Trang chính » Chuyên Đề, Cung Tích Biền, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

MỘT THỜI NÊN VĂNG MẶT- Bùa mê từ thuở dậy thì

tám

Bùa mê từ thuở dậy thì


Một hôm tôi hiểu ra mình khô và mốc cũ như con cá được dầm muối mặn, phơi khô qua vài ngày nắng, người thôn quê đem lũ cá ấy treo trên giàn bếp quê để nướng ăn dài lâu. Không là bếp điện. Chỉ là củi, lá khô, rơm rạ, đun giữa ba ông táo đất chụm lại, trên nhà. Bên cao trên bếp nấu, người ta dựng một cái giàn gỗ, đựng các vật dụng. Khói đen bay tù mù.

Người thôn quê cho rằng, muối trong thân cá, và khói đen từ củi đun trên giàn bếp, làm cho con cá phơi khô lâu bị hư hao. Có khi từ mùa hè sang mùa đông, bọn cá khô vẫn được nướng, đập cho sạch phần tro bụi, rồi ăn, ngon kinh. Những cái lưỡi này không nhận ra thực phẩm đã phần nào quá “đát” được xử dụng.

Treo mình trên căn bếp thời gian?

Con người, muốn giữ một cái “bản thân, bản sắc” cho khỏi thiu hôi bằng cách nhờ làn khói bếp tro than hằng ngày hằng bữa, cách này cũng muốn ói.”

Khói bếp quê cũng lụn tàn. Đồi quê, đồng quê, con sông quê cũng dần dà mờ khuất trong trí nhớ. Ra khỏi, trôi dần. Chỗ cuối bãi bờ, tôi nhớ, cái nhớ màu cỏ úa, một đêm “ngửi ra mùi da thịt người” thuở dậy thì.

Năm ấy tôi mười ba tuổi, sinh lực lẫn thần hồn tôi chưa biết mùi giao cấu nam nữ là gì. Một đêm tối trời, chị Hai Xuân xinh đẹp kéo tôi lên giường ngủ cùng chị. Hồi này dân miền quê chưa biết tới ánh điện. Đêm có trăng mơ màng, không trăng xóm làng tối thui một cái túi mực, chỉ lấm tấm trên kia sao trời.

Một trời ấm, chị gái quê như con ngựa cái bồng bồng, mồ hôi thơm mùi dầu dừa tóc. Thôn nữ thời này gội đầu bằng nước bồ kết, bôi dầu dừa cho tóc óng mượt, chải tóc bằng cái lược làm từ sừng trâu, ngực gái cái yếm vải may hai lớp che vú. Cái nịt vú “âu hóa”, là “xú chiêng”, hay “xú cheng” gì ấy, chỉ bắt đầu một ít gái thành thị tân tiến dùng mà thôi.

Chị Hai Xuân là chỗ bà con gần, bên ngoại. Chị yêu anh trai tôi. Tình yêu một chiều, một mình chị yêu anh. Anh đổ bằng sơ đẳng, ra Đà Nẵng học học tiếp, chưa thi bằng thành chung, thì kháng chiến Pháp nổ ra. Học giỏi, đẹp trai, lắm tài, hát rất hay. Những đêm khuya, người người đều nghe tiếng sáo của anh thổn thức. Thời này, những bài hát Thiên Thai, Suối mơ, Bên cầu biên giới, những thơ Tây Tiến, Màu tím hoa sim, Tiếng thu, Lỡ bước sang ngang, hãy còn được đê mê phổ biến. Về sau, anh tôi bị động viên, lên đường vào bộ đội. Bỏ quê.

Anh em chúng tôi biệt tăm tích nhau từ ngày anh lên đường tập kết 1954, tính đến ngày tôi viết những dòng văn cà chôm cà chớn này, 1968, thấm thoắt đã mười bốn năm.

