Trang chính » Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Lý Luận, Quan Điểm Email bài này

Bàn tròn Thi ca với Chân Phương và Ngu Yên: Những điều vô hình-3

3 bình luận ♦ 26.04.2019

image



Trần Vũ:
Nhìn sang thơ Việt, những cách tân thẩm mỹ của phái Tân Hình Thức trong suốt hai thập niên qua, đem đến gì?

clip_image002

Ngu Yên:  Tôi xin sử dụng phần trả lời bút vấn không thể quá dài để bàn thảo một số quan điểm của thơ Tân Hình Thức đã “được xác nhận” sau 16 năm lưu lạc. Nhận Định Chung: Thơ Tân Hình Thức Việt (TTHTV) chưa hội đủ điều kiện để gọi là phong trào vì thiếu số lượng nhà thơ tham gia và không có khả năng ảnh hưởng dòng thơ Việt, trong và ngoài nước. Chỉ là một nhóm nhỏ do nhà thơ Khế Iêm quy tụ. Bắt đầu từ cuộc phiêu lưu không phương hướng. Thâu lượm nhiều ưu điểm thi ca của các phong trào khác nhau, chế biến theo công thức tuyển chọn và ráp nối, ghi vào một nhãn hiệu chung. Rồi 16 năm sau, dừng chân lại một ốc đảo trên mạng, tuyên ngôn vương quốc đã thành lập với tham vọng trở thành một phong trào thế giới. 

Câu chuyện TTHTV bắt đầu từ năm 2000, ra đời với giấy khai sinh mang tên Tân Hình Thức. Phụ mẫu là Khế Iêm. Dòng dõi New Formalism. Quê quán tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên chưa có căn cước vì thất lạc từ lúc sơ sinh. Sau khi lớn lên, tự tuyên bố không thuộc dòng New Formalism. Vậy thì, cái tên Tân Hình Thức là ngẫu nhiên hoặc dịch từ phong trào New Formalism? Trong bài viết “Thơ Tân Hình Thức, Phong Cách Chiết Trung”, đang trên tạp chí Sông Hương ngày 15 tháng 6 năm 2012, Khế Iêm viết: "Tân Hình Thức là tên gọi trời cho, vì thể thơ không vần thật sự mới lạ đối với thơ Việt". Tên trời cho? – vui thật.

Trong tự truyện về thân thế, TTHTV tự nhận là một con lai, có căn cước tập hợp nhiều huyết thống (lý thuyết và học thuật) đã hiện diện trước New Fotmalism. Vậy thì, TTHTV có nên cải họ đổi tên để phù hợp với giấy khai sinh mới? Hoặc giả, tối thiểu, sang ngang dưới danh phận Post-Newformalism (Hậu Tân Hình Thức). Meta-Newformalism (Siêu Tân Hình Thức)? 

Đêm giao thừa tết Bính Thân, tức là đêm ngày 7 tháng 2 năm 2016, nhà thơ Khế Iêm đã chính thức viết xong phần lý thuyết trong tiểu luận "Tân Hình Thức, Nghĩ Về Cách Làm Thơ".  Bài viết với giọng văn tràn ngập tin tưởng, khẩu khí và thường khi đại ngôn, như một người tìm thấy bí kiếp có khả năng thượng thừa. Thực chất, bài viết (hai phần) mang tính tự truyện, giải bày lý lịch TTHTV và biện minh cho sự chối từ dòng tộc New Formalism. Trong những đoạn văn phân tích và thuyết phục về cách làm thơ là sự phối hợp những cách làm thơ đã có, đã trải nghiệm trong lịch sử thơ chung. TTHTV không có phương pháp sáng tác đặc thù. Chỉ vay mượn những học thuật sáng tác khác, phối hợp với nhau, không tạo được sở học riêng, không có tính đặc biệt. Đôi khi không nắm vững nghiên cứu, ví dụ như chưa am tường kỹ thuật "vắt dòng", một kỹ thuật chính trong sáng tác của TTHTV. Một phong trào thơ đúng đắn phải có học thuyết và học thuật riêng của nó. Sự đặc thù của lý thuyết và kết quả độc đáo của thực hành xác định phẩm chất và tầm vóc của phong trào. 

Rồi tháng 9 năm 2017, một tiểu luận khác ra đời, "Thơ Tân Hình Thức Việt, Lý Thuyết Và Sáng Tác" của cùng một tác giả, có nội dung khẳng định quan điểm thơ "hay" của TTHTV và góp nhặt thêm lý thuyết của bác sĩ tâm thần Lain McGilchrist. Khế Iêm phối hợp hai bán não cầu: phần trái, lý trí và phần phải, tình cảm, nghệ thuật, nhập vào đường lối sáng tác của TTHTV, khiến cho những nhà thơ THTV trở thành những bậc siêu nhân. Các tiểu luận nói trên đều lưu trữ trên mạng của Thơ Tân Hình Thức. 

