Bỗng nhiên ngồi bật dậy viết tung toé kẻo trễ.
BÀI TẬP bis
Tôi ngụ cư như tôi ngự cu
Tôi cay đắng như tôi căng đáy
Tôi mài kéo như tôi mèo cái
Tôi hiện đại như tôi hại điện
Tôi liệng cống như tôi lộng kiếng
Tôi tiền đâu như tôi đầu tiên
Tôi phù yên như tôi ưu phiền
Tôi xiềng râu như tôi sầu riêng
Tôi trop cher như tôi très chaud
Tôi đơn giản như tôi đang giỡn
Thay vì một từ nào đó được lập lại như Thanh Tâm Tuyền – Tôi buồn ngủ như tôi buồn nôn, hay Đỗ Kh. Tôi Tiêu Sơn như tôi tiêu huỷ. Tôi tráng miệng như tôi tráng sĩ (Bài Tập, Tạp chí Thơ số mùa Thu 96) – từng cặp chữ bị quật chéo lại, bỏ dấu khác đi hoặc thay đổi các hợp âm, có khi hơi gượng vì không rõ nghĩa nhưng đại khái là lái qua lái lại chơi, vui thôi mà. Vậy động lực và chủ đích là đâu? Động lực là cảm hứng bất chợt từ sự thú vị khi đọc Bài Tập của Đỗ Kh., còn chủ đích thì làm gì có. Nhiều người viết đôi khi bật dậy ngồi vào bàn cũng chỉ vì vậy.
Bộ điên hay sao mà khi ngồi vào bàn viết người ta lại tỉ mẩn đặt câu hỏi ai, cái gì, lúc nào, ở đâu, như thế nào, tại sao, bao nhiêu, để làm chi. Viết là một tiến trình khởi đầu từ lâu lắm. Tạm lấy mốc thời gian những năm sáu mươi, bảy mươi của giới trẻ miền Nam.
Nó có thể manh nha từ bài tập làm văn đầu tiên:Em hãy tả con chó. Em hãy tả cảnh gia đình quây quần buổi tối, một đám cháy nhà, tâm sự quyển sách vỡ lòng bị bỏ quên. Sau đó: Em hãy phân tích tâm trạng Thuý Kiều lúc vào lầu xanh, tâm trạng Kim Trọng lúc nghe Thuý Kiều gảy đàn lần thứ hai, tư tưởng Pascal qua cây-sậy-biết-suy-nghĩ, đam mê là gì?…
Nó có thể hữu hình từ tình cảm rạo rực hoặc não nề khi đặt bút viết dòng nhật ký đầu tiên của đời mình khi chỉ mới 13 tuổi đời: Hôm nay sinh nhật mình nhưng hình như mọi người trong nhà đã bỏ quên mình. Ôi! Mình thật cô đơn. Hoặc lúc giở những trang lưu bút ngày xanh vừa được một người bạn chuyển cho, tới phiên mình đây; mình sẽ viết:Bạn ơi quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã… đã… đi xa rồi. Hoa phượng. Ve sầu. Mỗi khi đến hè lòng man mác buồn… v… v…
Rồi là những tập thơ chép tay, chữ viết bay bướm nắn nót trên giấy mỏng màu hồng có trình bày… mỹ thuật bằng cách cóp lại tùy “gu” những hình vẽ của Đinh Tiến Luyện, Hồ Đắc Ngọc, Vy Vy, Lê Trung… Bắt đầu bồi hồi mê thầy cô giáo và làm thơ lúc người ấy (thầy/cô) sang sông. Hôm nay đám cưới người tôi thương, giăng mắc mưa rơi khắp phố phường (Trần Thị NgH, 13 tuổi mê cô giáo). Kiểu nhà ai pháo đỏ. Đầu tóc bỗng dưng bù xù, mắt mơ màng. Con trai sẽ hút thuốc nhìn khói, con gái vẽ mắt đen kịt để tóc xoã làm người đẹp sầu mộng. Trong đám đông thỉnh thoảng trích dẫn thơ của người khác, để… tự khẳng định. Hoa có rụng mới biết đời dâu bể, tình có xa rượu uống mới nồng(thơ Phạm Cao Hoàng). Có khi xổ nho: Dục phá sầu thành tu dụng tửu (Nguyễn Công Trứ)…; hoặc mênh mông trừu tượng: Ta mở lớn cửa vườn để mọi người vào nhìn, nhưng có nhìn xin đừng hái, lá hồn ta đã chín vàng sắp về đến cội (thơ Nhã ca)… Quá trình vay mượn kéo dài khá lâu bỗng nhiên một hôm bật dậy ngồi vào bàn viết, sáng tạo với danh xưng đại từ ngôi-thứ-nhất là cái chắc: Tôi đi hoang suốt những ngày mùa Đông… Mặc dù bên ngoài nắng đổ lửa, xe cộ chạy rần rần, hàng xóm chửi nhau chí choé, chó ỉa bậy ngay trước cửa. Thi văn đoàn Mây Lênh Đênh, bút nhóm Thép Đã Tôi Thế Đấy được hình thành từ đó. Rồi từ đó em buồn, hành trang trĩu nặng vai gầy.