Hiệp định chia đôi đất nước ký tại Genève vào ngày 20 tháng Bảy. Anh biết mình là thành phần phải chào biệt gia đình, quê hương miền Trung để ra Xứ Bắc, ngày trở lại chưa biết là năm nào. Nhưng khoảng thời gian ngắn ngủi chờ ngày lên đường tập kết anh tôi tuyệt không về nhà. Chẳng ai hiểu nguyên do. Anh là người rất yêu mẹ. Bình sinh, anh là người phiêu lãng. Ít khi ở nhà. Mỗi lần anh đi, trót vài tháng trời, mới trở về. Đi, chẳng biết đi đâu. Lúc về tới nhà, người anh ốm o, những gì anh mang theo trong một chiếc ba lô nặng, bây giờ mất trụi. Áo quần anh đang mặc trên người là đồ của ai khác, cũ mềm, sờn rách. Cha tôi lo cho anh mấy thang thuốc bổ. Anh chẳng bao giờ vào bếp. Cha phải cặm cụi nấu thuốc, đổ nước thuốc ra cái bát, để sẵn. Anh thường quên uống. Cha tôi phải hâm lại, nhắc nhở đứa con lãng đãng, đôi lần mới uống. Mẹ tôi lo cho anh cái ăn, mặc dù cuộc sống thời kháng chiến đã rất khó khăn.

Ở nhà mấy hôm chơi đàn với tôi, cho tôi những bản nhạc mới. Thời này, chỉ những thị thành có quân đội Pháp và Quốc gia mới có nhà in và phát hành các bản nhạc, như nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế chẳng hạn. Ai ở vùng kháng chiến mà cầm tay một bản in đẹp đẽ này là mang trọng tội, vì bị quy vào tội “Có liên hệ với địch”. Nhạc chép tay của chúng tôi toàn nắn nót từng nốt nhạc, từng dòng rất đẹp, vì, là của hiếm.

Anh không về thăm nhà trước khi lên đường tập kết ra Bắc. Những tháng sau khi ký hiệp định hòa bình, tháng Bảy 1954, máy bay Pháp không còn oanh tạc, nên việc đi lại cũng dễ dàng. Trước kia chỉ đi lại về đêm, ban ngày đi trong rừng, hoặc tìm chỗ ngủ, nghỉ. Chợ phải nhóm họp về đêm. Hôm nay mọi người đám đông trên đường lúc ban ngày không còn sợ bị máy bay Pháp oanh tạc. Lệnh ngưng bắn đã bắt đầu có hiệu lực. Cha tôi dẫn tôi cùng đi tìm anh. Lên tới vùng thung lũng, Việt An, vì cha nghe tin sau trận đánh Bồ Bồ, anh theo đoàn quân đi đường núi trở vào.

Rồi cũng gặp. Lúc này, không biết anh cấp bậc gì, vì bộ đội ai nấy không đeo quân hàm, nhưng biết anh là một đại đội trưởng. Đoàn quân của anh đang trên đường vào Bình Định, điểm tập kết, xuống tàu thủy, ra xứ Bắc.

Môt buổi trưa chúng tôi ngồi trong một mái vòm tháp Bà Rầu Con Nghê chuyện trò cùng nhau. Tháp này còn tên là tháp Hòa Mỹ, nay thuộc thành phố Tam Kỳ. Một buổi chào biệt rồi ra vĩnh biệt. Lúc chia tay trong lòng tháp Chàm, tôi không biết khóc, vì lòng còn tràn đầy niềm vui đất nước, tuy chia đôi, nhưng khắp nơi đã tạm thời im tiếng súng. Vẫn tin vào lòng chí thành, tình thương yêu một nòi giống, như mọi người đang tin tưởng, sau hai năm, Bắc-Nam hòa hợp, qua một cuộc Tổng tuyển cử giữa hai miền, anh sẽ trở về.

Hôm nay 1968, chắc anh đã vào Nam, đâu nơi núi rừng Trường Sơn, hay đã vào các thành phố trong đêm công đồn. Anh có là một trong những xác người nằm rải rác trên các đường phố. Tôi đang là một người lính Miền Nam. Những bạn tôi cũng vừa chết những ngày qua. Buồn quá, những cái rùng mình, những mắt nhìn nghi ngại, bỗng tràn lan trong hoàn cảnh đáng ra không phải đau đớn chia nhau. Đâu có cái chết được tôn vinh, đâu có cái chết bị khinh thường, mạ lỵ. “Lý tưởng chính trị” đã xung khắc nhau, nhưng những cái chết là như nhau. Cùng nằm xuống trên Đât Mẹ, những thi hài xương máu, giống nòi đâu có chi khác nhau.