Sau phần nhận định tổng quát, chúng ta sẽ sơ lược duyệt một số đặc điểm và đặc tính của Thơ Tân Hình Thức Việt qua các nhận định và phân tích của Khế Iêm trong các tiểu luận: 

1- “Từ trước tới nay người đọc thường hiểu sai lệch thơ Tân hình thức Việt, vì đọc và phán đoán qua những sáng tác. Có lẽ vì phần lý thuyết chưa hoàn tất để có được những tiêu chuẩn hay, mặt khác, ngay cả những người làm thơ cũng không chịu tìm hiểu tới nơi tới chốn, quan điểm và cách làm thơ, nên đa số sáng tác chưa đúng thơ Tân hình thức Việt. Bây giờ, phần lý thuyết đã hoàn tất, gồm hai tập tiểu luận "Vũ điệu không vần" (2011), ‘Tân hình thức, nghĩ về cách làm thơ’ (2016) và một tiểu luận về những chức năng sáng tạo trong não bộ, ‘Thơ và không thơ’ (2017), giúp bổ túc cách sáng tác và tìm kiếm nội dung thơ. Tiêu chuẩn một bài thơ hay cũng đã có. Thơ Tân hình thức Việt gắn liền với lý thuyết, bao quát và liên hệ tới nhiều dòng thơ, mang tính học thuật, không khác gì thơ thể luật tiếng Anh và thơ tự do Mỹ. “ (Trích)

Đoạn mở đầu trong "Lý Thuyết và Sáng Tác", tác giả trưởng nhóm đã khẳng định với 3 tác phẩm nêu trên, tuyên ngôn, lý thuyết và học thuật của TTHT đã hoàn tất. Thậm chí, đã tìm ra nguyên tắc: tiêu chuẩn một bài thơ hay. Tức là phương pháp đánh giá đã xác định. Chúng ta nhìn thấy ngay sự nghịch lý trong đoạn văn bên trên. Nếu phần lý thuyết và tiêu chuẩn đánh giá phải đợi đến 16, 17 năm sau mới thành hình, thì làm sao những thành viên làm thơ có thể tìm hiểu "tới nơi tới chốn" để sáng tác cho đúng thơ THTV trong thời gian lưu lạc? Hơn nữa với 3 tác phẩm nêu trên, liệu TTHTV đã thật sự "tới nơi tới chốn"? đã nhất định "đúng thơ THTV"? 

Hai tiêu chuẩn nguyên lý để đánh giá thơ THT hay là “ý tưởng” và “nhịp điệu”. “ Điều đơn giản, một bài thơ Tân hình thức thất bại là do sự yếu kém về ý tưởng và người làm thơ không tạo được nhịp điệu. Như vậy, ý tưởng và nhịp điệu là hai tiêu chuẩn đánh giá một bài thơ Tân hình thức hay.” (Trích LTVST). Xưa nay, thơ hay là thơ hay, không phân biệt thể loại. TTHTV chỉ cần hai tiêu chuẩn đã là hay. Tôi nghĩ, như vậy TTHTV chưa thể hay. Vì: Ý tưởng của bài thơ hầu hết là lập lại, nhưng khác nhau do nghệ thuật diễn đạt tứ thơ. Hầu hết sáng tạo nằm ở tứ không ở ý. TTHTV cần phân biệt rõ giữa ý và tứ trong thơ. Nhịp điệu là một phần nghệ thuật đóng góp vào thẩm mỹ, sự thú vị, từ hình thể bài thơ. Trong khi, thẩm mỹ toàn thể bài thơ: nét đẹp, điều hay, bao trùm nhịp điệu. Ngoài ra, không thấy tác giả giới thiệu một bài thơ THTV nào hội đủ hai tiêu chuẩn ý tưởng và nhịp điệu để minh chứng thơ THTV hay như thế nào? Không có thử nghiệm chứng minh sau 16 năm, lý thuyết khó thuyết phục người đọc. Trong kinh nghiệm thực hành, bài thơ hay bao gồm nhiều yếu tố (không chắc nịch ý nghĩa như tiêu chuẩn) hơn là chỉ có hai yếu tố.

Hơn nữa khi công nhận ý tưởng là một trong hai yếu tố chính để quyết định giá trị bài thơ, vô tình, vô thức, chỉ ra: Hình thức của bài thơ không quan trọng. Nhịp điệu chỉ là một trong các thành tố tạo ra hình thức bài thơ. Như vậy, nhãn hiệu “Tân Hình Thức” có nghĩa là “Tân Nội Dung”?

2- “Thơ Tân hình thức Việt đưa ngôn ngữ và nhịp điệu nói đời thường vào thơ, dùng kỹ thuật vắt dòng, chuyển những thể thơ (5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, và lục bát) có vần thành không vần, với những yếu tố tính truyện, và lập lại những đơn vị âm thanh bằng trắc, xóa đi dấu vết văn xuôi và tạo nhịp điệu, chẳng khác nào nhịp nhảy (sprung rhythm) của thơ tiếng Anh. Và như thế, thơ Tân hình thức Việt hoàn toàn là một thể thơ mới, không liên hệ gì thơ Tân hình thức Mỹ, bởi vì khác biệt về ngôn ngữ và luật tắc.” (Trích Nghĩ Về Cách Làm Thơ, phần 2).

Đây là lời phủ nhận liên hệ dòng tộc với New Formalism như đinh đóng cột. Nhưng trước đó, trong tác phẩm Vũ Điệu Không Vần, một tác phẩm rường cột, Khế Iêm viết: “Trong bài thơ Tân Hình Thức và Câu Chuyện Kể, tôi thử áp dụng một số yếu tố của thơ Tân Hình Thức Hoa Kỳ (New Formalism) vào thơ Việt, chọn thể tám chữ, mang giọng kể là thi pháp tự nhiên của đời thường (tính truyện), xử dụng kỹ thuật vắt giòng (enjambment), đọc liên tục từ dòng (line) này sang dòng khác, lập lại những nhóm chữ (như nhạc Rap) để tạo thành điệp vận và vần không hợp cách.” (trang 12.) Nghĩa là sao? Không có liên hệ gì giữa Tân Hình Thức Mỹ và Việt? 

Sự khác biệt giữa TTHTV và THT Mỹ  đặt trên hai phương diện: 1- ngôn ngữ 2- luật tắc. Thơ tiếng Việt khác với thơ tiếng Mỹ, không chỉ thơ THT Việt khác với thơ THT Mỹ bởi ngôn ngữ. Ngôn ngữ khác biệt là yếu tố phổ thông, không phải yếu tố quan yếu dùng thuyết phục sự khác biệt. Nên nêu quan điểm văn hóa trong thơ Việt khác với văn hóa trong thơ Mỹ. 

