thanh điệu, nếu “cõi mộng” bắt đầu thành ngữ bằng hai thanh trắc [ngã/phù thượng thanh + nặng/trầm khứ thanh], thì “trời quên” kết thúc bằng hai thanh bằng [huyền/ trầm bình thanh + ngang/phù bình thanh], nghe ra du dương và êm ái. Nghe, và cảm, chẳng khác gì được trực tiếp “phiêu” những sợi khói đang luồn vào từng ngõ ngách trong cơ thể, cùng những sợi khói được thở ra, bay quyện vào không gian, lãng đãng, mơ hồ giữa mộng và quên.
Cái hay của Nguyễn Tiến Đức là đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa một danh ngữ thường được xem là “cliché”, “cõi mộng”, với một danh ngữ hiếm hoi hơn là “trời quên”, có lẽ đã lấy cảm hứng từ một trong hai nghệ sĩ nổi tiếng (không biết chính xác được là từ người nào—một người là thi sĩ, còn người kia là nhạc sĩ), để tạo thành một thành ngữ cho riêng mình.
Tác giả đã kết thúc bài phiếm luận Xuống Thung Lũng Búp Bê Quỷ bằng một bài thơ của chính ông (mà ông ghi chú là muốn gởi gắm cho thế hệ Z như một lời khuyên răn, đừng sa vào nghiện ngập). Trong câu áp chót của bài thơ, ông đã dùng một tính từ kép thật đẹp và óng ả là “uyển diễm”. Về từ nguyên, “uyển” và “diễm” là hai danh từ chỉ hai loại ngọc khác nhau. “Uyển” là thứ ngọc đã mài, không còn góc cạnh, gợi lên nét mềm mại, dịu dàng; còn “diễm” là viên ngọc được mài giũa cho nhọn ở phần đỉnh và vuông vức ở phần đáy, tạo ra ánh lóng lánh. Như vậy, từ một danh từ kép kết hợp, “uyển diễm” đã được dùng như một tính từ[10], có thể tạm hiểu là “dịu dàng và lóng lánh”. Nguyễn Tiến Đức viết: “… Để anh có thể bảo vệ em/với lá chắn/ kết bằng những lời uyển diễm/của thi ca”. Một lần nữa, ông đã dùng một từ ngữ (khá hiếm hoi) rất trừu tượng, nhưng rất “mở”, mời gọi sự tương tác của độc giả. Lời lẽ trong thi ca, “uyển” như thế nào, và “diễm” ra sao, thật khó mà dùng định nghĩa để minh xác, mà chỉ có thể dựa vào cảm xúc và trí tưởng tượng của mỗi người, để nắm bắt và cảm nhận được hình ảnh và tư tưởng mà tác giả muốn diễn đạt, trong cõi vô cùng của văn chương, chữ nghĩa.
Trần C. Trí
Cuối năm 2024
[1] Cần phân biệt với “hình vị học” (morphology), trong đó cách cấu tạo từ ngữ độc lập với cú pháp (syntax). Khi nghiên cứu các thành lập từ ngữ một cách song song và cân bằng giữa hai ngành nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ học thường gọi ngành kết hợp này là “morphosyntax” (hay “cú pháp-hình vị học”).
[2] The Syntax of Words, Elisabeth Selkirk (1982), Cambridge (MA): MIT Press.
[3] An examination of complex words—compounds and those involving derivational and inflectional affixation—from a syntactic standpoint that encompasses both the structure of words and the system of rules for generating that structure.
[4] Theo một số nguồn thông tin, nhạc sĩ miền Bắc Nguyễn Xuân Khoát (1910-1993) đã nói về nhạc sĩ miền Nam Trịnh Công Sơn (1939-2001) như sau: “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”—tuy có nguồn lại cho rằng đây là nhận xét của nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995). Đáp lại, Trịnh Công Sơn nói: “Tôi có cảm tưởng cái túi này chưa vơi đi bao nhiêu”.
[5] Trong nhạc phẩm Đêm Nhớ Về Sài Gòn, sáng tác năm 1983.
[6] Trong nhạc phẩm có tựa đề cũng là câu hát đầu tiên này của Trịnh Công Sơn (sáng tác vào khoảng năm 1982).
[7] Trong nhạc phẩm Sầu Lẻ Bóng của nhạc sĩ Anh Bằng, sáng tác vào khoảng năm 1963.
[8] Bài thơ Quên của Vũ Hoàng Chương là trong tập Thơ Say (1940).
[9] Nhạc phẩm này xuất bản (hay tái bản?) vào ngày 10 tháng 4 năm 1974 của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (1929-2001).
[10] Trong hình vị học, đây là tiến trình “hoán chuyển” (conversion), trong đó một từ ngữ thuộc Từ Loại A được chuyển thành Từ Loại B.