Tôi đào một cái lỗ, chôn một xác người xa lạ, cũng đau tủi như chôn chính anh của mình, vầy thôi.

**

Đêm mù hoang. Trên giường, chị Hai Xuân hôn hít tôi. Lột người tôi ra. Lúc đầu vội vã chụp giựt, chị ghì cái đầu thằng ngựa non vào giữa hai cái vú thịt, ôm siết, phả cái hơi dâm nồng. Chỉ bảo, bú vú chị đi. Tôi miệng lưỡi mút cái núm vú màu son, thịt cứng tựa sụn chỗ môi con cá. Mũi muốn nghẹt thở, cái bầu vú to chảng. Tôi rạo rực, cả người động đậy. Chị mân mê con cu. Đặt người tôi lên bụng chị…Nhưng lạ lùng, chỉ một tích tắt, cũng là chị, chị đẩy mạnh người tôi ra. Như con thằn lằn tặc lưỡi, chị than vãn: “ Không được rồi, không được rồi. Bậy bạ quá.”

Chị vùng dậy. Tựa lưng vào tường đêm đen mịt. Chị khóc nức nở. Như vừa nghe tin anh trai tôi ăn đạn chỗ trận tiền.

Rồi, cũng ngay trên chiếc giường sắp-loạn-ly, chị ôm tôi. Chị ru tôi ngủ, êm ái chị ru em. Cuộc thèm muốn thân xác của chị lai láng, bão bùng bỗng lặng yên, hóa hiền. Như có thần linh chuyển cái nóng hổi đầy dục tính kia trở về đêm đầm ấm. Đêm minh mang độ lượng của mẹ, của chị. Ngoài kia mưa ngoài kia trăng ngoài kia gió nổi như quỷ ma về trong bóng tối, chị vẫn ôm tôi hiền hòa. Sữa thánh nữ rất ngọt. Tôi như con bê con bú mẹ.

Mà đâu một đêm. Ngủ suốt mùa đông. Con dơi nhớ ai trên mái chùa rơi kinh. Mùa đông tuổi thơ chín bầm, vang động một vô thanh hoang dại một thời. Tôi ngủ trong thế giới chị. Như về đất Thánh. Trời âm dương nhiệm mầu.

Thời chinh chiến. Tôi đi trong cuồng điên những thân phận nhung nhúc bùn lầy.

Tôi cũng là một con thú hoang dã. Về sau, khi trở thành một gã đàn ông phiêu bạt, dư hưởng từ những đêm tối đen hoang dại kia bỗng phục dựng sáng hoắc trong tôi. Tôi động đực. Luôn nổi chìm, tê điếng trong bóng hình chị. Những sợi tóc dầu dừa, da thơm mùi gái quê, và núm vú, bầu thịt vú cao su, và háng, rồi lung tung tối tăm rối mù mịn màng ấm nồng. Trong cơn mơ tôi, một thằng người bầm dập, tôi luôn thấy mình làm tình với chị. Những giấc ngủ đầm đìa hoan lạc.

**

Khi ngồi viết ngữ ngôn cà tàng cà chớn, hang rỗng đìu hiu, trong những tháng ngày đầu-người-trái-rụng 1968 này, tôi ngộ diện những ý tưởng vừa phơi lộ vừa ẩn tàng, thường lạc mất trong bao la dị ảnh. Hồn cuồng. Đù hỏa. Lên đường tìm quỷ, hóa quỷ. Ngó mông tìm chốn cũ hoang mạc, nổi trôi đồng bóng. Quanh quẩn. Quấn quít. Tôi thương xót mình. Có ai nói cùng tôi: “Hạt muối đã ném vào ly. Hãy dần tan giữa cái đời mặn muối.”


bài đã đăng của Cung Tích Biền


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)