Còn luật tắc: Thơ Tân Hình Thức Mỹ và thơ Tân Hình Thức Việt sử dụng cùng những kỹ thuật: 1- vắt dòng, 2- sử dụng ngôn ngữ đời thường, 3- nội dung mang tính truyện, 4- tạo nhịp điệu thơ. Như vậy, có gì khác biệt?

Chính Khế Iêm viết: “Thơ Tân hình thức Việt là quá trình rút tỉa kinh nghiệm từng giai đoạn của thơ tự do Mỹ và thể luật thơ Anh, kết hợp với khái niệm từ chủ nghĩa hậu cấu trúc và hậu hiện đại, đặc biệt là tinh thần tân chiết trung của kiến trúc hậu hiện đại Mỹ.”(Trích NVCLT phần 2). Nếu áp dụng những kỹ thuật của thơ thế giới vào thơ Việt, nên xác định sự vay mượn, vốn là điều bình thường, không cần phải “tự hào” một cách đại ngôn: “… thể thơ không vần Việt, vừa phức tạp vừa đơn giản, tổng hợp rất nhiều yếu tố khác nhau, từ Đông sang Tây, từ truyền thống đến hiện đại, để làm nên một thể thơ đặc biệt tân kỳ.“ (Trích Phong Cách Chiết Trung.)

Đặc điểm của các bài viết nòng cốt cho lý thuyết đều không có dẫn chứng của thơ Tân Hình Thức Việt,  khiến cho các lập luận chỉ là lời nói suông, không có trải nghiệm, không có kinh nghiệm thực hành. Thậm chí, ngay phần lý thuyết cũng không giải thích: 1- Kết hợp các kỹ thuật như thế nào? 2- Tinh thần Chiết Trung áp dụng vào THTV ra sao? Kinh nghiệm rút tỉa từ thơ Anh và Mỹ là những tuyệt chiêu gì? Sự ráp nối các ưu điểm của các phong trào thơ, cộng thêm hai học thuyết mang tính ôm đồm, biểu diễn hơn là thực chất. 

Sự ly khai của THTV ra khỏi THT Mỹ là hành vi cân nhắc đúng, vì nếu không, sẽ không giải quyết được một số vấn nạn mà New Formalism đang gặp trở ngại. (Đọc tác phẩm After New Formalism của Annie Finch, Story Line Press, 1999). Lý do chính xác hơn: Lúc ban đầu vì chưa kịp nghiên cứu sâu rộng về phong trào New Formalism, Khế Iêm vội vã dịch lấy tên Tân Hình Thức, về sau khám phá ra nhiều điều không phù hợp, tấn thối lưỡng nan. Phủ nhận phải chăng là cách bắt đầu? Hoặc phủ nhận để thoát ra khỏi bóng đè, dễ dàng xây dựng chủ quyền?

3- Kỹ thuật chủ yếu của TTHTV: Vắt Dòng. “Kỹ thuật vắt dòng trong thơ Tân hình thức Việt, cũng chỉ là một kỹ thuật theo nghĩa truyền thống, có nghĩa là vắt dòng để cho bài thơ có hình dạng của một bài thơ thể luật, 5 chữ, 7 chữ, hoặc lục bát, chứ không phải là một thủ thuật nghệ thuật gì.” (Trích NVCLT) “Vắt dòng là vắt ý tưởng từ dòng này qua dòng khác, làm cho những ý tưởng liền lạc với nhau, hình thành tứ thơ hay tư tưởng trong thơ.” (Trích LTVST).

Như vậy, ngoài trừ dụng ý phân chia nhịp điệu, vắt dòng không phải là yếu tố quan trọng. Nếu chỉ vắt ý qua dòng để liền lạc, thì câu thơ tự do, thơ Xuôi không cần vắt vẫn liền lạc hơn. Nếu vắt hàng chỉ để đếm chữ xuống hàng, e rằng kỹ thuật này làm cho thơ bị hạ giá trị. 

Khế Iêm xác nhận: ”Mục đích luật tắc của Tân hình thức là tạo nhịp điệu thơ. Nếu bài thơ đọc lên, nghe âm hưởng của văn xuôi, là bởi người làm thơ theo cách viết trên giấy của thơ tự do, rồi đếm chữ xuống dòng. Nhịp điệu bài nào cũng hao hao giống nhau, vì đó là nhịp điệu văn xuôi. Còn nếu làm theo cách của thơ Tân hình thức, sẽ tạo được nhịp điệu thật sự cho thơ, không bài nào giống bài nào. Đến đây, có ba điểm cần ghi nhận: 1/ ngôn ngữ thông thường trong thơ Tân hình thức còn có tác dụng dễ nhớ; 2/ bài thơ chỉ được ghi lại trên trang giấy, sau khi hoàn tất; 3/ "đếm chữ xuống dòng" là khâu cuối cùng, dùng để chỉnh sửa, sau khi bài thơ đã làm xong. Lúc đó, chúng ta mới quyết định xem phải dùng thể thơ nào cho phù hợp với nhịp điệu bài thơ. Thể thơ 5 chữ cho nhịp điệu nhanh, 7 chữ cho nhịp điệu vừa, và lục bát cho thơ kể chuyện.” (Trích LTVST).

Nhịp điệu hao hao giống nhau và nhịp điệu không bài nào giống bài nào, chứng minh sao đây? Nhịp điệu văn xuôi hao hao giống nhau? Nhịp điệu thơ THTV khác nhau? Thực tế, những nhịp điệu trong các thể thơ cố định sẽ giống nhau. Những thể thơ tự do, thơ xuôi, nhịp điệu sẽ khác nhau, ngoại trừ tác giả cố ý lập lại cho giống. 