Buồn hơi lâu. Vừa làm bộ buồn, vừa cóp nhại tâm sự của người khác.
Thân phận: Tôi chợt sinh ra như loài thảo mộc, rồi bỗng lớn lên như lũ thú rừng(thơ Nguyễn Xuân Hoàng).
Tuyệt tình: trong giây phút nghẹn ngào anhvội vã/ghì em thêm và ngước mắt lên cao(Chiều Nhìn Trời/thơ Nguyễn Đức Vinh).
Lúc này văn thơ còn nhập nhằng của mình của người cho đến khi tìm được một hướng đi riêng. Song song là một hành trình đọc ngốn để tự nâng cao kiến thức bằng:
Hố Thẳm Tư Tưởng (Phạm Công Thiện)
Số Không Đến Vô Tận (Le zéro et l’infini/Arthur Koestler)
Chàng Tuổi Trẻ Gan Dạ Trên Chiếc Đu Bay (The daring young man on the flying trapeze/William Sorayan)
Hiện sinh: Buồn Nôn (La nausée/Jean-Paul Sartres)
Trầm ngâm, xa vắng và thỉnh thoảng vu vơ: To be or not to be(William Shakespeare).
Ngoằn ngoèo: Con người bị kết án với sự tự do/L’homme est comdamné à être libre (Jean-Paul Sartre).
Triết lývụn: Người ta có thể đi tới bằng cách trở lui/On peut advancer en reculant.
Rên xiết Tây: Em là khu rừng đầy những mâu thuẫnTu es la forêt des contradictions (Beaudelaire).
Tình Tây:Tình yêu ơi, người là đá, và trên đá này, tôi đã xây dựng cuộc đời mình/L’amour, tu es pierreet c’est sur cette pierre que j’ai bâti ma vie (Phúc Âm Ma-thi-ơ 16:18-19: “Còn Ta, Ta bảo con: con là Đá, trên đá này, Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta./ Et moi, je te dis que tu es Pierre, et que sur cette pierre je bâtirai mon Église.” Theo lời Chúa Giê-su nói với Tông Đồ Pierre, Tên Pierre có nghĩa là Đá).
Thượng đế Tây:Lạy Chúa, xin trả lại cho con trong giấc mơ những gì Ngài đã lấy đi khỏi cuộc đời con/Seigneur, rendez-moi dans mon rêve ce que Vous avez retiré de ma vie.
Cứ y như một người học vẽ vỡ lòng tập hoạ chân dung mình bằng chì đen, chép tranh của hoạ sĩ nổi tiếng, pha trộn các trường phái rồi lại… tự khẳng định bằng hướng đi riêng với ít nhiều lai căn. Hướng đi này có khi chỉ là một đoạn dạo chơi ngắn ngủn không đủ hơi, thiếu sự khích lệ; có khi ồn ào gây hiện tượng, được nâng đỡ bởi các bậc anh chị cha chú trong văn đàn, về sau tự ngo ngoe rồi chết yểu, vỡ nợ vì cụt vốn kiến thức, ngôn ngữ, cảm hứng, đề tài… hoặc bận bịu bon chen sinh kế. Hiếm người viết để sống, càng ít ai sống chỉ để viết như Bùi Giáng, Mai Thảo. Cũng có những cuộc dạo chơi dài ra, khách nhàn du chợt biến thành kẻ lữ thứ nghiêm trang chầm dầm như đang có sứ mạng cao cả của Đường Tam Tạng trên hành trình thỉnh kinh hay Abraham phải bầu đoàn thê tử về Canaan theo lời dạy của Đức Chúa Trời.
