Trang chính » Chuyên Đề, Cung Tích Biền, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

MỘT THỜI NÊN VẮNG MẶT- Cứt thỏ

bốn

Cứt th

Nằm co ro một nơi rất xa, đương nhiên nếu phải đêm lạnh lẽo, ta có quyền đắp mền/chiếu/rơm rạ. Miền rú rừng cao nguyên, chẳng hạn. Trong một đêm cuối năm, một mai những ngày xuân có thể trở lại, tôi có thể hình dung kinh thành Huế nhà cháy người chết nhiều nhất trong mùa Xuân ấy.

Một mùa trái rụng toàn đầu người.

Tôi rất nhớ thương Huế, nơi chôn sống một phần đời tôi trong ấy.

Nhớ Huế của tôi, là nhớ Vĩnh Th. người của Hoàng tộc. Tôi từng thân thiết với anh một thời Huế tạm là thanh bình. Huế êm đềm lặng tĩnh, nhưng Vĩnh, luôn một cõi lòng xao xuyến, bất thường.

Anh đỗ cử nhân triết, từ nước ngoài trở về quê nhà, đúng là từ Paris về, lúc cụ Ngô Đình Diệm, sau khi // Bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người, cứu đất nước thề tranh đấu không hề nguôi// đang là vị Tổng Thống, đầu tiên và duy nhất, của nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Vĩnh đi tu. Một loại tu hành rất xa lạ với chùa chiền. Không áo vàng kinh mõ. Chẳng áo chùng, thánh giá. Vĩnh, nghiêm chỉnh rất mực, luôn là người lưu giữ nét phong lưu sang quý, con cháu một dòng Vua. Mỗi lần rời khỏi nhà, anh mặc áo vét ngoài, áo sơ mi luôn màu trắng. Chân đôi giày đen xi bóng. Tay cặp một vài quyển sách. Để cái cần cổ dễ thở anh thường không thắt cà vạt.

Cách đi đứng của anh giữa phố phường, là chậm rãi, thẫn thờ. Đôi mắt buồn bí ẩn, như đang tìm kiếm trong mông lung một ai sẽ trở về. Nụ cười mỉm, luôn như cần giải thích một điều gì không qua lời.

Hằng ngày, rất như nhau, sớm mai anh leo xe buýt từ nhà xuống chợ Đông Ba, ngồi quán Lạc Sơn uống cốc cà phê nhìn phố thị. Anh chẳng bao giờ ăn một món gì ở hàng quán. Chiều, lại leo xe công cộng lên Thiên Mụ, Văn Thánh.

Nắng xứ Huế luôn mỏng manh, sương sớm lại rất dày. Chiều mùa hạ luôn những cơn mưa từ núi xa, về dần. Và, thường những ráng chiều đỏ ối, mặt trời le lói, khi tôi và anh trở lại. Xóm ngoại ô, bên kia cầu Bạch Hổ. Một lần, nhìn không trung mơ hoặc, Vĩnh bảo:

– Mặt trời ở đây bị nhuộm đỏ bằng nước trái gấc, thứ nước người ta dùng nấu xôi gấc.

Lại bảo:

– Trong cái mặt trời như mâm xôi đỏ ấy còn sót những hột gấc màu đen. Mặt trời ấy vẫn chưa thuần chủng.

Chừng anh bị kẹt một cái mặt nạ trong cổ họng. Điều này bình thường. Cũng như tôi, bộ não chừng như trong một chiếc xì-líp, lắm khi tôi rất ư suy nghĩ mà chẳng hiểu mình đang suy nghĩ cái quái gì.

“Nghĩ rằng mình có một cuộc đời, nhưng suốt cuộc riêng này mình đâu có quyền riêng tư xử dụng. Có ai đó đang xài cuộc đời tôi, đời anh, các anh, như anh đầu bếp xử con cá lóc trên tấm thớt.”

Trường phái tu hành của Vĩnh không phải ăn chay thực phẩm. Mà ăn cứt. Cứt thỏ. Từng viên khô. Màu xám đen, còn li ti những hạt. Không rõ hạt gì.

Tại sao chỉ ăn cứt thỏ phơi khô? Tôi không vặn hỏi anh sự vụ này. Không ích lợi gì về kiến thức. Đây là nội dung cứt thỏ, một nghịch giải, dị bản của ngôn ngữ hằng dụng.

Đạo của Vĩnh là tôn thờ sự Thối, và sự Quên.“Phải kính nể cái Thối, vì nó đánh thức danh dự làm người, từ đó biết rời bỏ, đoạn tuyệt. Tôn trọng sự Quên để riêng mình được sạch trơn, thoát ngoài những ô nhiễm lớn bé tròn méo đỏ vàng ngọt đắng mà cõi ta bà gieo rắc.