4- Sau khi bài thơ hoàn tất mới đếm chữ xuống dòng, khâu cuối cùng, để quyết định “tốc độ” bài thơ nhanh hay vừa. (Không có chậm.) Riêng thơ Lục Bát dành cho kể chuyện? (Vắt dòng để kể chuyện?) Trong thực hành, kể truyện không dành riêng cho bất kỳ thể thơ nào. Nhịp điệu thơ chỉ liên quan một phần đến tốc độ. Tốc độ đọc là do thói quen của mắt. Đọc chậm, thể thơ nào di chuyển vào nhận thức cũng chậm. Ngược lại, là nhanh. 

Vắt dòng chủ yếu làm người đọc dừng lại dù đọc nhanh hay chậm. Dừng lại để làm gì? Không phải để quanh co hay bị tác giả dẫn đi một cách vô ý hoặc tùy hứng.  Vắt dòng không phải để những ý tưởng liền lạc với nhau, mà để cắt chia dòng ý tưởng, đúng hơn là cắt chia tứ thơ gây thú vị, tò mò, để tiềm thức của người đọc tự hỏi, nôn nao đọc dòng tiếp theo. Ví dụ:

The four AM cries   (Bốn giờ sáng tự khóc hay ai đó khóc lúc bốn giờ?)

of my son worm     (Thì ra con khóc, nhưng kỳ lạ là từ worm. Đứa bé uốn éo như sâu hay còn trong bụng?) 

through the double  (Cái gì gấp đôi?)

foam of earplugs     (Hóa ra chất xốp của đồ mang tai chặn tiếng động.) 

(Xuống hàng một khoảng trống, có ý gì?)

and diazepam.        (Thuốc ngủ. À, bây giờ mỗi người đọc sẽ tự giải mã, con sâu là gì? Vì sao khóc lúc 4 giờ sáng lúc người mất ngủ uống thuốc an thần.) 

Ngoài ra, vắt dòng còn là kỹ thuật tạo khoảng trống trên bài thơ. Khoảng trống thơ thuộc về thẩm mỹ và gợi ý cho sự vắng mặt của một điều gì. Khoảng trống là một loại ký hiệu.

5- “Ngôn ngữ thông thường có tác dụng dễ nhớ.” Ngôn ngữ thông thường trong thơ có từ thời Kinh Thi. Ở Anh Quốc được nhà thơ Wordswoth cổ động, phát triển mạnh trong phong trào Thơ Lãng Mạn (thế kỷ 18). Kéo dài qua những thế kỷ sau, cho đến mức sử dụng ngôn ngữ dung tục vẫn được ca ngợi như thơ Allen Ginsberg. Thơ Việt thời nào cũng có thơ bằng ngôn ngữ bình thường. Rõ nét nhất ở thơ Hồ Xuân Hương và Lục Vân Tiên. Điểm yếu của thơ dùng ngôn ngữ bình thường nếu không thận trọng về thẩm mỹ ngôn ngữ, thơ sẽ trở thành: Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái ta là phận trai. (Lục Vân Tiên).  Còn dễ nhớ là do dễ hiểu. Dễ hiểu là do cách diễn đạt. Dù dùng ngôn ngữ bình thường mà thiếu nghệ thuật diễn đạt, cũng sẽ khó hiểu, nhất là phải diễn đạt những ý tưởng thâm trầm. Lấy ví dụ: Những ngôn ngữ bình thường trong thơ Bóng Chữ của Lê Đạt, dễ hiểu chăng?

6- “Tính truyện: là yếu tố thông dụng trong thơ truyền thống ở mọi nền thơ để kể một câu truyện. Trong thơ không vần Việt, tính truyện còn có ý nghĩa, nối những ý tưởng liên tục và thuần nhất, không đứt đoạn như thơ tự do, để tạo tư tưởng trong thơ, người đọc biết bài thơ muốn nói gì, chứ không lan man như thơ tự do, người đọc không biết bài thơ muốn nói gì.” (Trích NVCLT phần 2).  Ý nhận định của đoạn văn này lầm lẫn. Chỉ có những bài thơ Tự Do kém mới không chia sẻ với người đọc. Thơ Tự Do là một thể thơ lớn của thế giới, sản xuất không biết bao nhiêu bài thơ giá trị. Không lẽ tệ vậy sao? Trở lại, chia sẻ thơ được hay không là do phong cách diễn đạt. 

7- “Thơ Tân hình thức Việt dùng kỹ thuật lập lại để tạo nhịp điệu thơ, và kỹ thuật đó được tái định nghĩa như sau, ‘lập lại những chữ kép (bằng trắc), phân phối vừa đủ trong bài thơ’ để tạo nhịp điệu. Trong một số bài thơ Tân hình thức Việt có nhịp điệu mạnh, thường lập lại những đơn vị âm thanh (bằng trắc), hình thành từ những chữ kép, luân phiên thay đổi lẫn nhau. Tài năng của nhà thơ là điều tiết kỹ thuật lập lại, để làm sao cho nhịp điệu không dư thừa, hay lỏng lẻo….” (Trích NVCLT phần 2).

Tôi nghĩ đây là kỹ thuật căn bản cho bất kỳ nhà thơ nào quan tâm đến từ vựng, âm sắc, cao độ, trường độ, điệp ngữ, điệp pháp, trong phong cách diễn đạt thơ. Một kỹ thuật mà hầu hết các nhà thơ đều sử dụng khi sáng tác. Không lẽ trước khi xác định kỹ thuật này, các nhà thơ THT không quan tâm đến vấn đề nêu trên?