Nói chung không ai khởi đầu bằng cách tự khoác cho mình chiếc áo sứ mệnh nặng trịch khi tập tễnh cầm bút. Sứ mệnh luôn luôn đến sau quá trình dạo chơi, sau khi mặt mày đã nghiêm và buồn, và tư duy đã rặt mùi triết học. Lý tưởng chính trị thì nói làm gì, hãy gạt cái này ra ngoài văn học. Người ta cũng sẽ không bắt đầu bằng cách dạy dỗ thiên hạ học làm người, kiểu: Bảy bước đến thành công (Nguyễn Hiến Lê), Cái dũng của thánh nhân (Nguyễn Duy Cần), Quẳng gánh lo đi và vui sống (How to stop worrying and start living/DaleCarnegie), hay Zarathoustra đã nói như thế (Ainsi parlait Zarathoustra/Nietzsche)…v…v… vì không màng đến sứ mệnh.
Viết, trước hết là tự giải phóng, tự cứu rỗi: “Hỏi viết cho ai? Viết cho tôi. Viết làm gì? Chẳng biết để làm gì, muốn viết thì viết, không viết thì cứ ấm ách nên viết để giải toả, thế thôi. Viết thế nào? Chưa bao giờ trong đầu tôi hiện lên câu hỏi ấy, câu hỏi mà lâu lâu trong sinh hoạt văn chương giới cầm bút vẫn thường đặt ra để tìm một lối viết khác trước; thậm chí những người tìm đường muốn dứt khoát với quá khứ hay truyền thống không ngần ngại chặt cầu với lớp đi trước, và phóng đại công việc mình làm thành một sứ mệnh cao cả…” (Viết văn ngoài quê hương/Nguyễn Mộng Giác, Tạp chí Việt). “Tôi viết như tự cởi trói đồng thời sợ cuộc đào tẩu bị bắt quả tang, với tôi, chứng cớ hết chối cãi…” (Nghỉ mát ở bãi biển/Trần Thị NgH, Văn, 1969)
Ở một nghĩa nào đó, viết cũng để được chia sẻ. Người đồng cảm đầu tiên là kẻ đọc bản thảo lúc nó chưa được đưa lên giàn phóng. Những người này nằm trong danh sách Top 5 thậm chí Top 10 được chọn để trao gửi một cách trân trọng. Khi tác phẩm xuất hiện trên báo hay tạp chí dưới dạng những bài viết rời, tác giả quan tâm tới những người viết khác có bài trong cùng một số báo, ít nhất một phần ba những người này đọc qua bài của mình. Họ là ai? Những người cùng làm văn học tất nhiên sẽ có một nhận định đúng đắn, sâu sắc hơn những ai đọc chỉ để thoả mãn một sự tò mò, để giải trí hay để theo đuổi một sở thích, một phong trào, một thời trang. Quần chúng có vẻ như là đối tượng sau cùng mà người viết nhắm vào, bởi tiếng vọng này gián tiếp và trừu tượng, thường khi êm ru; trừ phi tác phẩm được chiếu cố bởi nhà xuất bản để in thành sách, được nằm trong danh sách bán chạy trong năm, được tái bản nhiều lần với số lượng lớn, được chuyển thành phim… Nhưng các bước này thuộc về hậu kỳ, lúc ấy người viết đã tom góp lại những bài viết rời đủ cho bề dày của một tuyển tập. Kết quả đôi khi nằm ngoài dự kiến của tác giả. Hứng chí, nhà thơ sẽ ra tiếpnhững tập thơ khác còn nhà văn thì rục rịch viết chuyện dài hơi.
Chặng sau này của cuộc hành trình đôi khi bừa bãi bi hài lẫn lộn. Tham vọng trồi lên. Người viết thấy mình độc đáo, quan trọng, gây ảnh hưởng. Chị ta/anh ta nghiêm trang hơn, trách nhiệm hơn vì đang ôm ấp hoài bão cách mạng văn học, đang tạo thời cuộc, đang làm lịch sử. Do vậy mà nhiều người tự làm tiêu ma cái hồn nhiên ban đầu. Cũng có những tác phẩm thực sự ảnh hưởng cả một hoặc nhiều thế hệ; như hoa vàng ở động gã từ quan, bụi đỏ ngày xưa Hoàng Thị, vết chim bay của Phạm Thiên Thư; sinh tử thập thành lá hoa cồn phiêu bồng của Bùi Giáng; Đinh Tiến Luyện với Anh Chi Yêu Dấu; Duyên Anh với Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thuý; Nguyễn Đình Toàn với Con Đường, Chị Em Hải; Nhã Ca Giải Khăn Sô Cho Huế, Tuý Hồng Những Sợi Sắc Không; Thuỵ Vũ Mèo Đêm, Lao Vào Lửa. Bên kia bán cầu là Gide là Sartre là Troyat, Remarque, Salinger, Kazantzakis… Cái thời mà văn học miền Nam trộn lộn với thế giới, vui như Tết.