Tôi vẫn tin trong bầu trời, trên mặt đất hình như có một ít thần linh, một nhúm thánh hiền, khi, lẩn quất quanh đây là rất đông, là bàng bạc quỷ dữ.

Tôi cũng được tim phổi óc não dạy mình rằng rồi-mày-cũng-sẽ-chết, trăm phần trăm vậy. Nhưng chưa biết sẽ chết, cái chết, và cách chết ra sao. Chết vì đấu tranh, chết đau, chết đạn, hoặc vì thương nhớ quá mà chết.

Những ý nghĩ rồng rắn trên đây chẳng tốt lành chi. Thiếu đức nhân. Thâm hụt niềm tin. Có tỉ người xem những ý nghĩ trên đây là loại “tưởng ra” của bọn điên. Cách diễn tả có phần xiêu lạc thần hồn. Mạ lỵ niềm tin tôn giáo một cách vô học của súng đạn.

Rồi, hôm qua, hôm kia, thường trực hoặc lai rai, khi náo nhiệt lúc lạnh lùng, tôi cùng ăn cứt thỏ. Bàn ăn nhỏ, luôn có khăn bàn, chén đĩa đẹp đẽ, một bình hoa. Vĩnh cho ăn những bữa chay cứt thỏ. Chừng, anh có ma giáo trộn thêm bột, gia vị món nêm bát ngát mùi hương thoảng. Quả thực cái gọi-là-cứt-thỏ của Vĩnh thật ngon. Ăn, nhớ tới già.

Xứ sở này tàn tệ thật. Chiến tranh tàn phá và sự buồn phiền bào mòn cả thảy. Bom đạn kẽm gai rào chắn đã đành, lại rào chắn bởi vô hình tư tưởng. Cái hư ảo tuyệt cùng mộng mị mênh mông kia lại khiến con người chết chóc bị gậy gấp bội.

Cửa ngỏ lương tri bị khóa chặt. Lời chân thiện chẳng ai nghe. Mỗi chúng ta nằm im lạnh trong cái chuồng, lưới sắt ngăn chia, lũ thú canh chừng.

Để vùng thoát, như bọn cá mắc lưới, thì đương nhiên chúng nằm trong cái lưới mà hùng dũng vùng vẫy, một thời tôi với Vĩnh cùng nhau ngao du đó đây. Đó cũng là thời ồn ào vô bổ, những phong trào triết học hiện sinh, hư vô, buồn nôn phi lý, hậu quả mạng nhện sau trận Đệ nhị thế chiến, từ phương tây tràn tới. Thân-phận-màu-da-trắng của con người phương ấy, gây hấn với những “Nỗi buồn nhược tiểu” “Thân phận da vàng”, của tuổi trẻ phương này. Rất mông lung mà đột ngột.

Trong những trận cùng nhau ngao du ấy, chúng tôi có đọc hai bài diễn văn hùng hồn, chừng là nguồn điên loạn đã lưu loát bùng nổ.

Một bài tại vùng Thạch Trận, Quảng Ngãi, thuyết về cuộc chiến Bắc-Nam. Đa phần phản đối cuộc chiến huynh đệ này. Thính giả nghe bài diễn văn toàn là cây rừng, đá núi, hổ beo, chim chóc.

Bài diễn văn thứ hai đọc trong một cái nhà tiêu công cộng. Một bài diễn văn sâu sắc bàn về tư tưởng, các lập trường của đảng phái, các ý thức hệ chính trị. Thính giả là các loại chuột, bọ chét, ruồi muỗi. Khí hậu rất hôi mùi phân và nước đái người.

Thời cuộc đã chặt bụp cái tình trạng cận kề giữa tôi với Vĩnh. Tôi vào lính.

**

Tôi xa Huế cũng lâu.

Kinh đô Huế ngày xưa — càng lui về ngày cũ bao nhiêu Huế càng đẹp bấy nhiêu. Một cõi mờ mờ ảo ảo, lạnh và nồng, Huế có đó mà lung linh chẳng sờ ra dấu vết được.

Hình như Huế được làm bằng sương mai sương chiều. Trong ký ức tôi, Huế được bỏ trong cái nồi quê, mẹ nấu, để con ở xa thấy Huế qua làn khói chiều. Có thêm nắng hoàng hôn thì nhớ thương tắt thở.

Tôi nghe rằng người ta đã giết Vĩnh trong mùa Xuân đầu lâu súng đạn 1968.

Tôi vẫn mong Vĩnh của tôi đang còn sống nơi cố đô ấy. Dù, một cuộc mỏi mòn.





bài đã đăng của Cung Tích Biền


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)