8- Trong ba tiểu luận của TTHTV, chúng ta tìm thấy khá nhiều đoạn tuyên phán rất lỏng lẻo, không chứng minh và không phù hợp với kiến thức chung trong thi ca. Những lời lẽ này thiếu cơ sở luận lý, trở thành phiến diện.          

“Trong thơ truyền thống, người đọc có thể nhớ từng lời từng chữ, nhưng như vậy dễ gây nhàm chán, trong khi thơ Tân hình thức, việc nhớ qua nhịp điệu, khơi dậy những hình ảnh, thúc đẩy người đọc, đi tìm bài thơ để đọc lại, và lúc nào cũng thấy mới lạ.” Thật không? Vì sao? Chứng cớ nào?

“Thơ tự do làm khó người đọc, thơ Tân hình thức Việt, ngược lại, làm khó người làm thơ. Đó là cách làm cho thơ có nghệ thuật, để lôi cuốn người đọc.” Thật không? Vì sao? Chứng cớ nào? 

“Như vậy, thơ Tân hình thức Việt, tham khảo (reference) rất nhiều nguồn khác nhau, để tạo nên một thể thơ ổn định, khởi đầu từ mùa Xuân năm 2000, cũng như kiến trúc, thoát thai, nhưng sau đó, vượt khỏi những vướng mắc nội dung của chủ nghĩa hậu hiện đại thập niên 1980s. Và trải qua 15 năm thực hành, thơ Tân hình thức Việt đã có được những tác phẩm giá trị, song hành với thơ vần điệu và tự do.”

Một thể thơ ổn định từ mùa xuân 2000? Lúc TTHTV chưa có căn cước, chưa có lý thuyết, chưa có học thuật, chưa biết mình là ai. Cứ đọc lại những bài viết, bài tranh luận về TTHTV giữa năm 2000 và 2010 thì sẽ rõ. Sau 15 thực hành, đã có được những tác phẩm giá trị, song hành với thơ vần điệu  và tự do. Xin hỏi là tác phẩm nào và của ai? Sau lưng của nhận định này là một tự hào mang tính tháp ngà. Hậu Hiện Đại chỉ là danh từ của phong trào / chủ nghĩa bao gồm hàng chục học thuyết khác nhau về thơ. Vượt qua những vướng mắc nội dung của Hậu Hiện Đại (?) Như vậy, nội dung của thơ THT Việt là gì?

“Từ khởi đầu, thơ Tân hình thức Việt đã là một thể lai, vì vậy nó có khả năng nối kết ngôn ngữ (qua dịch thuật) và xa hơn, mở ra và tiếp nhận cách làm thơ của tất cả những phong trào thơ khác nhau, trong quá khứ cũng như tương lai…. Nếu đặt cạnh những phong trào tiền phong thơ Mỹ, nửa sau của thế kỷ 20 và bây giờ, thơ Tân hình thức Việt độc đáo không kém, và trong nhiều khía cạnh, uyển chuyển và dễ thích hợp với mọi biến chuyển của thời đại hơn cả. Bởi vì thơ Tân hình thức Việt có khả năng thu nạp các yếu tố và cách làm thơ của các trường phái thơ và thể loại thơ khác, để cập nhật và thay đổi. Thơ thật sự phản ánh hai mặt của nền văn minh kỹ thuật số, vừa trở về đời sống thô nhám của hiện thực (thơ trình diễn), vừa bồng bềnh trên mạng lưới ảo (thơ internet).”

Nếu không phải là đại ngôn, chắc phải là một ảo mộng. Nhận định này nên để cho nhà phê bình độc lập xác nhận sau khi nghiên cứu tác phẩm và tác giả của nhóm TTHTV. Tác giả vừa lập thuyết vừa tự khen thưởng, e rằng tạo ra một phong thái dị kỳ. Sau khi tự hãnh diện, chính tác giả lại cảm khái một cách ngạc nhiên: “Nhưng tại sao một thể loại thơ, có nền tảng căn bản, đi sát được với thời đại mới, suốt từ năm đầu thiên niên kỷ cho tới nay, mà hai dự án lớn của thơ Tân hình thức Việt, thơ trình diễn và nhóm sáng tác, vẫn chỉ dừng lại ở phần lý thuyết? Có lẽ, thơ Tân hình thức Việt thiếu nguồn tài trợ, nhân lực và môi trường hoạt động chăng?”

Lý thuyết và học thuật TTHTV mới hoàn chỉnh hồi tháng 9 năm 2017, làm sao có thực hành đúng đắn? TTHTV nếu có thành công cũng chỉ là một trong những phong trào thơ hoặc cá nhân thơ thành công. Huống chi, giờ đây, 2019, TTHTV chưa có dấu hiệu gì sẽ phát triển, nhân lực ít, nhân tài ít, không được ủng hộ làm sao có môi trường sinh hoạt, dù có tài chánh.

Về dự án lớn “thơ trình diễn”: Trình diễn thơ là nghệ thuật chung cho tất cả thể loại thơ, không đặc quyền cho TTHTV. Hơn nữa, đọc thơ thì phải ngắt câu, ngắt hơi, tạo nên nhịp điệu, phải diễn tả bằng nét mặt, cử chỉ và âm sắc trong mục tiêu chuyên chở thơ đến người nghe. Khi trình diễn, TTHTV có làm điều gì khác? “Một bài thơ Tân hình thức Việt, khi đăng trên trang giấy, chúng ta bỏ các dấu chấm phẩy, khi đọc lên, phải hồi phục lại, để tìm ra chỗ ngừng nghỉ, lâu hay mau, trong bài thơ. Dấu chấm, ngừng lâu hơn, các dấu phẩy, ngừng ít hơn, để bảo đảm ý nghĩa của bài thơ được liên tục. Đọc, giống như đọc văn xuôi, nhưng chậm hơn. Đọc rõ chữ, mục đích để người nghe dễ theo dõi tình tiết, ý tưởng, và hiểu rõ bài thơ. Đọc chậm cũng có công dụng nhấn mạnh tới các chữ và nhóm chữ lập lại, làm nổi bật nhịp điệu bài thơ làm nổi bật nhịp điệu bài thơ.” (Trích NVCLT). Trong thực tế, TTHTV nên nghiên cứu thêm về thơ trình diễn, hiện nay, thơ Trình Diễn trên thế giới đã tiến xa hơn những kỹ thuật nêu trên. 