Đại lộ có những lối rẽ hoặc đường song song. Một cát tuyến có thể bổ xuống biến nhà thơ thành nhà biên khảo, nhà văn thành nhà phê bình. Các nhà này thường khi đa năng, và thực tế cho thấy một vài trường hợp “hai (hoặc ba) trong một” thành công xuất sắc. Những ngày làm việc ở chung sự vụ của Nguyên Sa không làm hư đi áo vàng hoa cúc hay áo xanh sân trường Tạp ghi của BaTê không ăn nhậu gì đến người đã ném mẩu thuốc tàn xuống sông nghe lòng mình phơi trên kè đá (Thanh Tâm Tuyền). Second-hand đi chơi chung với Marie Sến(Phạm Thị Hoài) để đánh đường tìm tiếng ;mặc dù huề cả làng, viết lách vẫn là một đại lộ nhiều “lane”.
Tính ra khi mặc áo này áo nọ người viết chẳng có ý đồ gì ghê rợn. Chẳng lẽ đi ban đêm mà mang kính râm,hay mặc trang phục dạ hội mà xỏ giày thể thao Nike. Tâm trạng này không thể khoác văn phong kia. Độc giả quần chúng tùy nhu cầu và mỹ cảm của mình sẽ chọn tác phẩm; tác giả không chọn độc giả rồi tự làm cho mình bằng đều. Chuyện này do phân công tự nhiên của xã hội và các chủ biên. Con nít cấp 1 bây giờ tìm đọc Đô-rê- mon, lớn một chút chuyển sang Lúc-ki Lúc-ke, Tintin, Xì-trum, Khăn quàng đỏ. Học sinh cấp 3 – con trai bắt đầu nổi mụn, con gái ẹo ẹo – tìm đọc Áo trắng, Mực tím, Hoa học trò; tự nâng cao hiểu biết qua các giải đáp y học hoặc nhỏ to tâm sự trong tuần báo Phụ nữ, Thanh niên; chọnNguyễn Nhật Ánh, Đoàn Thạch Biền vì truyện của họ… “dễ thương”. Sinh viên đại học đọc báo Kinh tế, Tiếp thị, thỉnh thoảng ghé nhà sách lựa, lựa, mua tập truyện ngắn gồm nhiều cây bút trẻ hoặc một truyện dài của ai đó vì nghe nói được tái bản hoài hoặc có nhiều lời chê khen của báo chí. Thường khi, họ chỉ mua sách học ngoại ngữ và vi tính. Không giống cha mẹ cô chú cậu dì thím mợ dượng tụi nó trước đây đọc Sách Hồng với Chiếc áo nhung lam, Cái ấm đất, rồi Chim hót trong lồng của Nhật Tiến, từ từ leo sang lục bát Viên Linh, Qua Bắc Vàm Cống với Tô Thuỳ Yên sau đó mới rẽ đường nọ đường kia với mỹ cảm riêng nhưng tựu trung vẫn là có tình với văn học.
Ngày nay tivi, băng video, băng cassette, CD, computer làm người ta mất dần thói quen đọc sách bởi vì… mệt quá. Đọc là một loại hình sinh hoạt thụ động: không âm thanh không hình ảnh, không kỷ xảo, chỉ đơn độc cái trí tưởng tượng đi lang thang từ trang này sang trang khác. Hành trình lẻ loi này vừa oải vừa lạc điệu. Bây giờ bấm cái cạch là có ngay mọi loại kiến thức. Yêu văn học lắm mới chần chừ mua một cassette có giọngđọc của Nguyễn Ngọc Ngạn hoặc Hồng Đào, nằm nhắm mắt lơ tơ mơ một hồi với các giọng lên bổng xuống trầm bảo đảm phiêu du là cái chắc vì thiếu sự động não.