Còn dự án lớn thứ hai “nhóm sáng tác”:  TTHTV là do nhà thơ Khế Iêm chủ trương và gánh vát 90%. Việc thành hay bại là do những nhà thơ tham gia và nhà thơ trưởng nhóm thực hành. Không có tác phẩm giá trị chứng minh, không có tác giả nổi bật, khó mà thuyết phục bằng lý luận. 

Lý do: chỉ dừng lại ở phần lý thuyết, không phải đã rõ ràng sao?

9- Sau cùng, khám phá mới nhất của Khế Iêm là lý thuyết của bác sĩ tâm thần Lain McGilchrist. “Theo khám phá những chức năng của não bộ, sáng tạo trong thơ là sự kết hợp giữa bán cầu não trái và phải, liên quan đến hoạt động của toàn thể não bộ. Trong suốt quá trình, cả khía cạnh lý trí và cảm xúc phải làm việc toàn diện với nhau. Thơ vần điệu sáng tác nghiêng về bán cầu não phải, với nhạc tính, nhịp điệu, cảm xúc, trong khi thơ tự do nghiêng về bán cầu não trái với ngôn ngữ và kiến thức. Trong thơ thể luật tiếng Anh, dù có vần hay không vần, vì là ngôn ngữ đa âm, với kỹ thuật vắt dòng, người làm thơ có tài năng vẫn có thể kết hợp hai bán cầu não với nhau. Trong khi thơ vần điệu Việt, không thể vắt dòng, vần ở cuối dòng giống như bức tường ngăn cản hai bán cầu não thông thương với nhau, thơ hoàn toàn sáng tác với bán cầu não phải. Thơ tự do, vì là dòng thơ trí tuệ, dĩ nhiên phải sáng tác theo bán cầu não trái. Thơ Tân hình thức Việt sáng tác với cả hai bán cầu não, nên khó cũng là điều đương nhiên”

Một luận lý hết sức dễ dãi. Có tác phẩm TTHTV nào sáng tác với cả hai bán não cầu? Còn các tiểu luận mà chúng ta đang phân tích, viết bằng bán cầu nào? Trong thực tế, lý thuyết phân chia hai bán cầu não đã nở rộ trong thập niên 1980. Thịnh hành nhất trong lãnh vực “làm quyết định” và “khả năng bộ nhớ”. Tuy nhiên, những chứng minh trong thập niên tiếp theo cho biết: Mỗi bán não cầu tuy có chức năng riêng, nhưng nếu một bán cầu bị tổn thương, bán cầu kia dần dần sẽ tạo ra chức năng thay thế. Đố bạn, làm sao bạn biết bạn đang sáng tác bằng hai bán cầu cùng một lúc? Làm sao chứng minh một tác phẩm được sáng tác bởi hai bán cầu? Quan trọng hơn, ai cũng có thể biết, sáng tạo không đơn thuần xây dựng theo mô hình khoa học dựa lên não bộ.

Tôi cũng không thể trình bày dài hơn vì khổ hạn bút vấn. Còn nhiều vấn đề liên quan đến phương pháp sáng tác thơ, dịch thơ và sáng tác truyện theo luật tắc của nhóm TTHTV, cần được xét lại. Kết luận, Thơ Tân Hình Thức Việt là một lý thuyết thơ mang tính thập cẩm, thiếu nghiên cứu sâu rộng, thiếu trải nghiệm để đưa ra những “kinh nghiệm” chứng minh và hướng dẫn. Không có tương lai nếu không được cải thiện và thực tế hơn: “Lý thuyết không làm nên thơ. Thực hành làm nên tác phẩm.”

Trong tầm nhìn ngoài học thuật và nghệ thuật, nhóm TTHTV xuất hiện là sự kiện tốt cho văn học Việt. Cung cách làm việc: quyết tâm, kiên nhẫn, chịu khó, tìm hiểu, học hỏi, dịch thuật …của nhà thơ Khế Iêm là điều đáng ngưỡng mộ. Hơn nữa, Khế Iêm là người yêu thơ và tận tụy với thơ nhất mà tôi được biết. Riêng sự sống chết của TTHTV như Khế Iêm đã Viết: “dù có người tham gia hay không, tài tử hay chuyên nghiệp, đúng hay sai, đến hay đi, hay hay dở …hẳn thơ Tân hình thức Việt vẫn hiện hữu như nó hiện hữu?” (Vì sao lại có nghi vấn, đặt dấu hỏi ở cuối câu chấm dứt bài viết? Nghi vấn về sự hiện hữu? Dấu hỏi từ tiềm thức?) Tuy vậy, hiện hữu  cũng có nhiều cách hiện hữu, kể cả cách hiệu hữu không hiện hữu. 

Từ khi TTHTV ra đời, tôi đã có ý chờ đợi để đọc phần lý thuyết và học thuật. Vì muốn biết rõ về một chủ trương thi ca nào, đều phải dựa lên tuyên ngôn và học thuyết của họ. Tôi đưa ra những nhận định tổng quát này hoàn toàn vì quan điểm khác biệt về văn học. Cá nhân tôi và anh Khế Iêm là bạn, tuy không thân thiết nhưng giao tình tốt đẹp. Tôi sẽ chờ đợi những tác phẩm giá trị của thơ Tân Hình Thức.  

Tôi nghĩ, trong thế kỷ 21, người làm thơ không cần phải gò bó vào đảng phái, đoàn nhóm. Thời sinh hoạt chung để tạo sinh khí, đã qua. Điều gì không thể làm một mình, mới cần tập đoàn. Làm thơ cũng như sống với vợ, không cần nhiều người chung sức. Mỗi người làm thơ, đơn độc tư duy, tự nghiên cứu, tìm hiểu học thuật, nghệ thuật. Thử nghiệm càng nhiều càng tốt, vì thử nghiệm sẽ đem đến kinh nghiệm. Rồi kinh nghiệm sẽ giúp sáng tác gia tăng kinh nghiệm và phẩm chất. Thử nghiệm và kinh nghiệm tạo giá trị cho thơ. 

clip_image004Chân Phương:  Tôi tán đồng các nhận định của Ngu Yên về Tân Hình thức Việt Nam. Có thể bạn và một số độc giả hôm nay còn nhớ bài nhận định phê bình của Chân Phương – THƠ HOA KỲ VÀ TÂN HÌNH THỨC – trên Văn Học, tháng 7-2005, lúc ấy do Cao Xuân Huy chủ biên.

http://amvc.free.fr/Damvc/ChanPhuong/LyLuan/ChanPhuongThoHoaKyVaTHT.htm

Không riêng cá nhân tôi, những ai có hiểu biết về lịch sử thi ca Anh-Mỹ sẽ ngạc nhiên khi nghe Khế Iêm mượn danh xưng New Formalism để đặt tên cho thi phái của ông; khi ấy tôi đã đùa cợt cái trò râu ông cắm cằm bà trong bài viết nêu trên. Nay tôi xin trích dẫn vài đoạn để phụ họa thêm các phân tích rạch ròi của Ngu Yên.

“Tạp chí Thơ [TC Thơ] bắt đầu từ số 19 (Thu 2000) giới thiệu thơ Tân Hình Thức [THT] Hoa Kỳ [HK], kèm theo sáng tác của một số nhà thơ VN vừa tiếp thu bài học THT. Trong nhiều số sau, Khế Iêm và các bạn tiếp tục cổ động và đề cao THT qua nhiều tiểu luận, bài dịch, sáng tác; gây ra ấn tượng nhân tạo về một phong trào thơ vừa xuất hiện rầm rộ ở Mỹ, trong khi sự thực thì khác hẳn.”

“Trên các số TC Thơ viết về THT, chúng ta không thấy được bối cảnh lịch sử-xã hội đằng sau các chọn lựa thẩm mỹ trong sinh hoạt văn chương HK. Mặt khác có lẽ các hạn chế về Anh ngữ và văn hóa đã khiến những bạn phất cờ THT, đứng đầu là Khế Iêm, không hiểu được đến nơi đến chốn những điều họ nhiệt thành rao giảng. Căn cứ vào những thiếu sót và sai lầm trong mấy bài dịch giới thiệu các văn bản quan trọng của phong trào THT, người đọc sẽ đặt câu hỏi về khả năng lĩnh hội thấu đáo những vấn đề phức tạp liên quan đến thi học hay thi luật Anh-Mỹ, chưa nói đến lịch sử thi ca HK và văn học sử nói chung.”

…”Trong tập Rebel Angels, thi tuyển của 25 nhà thơ THT Mỹ, phần lớn các bài thơ dù có gieo vần hay không đều giữ cấu trúc tiết nhịp và trọng âm truyền thống. Sau đây là vài thí dụ:

A.Yell/ow free/sia arc/ like twi/ning arms/ ;

I’m buy/ing show/er cur/tains, smo/ke alarms/,

And Wash/ington/ ,and you/ , Love/ — stat/es away/ .

The clouds/ are flat/. The sky/ is go/ing grey/ .                          

Elizabeth Alexander – Letter:Blues, tr.3

B.You drink/ to piss/ it all/ away/

You play/ it tough/ to seize/ the day/

Toss out/ more chips/ and spread/ your stuff/

Or end/ it with/ enough/ enough/ …                         

R.S. Gwynn – Anacreontic, tr.64

Hai trích đoạn này khá tiêu biểu cho thơ THT. A- dùng pentameter (5 tiết nhịp), B- dùng tetrameter (4 tiết nhịp). Mọi câu thơ đều có vần và theo luật iambic, trừ câu đầu A đảo nhịp theo trochaic…

“Có thể trích dẫn thêm; nhưng các bài thơ trong thi tuyển này, trừ vài ngoại lệ hiếm hoi, chứng tỏ rằng nhóm thi sĩ THT ở Mỹ đã trung thành với các ước lệ thi pháp Anh-Mỹ của những thế kỷ trước đây, đặc biệt là luật trọng âm (accentual meter). Các nhà thơ VN trên TC Thơ trái lại đã rất phóng túng, chưa nói là tùy tiện, trong sáng tác THT của họ. Nếu theo đúng tinh thần bảo thủ của thi phái THT Mỹ, nhà thơ VN phải quay về với vần điệu và niêm luật trong thơ cũ VN của Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan; hoặc ít ra với dòng Thơ Mới Tiền Chiến vẫn còn nhịp nhàng êm tai. Ðằng này các bài THT trên TC Thơ khiến người đọc có cảm giác đứng nhìn một trò chữ nghĩa biến những câu văn xuôi trung bình thành từng đoạn thơ bằng cách ngắt câu vắt dòng, bên cạnh việc lặp đi lặp lại khá nhàm một vài chữ hay ý tưởng… Ngọn gió THT đã cứu sống nhiều câu văn xuôi đa ngôn và vô vị, tân trang chúng thành một loại thơ văn xuôi… dễ hiểu, dễ làm. Vì thế, không lấy gì làm lạ khi trên nhiều số TC Thơ bỗng nhiên nô nức “thi pháp đời thường”, bất cần ngữ điệu và nhạc tính của tiếng mẹ, tác sinh vô số câu cú không ra văn mà cũng chẳng ra thơ!”