Người hoài cổ chắc khó quên cảm giác nô nức khi mang thêm một quyển sách về nhà. Mùi giấy mực thơm đặc biệt của sách mới in, những cái gáy nằm san sát trang trọng trên kệ tủ, tấm chặn giữa hai trang đọc dở… Nhịp sống công nghiệp không cho phép người ta lãng mạn tủn mủn. Tủ sách gia đình trong vài thập niên gần đây đã dần dần biến mất trong phong cách bài trí một căn nhà. Thay vào đó là một giàn thiết bị âm thanh đồ sộ, một bàn nhỏ thiết kế cho máy vi tính, giá đựng băng CD… Người Việt Nam đặc biệt đưa tất cả những cái này ra phòng khách cùng với tủ lạnh, máy truyền hình và xe gắn máy, tủ thờ, tủ chén và đồng hồ treo tường có báo giờ mỗi nửa tiếng nói tiếng Anh đàng hoàng chứ không phải giỡn.
Vậy bây giờ viết cho ai? Cho mình cái đã, rồi cho bạn bè người thân và tất nhiên là những người cùng làm văn chương. Riêng năm 1998 cả nước có 700 tập thơ được xuất bản. Chẳng lẽ hơn 70 triệu người Việt Nam bây giờ yêu thơ dữ vậy? Ở hải ngoại các tác phẩm cũng được viết cho những đối tượng tương tự; có điều người ta ít hy vọng hơn vì lớp con cái cháu chắt của họ không thèm đọc tiếng Việt Nam nhưng ít ra những tác phẩm này đại diện cho một loại hình văn học: văn học hải ngoại, ghi dấu, và là di chứng của một giai đoạn thăng trầm của đất nước. Văn, Hợp lưu, Trăm Con, Việt, Sóng Văn, Diễn Đàn, Tạp chí Thơ… phong phú, đa dạng, trang trọng, nhiệt tình nhưng ngắc ngoải. Trong nước, hơn 400 nhật báo và tạp chí định kỳ cùng bao nhiêu cây bút trẻ triển vọng của thời mở cửa vẫn chưa đẩy văn học lên một tầm cỡ nhất định. Nói như Đỗ Kh. “… tình trạng thơ ca trongnước hiện nay đầy hứa hẹn tuy là nếu nhìn lại nửa thế kỷ vừa qua thì có hơi trống vắng. Ba mươi năm chiến tranh và hai mươi năm đóng cửa là tình trạng chung của cả nước về tất cả mọi mặt, văn hoá cũng như… v…v… kinh tế này kia. Nhưng có lẽ trong ba mươi năm chiến tranh thơ là ăn bom nhiều nhất cũng như trong hai mươi năm đóng cửa thơ là bị ăn độn nhiều nhất.Rất may là trong cái sa mạc này vẫn có những ốc đảo, kể cả những ốc đảo thật và những ốc đảo do ảo ảnh sa mạc gây ra. Đây đó vẫn đếm được nhiều toà nhà, thấy được những công trình xây dựng quan trọng nhưng những công trình này, những toà nhà này không đủ để làm nên một thành phố. Một thành phố phải là những con đường hội tụ và tôi có cảm tưởng chỉ có thế hệ lớn lên và thanh niên trong thời kỳ đổi mới, nghĩa là vào cuối thập niên 90 này mới là những con đường đang hình thành nhen nhúm đó.”
Dù không biết viết để làm chi, người ta vẫn cứ viết, thậm chí người trước còn đặt hy vọng nơi người sau. Đỗ Kh. cảm thán :…trong nước không có gì nhưng có tương lai; ở ngoài nước không có gì, chẳng những đã không có tương lai mà không có cả quá khứ gì đáng nói nữa. Nhiều người phát biểu văn học hải ngoại là cánh tay nối dài của văn học miền Nam trước 1975. Dù là một hiện thực hay một nguy cơ, Việt Nam rõ ràng đang có hai dòng chữ, hai cánh tay văn học cái thế này cái thế khác nhưng cùng mọc ra trên cơ thể của một người dị tật; may mà chưa có cái nào bị liệt. Vậy là ngon rồi. Phùng Quán có lần gầm gừ rằng:
Giấy bút ta ai cướp giật đi
Ta sẽ dùng dao viết văn lên đá.
Trần Thị NgH, 1999