Trần Vũ: Quay lại Léopold Peeters trước khi chấm dứt, Peeters không khác lắm với các anh: “Từ ngữ ‘Kết-thúc’ có thể làm phát sinh trò chơi đa năng của ngôn ngữ, tăng thêm nghi vấn về khả năng chấm dứt, vì biểu lộ cùng lúc ‘thời điểm hiện tượng dừng lại’ và ‘sự biến mất của một thực thể’. Tuy nhiên, nhìn thấy dễ dàng, bản án tử hình này không ngăn các cá nhân tiếp tục làm thơ.” Giống như anh Chân Phương từng xác quyết: “Cuộc sống vẫn tiếp tục, loài người vẫn độc thoại và đối thoại, ngôn từ vẫn chấp cánh cho tư tưởng và sáng tạo. Các nhà thơ sống chết vì xác tín này.”

Cám ơn anh Chân Phương và anh Ngu Yên.

Trần Vũ thực hiện, 16 tháng 3-2019

bài đã đăng của Trần Vũ


3 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Có hay không sự giới hạn trong những ngôn ngữ khác nhau.

    Theo tôi, có và không. Cũng còn tùy. Nhà thơ nhà văn Việt không thể nói không biết thơ lục bát của Nguyễn Du. Ngay các học giả ngoại quốc cũng biết. Nhưng hình như chả có thi nhân nào can đảm dịch thể thơ này sang hình thức các câu 6-8 thành ra thơ Mỹ chẳng hạn. Vô phương. Đó là chổ giới hạn của ngôn ngữ Việt.

    Tất nhiên, với thể thơ tự do free verses của Tây Phương thì lại khác. Người Việt có thể làm thơ tự do rất thoải mái bằng chữ nghĩa Việt. Đó lại là chổ phóng khoáng không giới hạn giữa các thứ tiếng nói khác nhau.

    Và, vì thế, lại có một vài sự khác nhau về ngôn ngữ khi chuyển hình thức vài loại thơ Âu Mỹ sang Việt ngữ. Kỹ thuật xuống hàng chẳng hạn. Coi chừng. Chữ Việt, nếu xuống hàng không khéo e lại sinh ra rắc rối.

    VN có câu chuyện tiếu lâm về việc đọc sang trang mà không chú ý. Chuyện ông thầy thuốc: Có người hỏi ông thầy lang “Chồng tôi bệnh mới hết, xin thầy cho biết ăn món gì mau lợi sức”. Thầy lang trả lời: ” Về nấu cháo lươn cho nhân sâm vào ăn rất tốt”. Người phụ nữ nghe lời về nấu cháo cho chồng ăn. Ăn vào, ngày hôm sau thì chết.

    Thì ra, ông thầy đọc sách thuốc có câu: “Bệnh mới hết, cho ăn cháo lươn nấu với nhân sâm” Thầy không coi trang kế còn 2 chữ… thì chết.

  • Cao Minh Quân viết:

    Cám ơn nhà văn Trần Vũ đã thực hiện Bàn Tròn Thi Ca với hai nhà thơ Ngu Yên và Chân Phương, giúp người đọc có một cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn về thi ca thế giới.
    Riêng về phần thi ca việt, tôi nghĩ còn rất nhiều điều cần nói, thơ trong nước và thơ ngoài nước, thơ trong luồng và thơ ngoài luồng…, có những khuynh hướng gì đáng lưu ý?

    Về Tân Hình Thức tôi nghĩ nên mời nhà thơ Khế Iêm tham gia Bàn Tròn để ông có cơ hội phản biện những điều đã nêu ra trong Bàn Tròn kỳ 3.

  • black raccoon viết:

    Kỹ thuật điệp vận, điệp ngữ, lập lại đã có trong thơ VN

    Có từ xưa. Chắc chắn là có trước thể thơ trong New Formalism của Mỹ chỉ mới bắt đầu vào cuối thế kỷ 20. Thơ THT dùng cách lập lại để tạo nhịp điệu. Ca dao lục bát của VN đã làm chuyện này xuất sắc. Và thường xuyên.

    Trên trời có đám mây xanh
    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
    Ước gì anh lấy được nàng
    Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây
    Xây dọc rồi lại xây ngang
    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
    Có rửa thì rửa chân tay
    Đừng rửa chân mày chết cá ao anh
    (Ca dao miền Bắc)

    Thắp tạ càn khôn một vô ích
    Thắp tạ nhân quần một luyến thương
    Biển Đông đã một ngày xe cát
    Khuất giạt mơ lai kiếp dã tràng
    (Thắp Tạ, Tô Thùy Yên)

    Hiu hiu gió thổi đầu non
    Những người uống rượu là con Ngọc Hoàng
    Ngọc Hoàng ngồi tựa ngai vàng
    Thấy con uống rượu hai hàng lụy rơi
    Tưởng rằng con uống con chơi
    Ai dè con uống con rơi xuống sình
    (Ca dao miền Nam)

    Thật ra, trong cách hành văn VN, điệp ngữ là một sự cảnh giác. Câu văn viết nếu lập lại hay trùng ngôn là câu văn nên tránh. Nhưng đó là lý thuyết xuôi chiều. Nhà văn nhà thơ khi sáng tác họ có thể bẻ gãy, phá cách nếu họ thấy điều đó được. Điều đó là một cơ duyên hay ẩn số.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)